Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



Khu vực

cơng



Khu vực

chính phủ



chính phủ

Trung ƣơng



Khu vực các tổ

chức cơng



Các tổ chức cơng

phi tài chính



Các tổ chức cơng

tài chính



Chính quyền

Liên bang



Ngân hàng

Trung ƣơng



Chính quyền

Địa phƣơng



Các tổ chức nhà

nƣớc nhận tiền gửi

(trừ NHTW)



Các tổ chức tài

chính cơng khác

Hình 2.1: Các thành phần của khu vực công theo định nghĩa của IMF

Nguồn: IMF (2013), Public Sector Debt Statistics. Guide for Compilers and Users2

Ở Việt Nam, theo Luật quản lý nợ công, số 29/2009/QH123 của Quốc hội ban hành

vào năm 2009, nợ công bao gồm: (a) Nợ chính phủ; (b) nợ đƣợc chính phủ bảo lãnh

và (c) nợ chính quyền địa phƣơng. Trong đó:

- Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nƣớc, nƣớc

ngoài, đƣợc ký kết, phát hành nhân danh Nhà nƣớc, nhân danh chính phủ



2



http://www.tffs.org/pdf/method/2013/psds2013.pdf (trang 8)



3



http://www.moit.gov.vn/vn/Pages/VanBanDieuHanh.aspx?TypeVB=1&vID=9518



7



hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát

hành theo quy định của pháp luật. Nợ chính phủ khơng bao gồm khoản nợ do

Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ

trong từng thời kỳ.

- Nợ đƣợc chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài

chính, tín dụng vay trong nƣớc, nƣớc ngồi đƣợc chính phủ bảo lãnh.

- Nợ chính quyền địa phƣơng là khoản nợ do Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh,

thành phố trực thuộc trung ƣơng (gọi chung là UBND cấp tỉnh) ký kết, phát

hành hoặc ủy quyền phát hành.

Quan điểm về nợ cơng của mỗi quốc gia cũng khơng hồn tồn giống nhau. Tuy

nhiên, có thể nhận thấy rằng khái niệm về nợ công của Việt Nam là hẹp hơn so với

định nghĩa của các tổ chức tài chính khác trên thế giới - khái niệm nợ công của Việt

Nam không bao gồm nợ của các doanh nghiệp nhà nƣớc. Ở các nƣớc phát triển khu

vực doanh nghiệp nhà nƣớc chiếm một tỉ trọng rất nhỏ nên về cơ bản, nợ cơng và

nợ chính phủ là tƣơng đƣơng nhau. Tuy nhiên, ở Việt Nam khu vực doanh nghiệp

nhà nƣớc chiếm tỉ trọng lớn trong nền kinh tế, nên khái niệm về nợ công của Việt

Nam hiện nay chỉ tƣơng đƣơng với khái niệm nợ chính phủ.

2.1.2. Phân loại nợ cơng

Có nhiều cơ sở và tiêu chí để phân loại nợ cơng khác nhau. Có thể phân loại theo

các tiêu chí nhƣ:4

Theo nguồn gốc địa lý. Có thể phân loại nợ cơng gồm nợ nƣớc ngồi và nợ trong

nƣớc.

Theo loại tiền tệ cho vay: Nợ bằng nội tệ hoặc nợ bằng ngoại tệ.



4



CIEM (2013 Thông tin chuyên đề: Đầu tƣ công, nợ công và mức độ bền vững ngân sách ở Việt Nam.



http://www.vnep.org.vn/Upload/SO 05 Chuyen de Dau tu cong no cong Final.pdf (trang 3)



8



Theo thời hạn vay: Nợ công vay dƣới 1 năm là nợ ngắn hạn, dƣới 10 năm là nợ

trung hạn và trên 10 năm là nợ dài hạn.

Theo tiêu chí phương thức huy động. Theo phƣơng thức huy động vốn thì nợ cơng

đƣợc phân thành hai loại là nợ công vay từ những thỏa thuận vay trực tiếp và nợ

công từ công cụ nợ (phát hành bởi những cơ quan có thầm quyền)

Theo trách nhiệm đối với chủ nợ. Theo trách nhiệm đối với chủ nợ thì nợ cơng đƣợc

phân loại thành nợ cơng phải trả (của chính phủ, chính quyền địa phƣơng và nợ

cơng bảo lãnh (chính phủ bảo lãnh cho ngƣời vay nợ)

Theo tính chất ưu đãi của khoản vay. Nợ công đƣợc phân loại theo cách này có ba

loại là nợ cơng từ vốn vay ODA, nợ công từ vốn vay ƣu đãi và nợ thƣơng mại thông

thƣờng.

2.1.3. Rủi ro của nợ công

Trong nghiên cứu về khả năng xảy ra khủng hoảng nợ của các nƣớc trên thế giới,

Manasse và Roubini (2005 đã trình bày ba rủi ro cơ bản của nợ cơng chính là: (a)

rủi ro thanh toán; (b) rủi ro thanh khoản; (c) rủi ro bất ổn các yếu tố vĩ mô.

Rủi ro thanh tốn xảy ra khi một quốc gia khơng có khả năng chi trả các khoản nợ

của nó. Khi rơi vào tình trạng thâm hụt ngân sách và thâm hụt thƣơng mại, một

quốc gia này phải vay nợ để bù đắp các khoản thâm hụt của mình. Rủi ro thanh tốn

có xảy ra hay khơng phụ thuộc vào tổng nợ của nền kinh tế trong mối tƣơng quan

với khả năng trả nợ của nó. Khả năng trả nợ của một nền kinh tế có thể đƣợc đo

lƣờng bởi: thu nhập của nền kinh tế, kim ngạch xuất khẩu hoặc nguồn thu của chính

phủ. Một khoản nợ đƣợc xem là có khả năng thanh toán khi mà giá trị chiết khấu

(discount) của dòng ngân sách trong tƣơng lai lớn hơn hoặc bằng với giá trị hiện tại

ròng (NPV) của tổng nợ công. Tƣơng tự nhƣ vậy, đối với các khoản nợ cơng nƣớc

ngồi, do vay mƣợn bằng ngoại tệ nên phải thực hiện chi trả bằng ngoại tệ. Nguồn

ngoại tệ đƣợc thu chủ yếu thơng qua giá trị xuất khẩu ròng của nền kinh tế. Do đó,

một quốc gia có khả năng thanh tốn là quốc gia có giá trị chiết khấu (Present



9



value) của cán cân thƣơng mại dự kiến lớn hơn hoặc bằng với giá trị hiện tại (NPV)

của tổng nợ nƣớc ngồi. Để có thể tránh đƣợc rủi ro thanh toán, tại một số thời điểm

ngân sách và thƣơng mại cần phải thặng dƣ để có thể bù đắp đƣợc khoản nợ phải trả

trong tƣơng lai.

Khả năng thanh khoản là khả năng chính phủ có thể trả các khoản nợ của mình một

cách nhanh chóng. Khoản nợ của một quốc gia có khả năng thanh tốn thơi thì chƣa

đủ, mà cần phải có cả khả năng thanh khoản. Rủi ro thanh khoản thƣờng đến từ nợ

ngắn hạn, tức là tiền chƣa xài kịp đã đến hạn phải trả và rủi ro này chủ yếu là từ các

khoản vay nƣớc ngồi. Theo Roubini (2005 , rủi ro thanh khoản có nhiều khả năng

xảy ra khi tỉ lệ nợ ngắn hạn trên dự trữ ngoại hối vƣợt quá 1,3 lần.

Bên cạnh đó, những bất ổn từ các yếu tố kinh tế vĩ mơ có thể ảnh hƣởng xấu đến nợ

cơng. Các yếu tố vĩ mô này bao gồm tăng trƣởng, thu ngân sách chính phủ, lạm phát

và tỉ giá. Tăng trưởng kinh tế là một trong những mục tiêu hàng đầu của các quốc

gia đang phát triển ngồi ra nó còn là điều kiện để các quốc gia này có thể tiếp cận

với các nguồn tài chính từ các thị trƣờng vốn quốc tế. Do đó nếu tăng trƣởng thấp

thì sẽ rất khó vay nợ. Chính sách tài khóa cũng ảnh hƣởng đến khả năng trả nợ, nếu

nguồn thu ngân sách dồi dào sẽ giúp giảm thâm hụt và giảm rủi ro của nợ. Lạm phát

cao hay việc nội tệ bị phá giá cũng khiến cho những khoản nợ nƣớc ngoài tăng cao

và tăng nguy cơ vỡ nợ. Nhƣng ngƣợc lại nếu nội tệ bị định giá cao cũng gây ra khó

khăn cho xuất khẩu, làm giảm thu ngoại hối và cũng làm gia tăng rủi ro với nợ nƣớc

ngồi.

2.1.4. Tính bền vững của nợ công

Theo IMF (2011), nợ đƣợc xem là bền vững khi ngƣời đi vay đƣợc kỳ vọng là có

khả năng tiếp tục trả nợ mà khơng cần phải thực hiện các khoản điều chính lớn và

phi thực tế trong cán cân thu nhập - chi tiêu. Tính bền vững của nợ do đó đƣợc thể

hiện thơng qua khả năng thanh toán, khả năng thanh khoản và khả năng điều chỉnh

một cách giới hạn trong chi tiêu và doanh thu và do đó quyết định mức sẵn lòng trả

của một quốc gia. Có thể thấy việc đánh giá tính bền vững theo định nghĩa của IMF



10



khơng hề dễ dàng và có phần khá mơ hồ. Hiện tại vẫn chƣa có một cơ sở thống nhất

để có thể đo lƣờng khả năng thanh toán, khả năng thanh khoản và khả năng điều

chỉnh thu chi từ đó đánh giá đƣợc tính bền vững của nợ của một quốc gia. Hơn nữa,

tính bền vững và an tồn của nợ khơng chỉ phụ thuộc vào hiện tại của quốc gia vay

nợ mà còn chịu ảnh hƣởng bởi những biến động kinh tế tồn cầu. Chi phí tài trợ

ln thay đổi theo thời gian và khó dự đốn trƣớc. Đặc biệt, nó có thể tăng lên khi

bùng phát nợ và có thể tạo ra một vòng luẩn quẩn. Kết quả là một khoản nợ có thể

bền vững trong hơm nay nhƣng có thể ngày mai khơng bền vững và ngƣợc lại.

Nhƣ vậy, có thể thấy vấn đề về nợ cơng và tính bền vững của nợ công đã đƣợc thảo

luận từ rất lâu, nhƣng đến thời điểm hiện nay, chƣa có một khái niệm về tính bền

vững của nợ cơng đƣợc xác định rõ ràng. Mặc dù, các nhà nghiên cứu có thể thống

nhất ý kiến về tính trạng nợ cơng tuyệt đối bền vững và tuyệt đối khơng bền vững,

song rất khó để đƣa ra chính xác khi nào ngƣỡng bền vững bị phá vỡ. Điều này

khơng có nghĩa là khơng có phƣơng pháp đánh giá tính bền vững nợ cơng một cách

trực tiếp hoặc gián tiếp. Phần tiếp theo của nghiên cứu này sẽ trình bày một số cách

tiếp cận để đánh giá tính bền vững của nợ.



2.2



Các phƣơng pháp đánh giá tính bền vững của nợ



2.2.1. Phân tích cây nhị phân của Manasse và Roubini (2005)

Manasse và Roubini (2005 đã sử dụng phƣơng pháp Cây Nhị phân để thực hiện

phân tích rủi ro nợ cơng. Phƣơng pháp này nhằm mục tiêu chỉ ra nguy cơ mà một

nƣớc có khả năng rơi vào khủng hoảng nợ dựa trên những bằng chứng thực nghiệm

trong quá khứ.

Dựa vào số liệu quan sát hàng năm của 47 nền kinh tế mới nổi trong giai đoạn

1970-2002, Manasse và Roubini đã tiến hành xây dựng cây thực nghiệm nhị phân,

nhằm phân tích rủi ro của nợ cơng.

Đầu tiên, dựa trên số liệu nợ nƣớc ngồi, các quốc gia đƣợc chia thành 2 nhóm.

Nhóm thứ nhất với tỷ lệ nợ lớn hơn 49,7% GDP với xác suất khủng hoảng 20,5% -



11



45,4%. Nhóm thứ hai với tỷ lệ nợ nƣớc ngoài thấp hơn 49,7% GDP với xác suất vỡ

nợ là 9,7%. Nhóm thứ nhất lại tiếp tục đƣợc chia thành 2 nhánh theo tỷ lệ lạm phát:

lớn hơn 10,5% và thấp hơn 10,5%. Các quốc gia với có tỷ lệ lạm phát cao có nguy

cơ rơi vào khủng hoảng nợ cao nhất với xác suất 66,8%. Hơn một nửa các trƣờng

hợp khủng hoảng trong mẫu nghiên cứu đều rơi vào trƣờng hợp này.

Nhóm quốc gia có khả năng khủng hoảng nợ cao thứ nhì là những quốc gia có quy

mơ nợ nƣớc ngồi ở mức trung bình 19-49,7% GDP, nhƣng đồng thời có tỷ lệ nợ

ngắn hạn cao (trên 130% dự trữ ngoại hối), tỉ giá cứng nhắc và bất ổn chính trị.

Nhóm quốc gia này có xác suất rơi vào khủng hoảng lên tới 41,5%.

Ngƣợc lại, những quốc gia có rủi ro thấp là những nƣớc có nợ nƣớc ngoài thấp, tỉ lệ

nợ ngắn hạn bé hơn 130% dự trữ ngoại hối và tỉ lệ nợ công nƣớc ngoài bé hơn

210% thu ngân sách, cùng với nền kinh tế khơng nằm trong tình trạng suy thối.

58,4% những quốc gia không xảy ra khủng hoảng nợ thoả mãn các điều kiện này.

Dựa theo quy tắc này, có thể phân loại quốc gia vào vùng khủng hoảng hoặc vùng

an tồn. Các quan sát trong một nốt nào đó đƣợc phân vào vùng khủng hoảng nếu

xác suất xảy ra khủng hoảng của nốt đó lớn hơn xác suất xảy ra khủng hoảng trung

bình của tồn mẫu. Tƣơng tự nhƣ vậy đối với các nốt đƣợc phân vào vùng an tồn.



12



Hình 2.2: Mơ hình cây nhị phân



13



2.2.2. Khung phân tích của WB và IMF về tính bền vững của nợ

Nhƣợc điểm của phƣơng pháp Cây nhị phân ở trên là chỉ đƣa ra đƣợc nguy cơ rơi

vào khủng hoảng nợ tại một thời điểm nào đó dựa trên số liệu trong quá khứ mà

không chỉ ra đƣợc những nguyên nhân tiềm ẩn ảnh hƣởng đến tính bền vững của nợ

quốc gia. Tháng 4 năm 2005, IMF và WB đƣa ra khung phân tích nợ bền vững

(DSF - Debt Sustainability Framework) nhằm giúp đánh giá tính bền vững nợ của

một quốc gia và những rủi ro tài khóa đi kèm. Khung phân tích này cũng đƣợc định

kỳ xem xét lại. Theo bản thông tin của IMF (The Joint World Bank - IMF Debt

Sustainability Framework for Low-Income Countries5) phƣơng pháp này nhằm

tới hai mục tiêu chính:

Thứ nhất, khn khổ đƣợc thiết kế để hƣớng dẫn việc quyết định vay vốn của các

quốc gia có thu nhập thấp trong một cách phù hợp với nhu cầu tài chính của họ với

khả năng trả nợ hiện tại và tƣơng lai của họ, có tính đến hoàn cảnh của mỗi quốc

gia.

Thứ hai, hƣớng dẫn những quyết định cho vay để đảm bảo rằng nguồn tài chính

đƣợc cung cấp đến những quốc gia thu nhập thấp với những điều kiện nhất quán với

mục tiêu phát triển và khả năng chịu đựng của nợ dài hạn.

Ngồi ra, nó giúp cải thiện đánh giá của WB và IMF cũng nhƣ những khuyến nghị

chính sách đối với khu vực này nhằm sớm giúp loại bỏ những khủng hoảng tiềm

tàng có thể xảy ra.

DSF phân tích cả nợ nƣớc ngồi và nợ khu vực công. Cho vay đối với các quốc gia

có thu nhập thấp khác nhau đáng kể trong tỷ lệ lãi suất và thời gian trả nợ, khung

phân tích tập trung vào hiện giá của nghĩa vụ nợ. Nó có thể so sánh qua thời gian và

qua các quốc gia.



5



https://www.imf.org/external/pubs/ft/dsa/lic.htm



14



Những quốc gia có thu nhập thấp với chính sách yếu kém có xu hƣớng đối mặt với

khó khăn hồn trả ở mức nợ thấp hơn là những quốc gia có chính sách vững mạnh.

DSF chia các quốc gia thành 3 nhóm chính sách (mạnh, trung bình và yếu) và

khn khổ đánh giá nhƣ sau:

Bảng 2.1: Ngƣỡng an toàn nợ theo DSF

Hiện giá của nợ theo % của

Nghĩa vụ nợ theo % của

Xuất khẩu GDP Thu ngân sách Xuất khẩu Thu ngân sách

Chính sách yếu

100

30

200

15

25

Chính sách trung bình

150

40

250

20

30

Chính sách tốt

200

50

300

25

35



Nguồn: Hƣớng dẫn phân tích tính bền vững của nợ LIC (A Guide to LIC Debt

Sustainability Analysis), WB (2006);

Việc phân loại chính sách của quốc gia thuộc vào loại yếu, trung bình hay tốt đƣợc

dựa trên tiêu chuẩn đánh giá về chất lƣợng thể chế và chính sách CPIA (Country

Policy and Institutional Accessment) của World bank. CPIA đƣợc chấm theo thang

điểm từ 1 đến 6. Những nƣớc có CPIA thấp hơn hoặc bằng 3.25 đƣợc xem là có

chính sách yếu, thấp hơn 3.75 đƣợc xem là chính sách trung bình và cao hơn hoặc

bằng 3.75 đƣợc xem là có chính sách tốt. Với mõi nhóm quốc gia thì tiêu chí đƣa ra

ngƣỡng an toàn nợ của WB và IMF trong DSF cũng khác nhau dựa theo bảng 3.6.

2.2.3. Mơ hình nợ bền vững Jaime de Pines

Tài khoản vãng lai có thể đƣợc hiểu theo 2 cách. Cách truyền thống là tính toán tài

khoản vãng lai dựa trên chênh lệch giữa tổng xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ,

cộng thêm thu chi từ dịch vụ ròng, thu nhập yếu tố ròng và chuyển giao ròng từ

nƣớc ngồi. Ngồi ra, tài khoản vãng lai cũng có thể hiểu là sự chênh lệch giữa tiết

kiệm trong nƣớc và đầu tƣ. Ta có đồng nhất thức vĩ mơ căn bản sau:

(



)



(



)



Có thể thấy rằng giữa tiết kiệm của khu vực nƣớc ngoài

vãng lai



và cán cân tài khoản



tồn tại một mối quan hệ mật thiết. Nhìn ở góc độ khác, đó cũng chính là



15



các khoản vay nợ nƣớc ngoài cung với viện trợ phát triển khơng hồn lại và FDI.

Do đó, cán cân tài khoản vãng lai và nợ nƣớc ngoài của Việt Nam chắc chắn tồn tại

một mối quan hệ đƣợc thể hiện thông qua việc vay nợ nƣớc ngoài để tài trợ cho

thâm hụt tài khoản vãng lai.

Jaime de Pines (1989 đã xây dựng mơ hình tích tụ nợ dạng đơn giản, dựa vào các

đặc tính của cán cân thanh tốn để dự báo các chỉ số nợ trên xuất khẩu. Trong mơ

hình này, động thái của nợ phụ thuộc vào bốn chỉ số: tỷ lệ nợ trên xuất khẩu và tỷ lệ

nhập khẩu trên xuất khẩu ở thời điểm ban đầu; tỷ lệ lãi suất trên xuất khẩu và tỷ lệ

tăng trƣởng nhập khẩu trên tăng trƣởng xuất khẩu.

Mơ hình nợ bền vững bắt đầu bằng việc xác định cán cân thanh tốn nhƣ sau:

(1)

Trong đó:

là tổng nợ nƣớc ngồi ở năm tính bằng USD;

là nợ ở năm trƣớc đó



;



là cân đối tài khoản vãng lai ở năm t.

Giả sử mức lãi suất của nợ nƣớc ngoài trong năm t là



, khi đó tổng số tiền trả lãi



nợ của quốc gia trong năm t sẽ bằng lãi suất của năm t nhân với tổng số nợ tích lũy

cho đến đầu năm t, tức là



. Do đó ta có tiền trả lãi nợ của năm t là



Thêm và bớt khoản tiền trả lãi nợ vào phƣơng trình (1) ta có:



(2)

Trong đó







là nhập khẩu và xuất khẩu.



Mơ hình này giả định rằng tất cả các biến trong mơ hình đều là biến ngoại suy, và

rằng các chủ thể kinh tế sẽ không thay đổi hành vi của họ một khi hành vi này đã



16



đƣợc xác định. Vì giả định này, mơ hình chỉ phù hợp cho việc phân tích và dự báo

trong trung hạn.

Chia hai vế phƣơng trình (2) cho



. Trong đó



là mức tăng



trƣởng của xuất khẩu

(3)

Trong đó,



là mức tăng trƣởng nhập khẩu năm t.



Đặt:



Trong đó:



là tỷ lệ nợ trên xuất khẩu,



lãi suất trên tăng trƣởng xuất khẩu,



là tỷ lệ nhập khẩu trên xuất khẩu,



là tỷ lệ



là tỷ lệ tăng trƣởng nhập khẩu trên tăng trƣởng



xuất khẩu.

Phƣơng trình (3) có thể viết lại nhƣ sau:

(4)

Theo định nghĩa:

(5)

Giả sử







là các hằng số dƣơng (nhƣ đã nói ở trên, mơ hình Jaime De Pinies



giả định rằng các chủ thể kinh tế không thay đổi hành vi của họ trong suốt thời kỳ dự

báo), phƣơng trình (4) và (5) tạo thành hệ thống các phƣơng trình sai phân, có

thể giải đƣợc nhƣ sau:

[

Nếu



, thì



(



]



là tỷ lệ giữa nhập khẩu trên xuất khẩu ở năm đầu



tiên). Phƣơng trình số (4) có thể viết lại nhƣ sau:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×