Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU INTIMEX

GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU INTIMEX

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn tốt nghiệp



45



hiện tại của nền kinh tế tạo nên một bức tranh ảm đạm của nền kinh tế thế

giới năm 2009 . Theo số liệu dự báo của ÌM thì tăng trưởng kinh tế tồn cầu

chỉ đạt 2,2% ( năm 2008: 3,7%) trong đó hầu hết các nước phát triển đều tăng

trưởng âm, tính chung tăng trưởng kinh tế ở các nước này sẽ giảm từ 1,4%

năm 2008 xuống -0,3% năm 2009 ( trong đó, Mỹ: -0,7%; khu vực EU: -0,5%;

Nhật Bản: -0,2%; Anh: -1,3% ), các nước đang phát triển mặc dù tăng trưởng

dương nhưng mức tăng trưởng sẽ sụt giảm mạnh do xuất khẩu và đầu tư suy

giảm ( trong đó, Trung Quốc: 8,5%; Ấn Độ: 6,3%; Nga:3,5%; các nước Trung

– Đông Âu: 2,5%; Việt Nam: 0,3% so với 6% mà chính phủ dự báo).

- Nền kinh tế thế giới nếu có phục hồi cũng phải tới năm 2010 may ra

mới có thể bắt đầu. Trong giai đoạn từ 2003-2008, với chính sách tài khóa mở

rộng thì giá cả hàng hóa đã tăng lên chóng mặt nhưng khi khủng hoảng kinh

tế lan rộng trên toàn thế giới thì xu hướng này đã hồn tồn đảo chiều: sản

lượng hàng hóa thế giới giảm sút nghiêm trọng, đầu tư và nhu cầu toàn cầu

ngày càng giảm đi. Thu nhập của người dân tương đối thấp và nhu cầu sử

dụng năng lượng giảm mạnh như hiện nay làm cho giá cả các thị trường hàng

hóa giảm mạnh.

Theo EIU (Bộ phận tình báo kinh tế của báo Economist), giá cả hàng hóa

sẽ giảm 21,1% trong năm 2009 do tình hình kinh tế tồn cầu khó khăn, tăng

trưởn kinh tê của các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

(OECD) chững lại khiến thương mại toàn cầu giảm, tăng trưởng kinh tế các

nước đang phát triển vì thế mà khơng có lợi. Năm 2010, chỉ số giá hàng hóa

tăng khoảng 0,5%.

- Lạm phát giảm: Do kinh tế thế giới suy giảm, nhu cầu tiêu thụ hàng

hóa và giá cả hầu hết của các mặt hàng cũng giảm. Lạm phát ở các quốc gia



Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



46



công nghiệp sẽ vào khoảng 1,5% năm 2009. Theo IMF, tại các nền kinh tế

phát triển, lạm phát ngắn hạn sẽ giảm xuống dưới 1,5% vào năm 2009 (so với

mức dự kiến 3,6% năm 2008). Giá cả tại các nước đang phát triển có thể ổn

định hơn các nước giàu. Tuy nhiên, rủi ro vẫn là đặc điểm nổi bật nhất đối với

các nước này do tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát vẫn tăng trong năm 2009.

- Nền kinh tế thế giới năm 2009 bất ổn ở mức cao nhất chưa từng có

trong lịch sử

Sức mua giảm gây ảnh hưởng nhiều tới nền kinh tế mà khởi đầu là tạo

nên sự hoang mang, bất ổn cho người dân. Vì vậy, người dân thì hạn chế sức

mua còn các nhà đầu tư thì trì hỗn việc thực hiện các dự án. Tình hình giảm

sút của hệ thống tài chính tồn cầu vào thời điểm hiện nay sẽ gây ra những tác

động tiêu cực hơn tới tiêu dùng và đầu tư do tiêu dùng và đầu tư ở các quốc

gia không thể phục hổi nhanh thông qua các chương trình, các chính sách hỗ

trợ của chính phủ.

Việc triển khai những biện pháp hỗ trợ của ngân hàng thương mại và

chính phủ trở nên phức tạp hơn so với những dự tính ban đầu. Những thay đổi

và mập mờ trong chính sách càng làm cho tổng quan nền kinh tế thế giới năm

2009 thếm ảm đạm.

- Tốc độ phục hồi của hầu hết các nền kinh tế lớn trên thế giới sẽ chậm

Tình trạng phá sản, các cơng ty vỡ nợ…vẫn sẽ tiếp tục trong năm

2009. Đầu tư kinh doanh ở hầu hết các quốc gia đều suy giảm. Ở nhiều

quốc gia, sự căng thẳng trên thị trường tín dụng sẽ bắt đầu giảm bớt vào

giữa năm 2009 và ở thị trường nhà đất, tình trạng ảm đạm có thể thoát ra

khỏi vực thẳm trước cuối năm 2009. Tuy nhiên, sự phục hồi cũng sẽ chỉ

diễn ra chậm chạp, vì thị trường tiêu dùng dù có sơi động trở lại vẫn thiếu

vắng những hộ gia định giàu có.

Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



47



3.2. Phương hướng xuất khẩu nông sản của công ty

3.2.1. Đánh giá hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam

3.2.1.1. Cơ hội

- Tồn cầu hóa đang trở thành xu hướng của thời đại ngày nay nhất là

trong các lĩnh vực kinh tế và văn hóa xã hội. Điều này đã mở ra những cơ hội

tham gia vào thị trường, hợp tác kinh doanh giữa các quốc gia trên toàn thế

giới và Việt Nam cũng khơng nằm ngồi xu thế đó. Tuy nhiên, khi các quốc

gia tham gia vào sân chơi chung này thì cũng phải đối mặt với mặt trái của nó

là nếu khơng tự vươn lên để khẳng định chính bản thân mình thì sẽ bị thải loại

khỏi cuộc chơi này.

- Năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên chính thức thứ

150 của tổ chức thương mại thế giới WTO. Sự kiện này đánh dấu cho việc

hàng hóa của Việt Nam sẽ được đối xử một cách công bằng và tự do cạnh

tranh với hàng hóa của các quốc gia khác khi tham gia vào thị trường quốc tế

nhất là đối với mặt hàng may mặc và nông sản, vốn được xem là những mặt

hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

- Nông sản là mặt hàng phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người

trong cuộc sống, đặc biệt nhu cầu về mặt hàng nông sản trong những năm gần

đây có xu hướng tăng nhanh tại nhiều quốc gia trên thế giới. Điều này đã mở

ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu mặt hàng nông sản

nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà dân số thế giới đang tăng nhanh cùng

với sự thất thường của thời tiết của một số quốc gia có thế mạnh trong việc

xuất khẩu nơng sản. Bên cạnh những mặt hàng nơng sản truyền thống, lâu đời

thì ngày nay cùng với sự phát triển bùng nổ của các nền kinh tế trên thế giới

thì nhu cầu tiêu dùng những mặt hàng nông sản để nâng cao chất lượng cuộc

sống như cao su, cà phê…cũng tăng lên nhanh chóng.

Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



48



- Nhu cầu về mặt hàng nông sản trên thế giới được dự báo là tiếp tục

tăng nhanh trong những tiếp theo trong khi cung hàng nông sản ở một số quốc

gia xuất khẩu giảm đi. Điều này có nghĩa là hàng nông sản xuất khẩu chủ lực

của Việt Nam như gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu… sẽ gặp được những thuận lợi

về thị trường xuất khẩu, sản lượng và giá cả khi tiến hành hoạt động xuất

khẩu. Điển hình là mặt hàng gạo, nhu cầu đối với mặt hàng này là rất lớn

nhưng lượng cung ở quốc gia xuất khẩu gạo giảm. Nguyên nhân là do Thái

Lan là nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới giảm lượng gạo bán ra trong

khi Ấn Độ là nước xuất khẩu gạo lớn nhất phải nhập khẩu do sự thiếu hụt về

lương thực. Chính điều này đã làm cho, sản lượng xuất khẩu gạo của Việt

Nam tăng cùng với lợi thế về mặt giá cả trên thị trường quốc tế đối với mặt

hầng này.

3.2.1.2. Thách thức

- Với việc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO,

nền kinh tế Việt Nam không chỉ được mở ra những cơ hội lớn mà còn phải đối

mặt với những thách thức khơng nhỏ đến từ tất cả các quốc gia trên thế giới.

Hàng hóa Việt Nam đặc biệt là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực sẽ đương

đầu với áp lực cạnh tranh rất lớn từ các quốc gia thành viên trong khi nền

nông nghiệp của Việt Nam vẫn được đánh giá là còn yếu kém, lạc hậu, năng

suất chất lượng sản phẩm thấp, chi phí sản xuất cao và chưa áp dụng được

khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Một điều đáng chú ý là sau khi gia nhập

WTO hàng nông sản của Việt Nam đòi hỏi phải có chứng chỉ an tồn chứng

minh rằng hàng hóa ln đảm bảo vệ sinh an toàn nếu muốn xuất ra các thị

trường nước ngoài. Điều này đã trở thành một rào cản lớn đối với các nhà sản

xuất, xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam.

- Trong thời giai tồn cầu hóa hiện nay, giá cả hàng nông sản ngày càng

phụ thuộc nhiều hơn vào các yếu tố kinh tế vĩ mô như chính sách tiền tệ, sự

Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



49



cân bằng ngân sách quốc gia, tỉ giá, các chính sách thương mại quốc tế và cả

đầu tư nước ngoài. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu sẽ khiến cho các quốc gia

xem xét, điều chỉnh các chính sách kinh tế vi mô và điều này làm cho giá cả

xuất khẩu trở nên khó lường.

- Độ nhạy cảm thấp của nhu cầu hàng nông sản đối với giá của nó cũng

chính là một thách thức của thị trường xuất khẩu nơng sản. Điều này có nghĩa

là một doanh nghiệp xuất khẩu chủ động giảm giá của một mặt hàng nơng sản

để kích thích nhu cầu của người tiêu dùng đối với mặt hàng nông sản cũng

không tăng lên nhiều như mức độ giảm giá.

- Chất lượng của hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam là chưa cao do

sự yếu kém trong khâu bảo quản, dự trữ cũng như thói quen thu hoạch, phơi

sấy của người nơng dân. Trong khi đó, chất lượng của hàng nơng sản xuất

khẩu được yêu cầu ngày càng cao tại tất cả các thị trường đặc biệt tại các quốc

gia có nền kinh tế phát triển. Hàng hóa xuất khẩu phải đạt được các tiêu chuẩn

nghiêm ngặt về chất lượng và vệ sinh an tồn thực phẩm.

- Hàng nơng sản của Việt Nam từ trước đến nay chủ yếu xuất khẩu dưới

dạng thô, chưa qua chế biến và chưa có tạo được thương hiệu cho hàng nông

sản xuất khẩu. Do vậy, người tiêu dùng không biết đến thương hiệu của hàng

nông sản Việt Nam và trị giá xuất khẩu của hàng nông sản Việt Nam còn thấp

dù số lượng xuất khẩu nhiều nhưng vẫn phải chấp nhận giá thế giới, đơi khi

còn bị ép giá.

- Hàng nông sản của Việt Nam chịu sự cạnh tranh lớn từ các quốc gia có

truyền thống về xuất khẩu nông sản như Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc…

Thêm vào đó , đây là những quốc gia có thế mạnh trong công nghệ chế biến

hàng nông sản. Do vậy hàng nơng sản của họ thường có chất lượng cao hơn

và được đánh giá cao hơn so với hàng nông sản của Việt Nam.

Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



50



- Các quốc gia nhập khẩu đặc biệt là những quốc gia phát triển áp dụng

những biện pháp bảo hộ ngày càng tinh vi hơn đối với hàng nơng sản nhập

khẩu. Họ đòi hỏi hàng nơng sản nếu muốn xuất khẩu vào thị trường phải đáp

ứng những yêu cầu về chất lượng hàng hóa, vệ sinh an tồn thực phẩm…Điều

này đã gây ra khơng ít khó khăn cho hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam

khi mà trình độ kỹ thuật của nước ta nói chung mà của các doanh nghiệp xuất

khẩu nói riêng nhìn chung là còn rất yếu kém, chưa thể bắt kịp với trình độ

của các nước phát triển trên thế giới.

- Trong thương mại, thông tin là yếu tố hàng đầu mang lại cho doanh

nghiệp những cơ hội vàng trong kinh doanh. Doanh nghiệp nào có được

nguồn thơng tin chính xác thì doanh nghiệp đó sẽ có được lợi thế rất lớn trong

kinh doanh so với các đối thủ cạnh tranh. Vì vây, thu nhập, nắm bắt, xử lý

linh hoạt các nguồn thông tin về thị trường là chìa khóa giúp doanh nghiệp đạt

được hiệu quả trong kinh doanh đặc biệt là đối với những doanh nghiệp xuất

khẩu. Tuy nhiên, đây lại là điểm yếu kém của các doanh nghiệp Việt Nam. Sự

kém nhạy bén trong việc nắm bắt thông tin của các doanh nghiệp Việt Nam

thể hiện ở chỗ các doanh nghiệp chỉ dựa vào những mối quan hệ với những

bạn hàng cũ hoặc thụ động theo sau các doanh nghiệp nước ngoài nên hoạt

động kinh doanh chưa thật sự đạt được hiệu quả như tiềm năng vốn có của

doanh nghiệp.

- Đầu năm vừa qua, Chính phủ đã đưa ra gói hỗ trợ lãi suất mới hướng

vào các khoản vay trung và dài hạn khiến cho các doanh nghiệp cũng như các

ngân hàng mong đợi để thực thi. Điều này có nghĩa là vốn đang được dồn về

các doanh nghiệp nhiều hơn bao giờ hết và công ty xuất nhập khẩu Intimex

cũng khơng nằm ngồi trong số những doanh nghiệp được chính phủ hỗ trợ

vốn bởi nguồn vốn của công ty cho việc kinh doanh đòi hỏi rất lớn.

Việc chính phủ thực hiện gói kích cầu bằng chính sách hỗ trợ 4% đã góp

Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



51



phần tạo ra sự đồng bộ giữa chủ trương và giải pháp của chính phủ trong việc

kích cầu đầu tư, tiêu dùng và duy trì sự tăng trưởng, giúp các doanh nghiệp

yên tâm hơn trong việc hoạt động đầu tư và sản xuất.

Tuy nhiên, với việc đưa ra gói kích cầu này thì một thách thức mới đã

được đặt ra chính phủ đó là đầu ra cho các doanh nghiệp. Công ty Intimex là

doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu mặt hàng nông sản, đặc biệt là cà phê và

hạt tiêu tuy nhiên việc tìm đầu ra các mặt hàng này hiện nay gặp phải nhiều

khó khăn do sự suy giảm của nền kinh tế. Kim ngạch xuất khẩu của cả nước

nói chung và cơng ty nói riêng là giảm trước hết bởi sự giảm giá của nhiều

mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đặc biệt là cà phê và hàng công nghiệp chế biến

và sự thu hẹp thị trường do khủng hoảng của nền tế thế giới. Cụ thể là các thị

trường xuất khẩu lớn của hàng nông sản Việt Nam như Mỹ, EU, ASEAN,

Nhật Bản đều giảm trên 20%.

Vì vậy, với gói kích cầu mà chính phủ đưa ra, Intimex cũng như nhiều

doanh nghiệp khác băn khoăn rằng trong thời điểm hiện nay dù lãi suất bằng

không mà hoạt động xuất khẩu nơng sản của cơng ty khơng tìm được đầu ra thì

họ có nên ơm thêm nợ vào khơng bởi hiện nay vấn đề không phải chỉ là lãi suất

mà còn là thị trường. Lãi suất chỉ trở thành vấn đề khi đầu cơ hội bán hàng được

tạo ra và vấn đề đầu ra cho sản phẩm kinh doanh được thực hiện tốt.

Ngồi ra, việc chính phủ liên tiếp đưa ra các gói kích cầu có thể làm xuất

hiện tâm lý ỷ lại và kéo tụt nền kinh tế Việt Nam quay về thời kỳ bao cấp va

bảo hộ, dễ dẫn dến cơ chế xin cho. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp xuất khẩu

đứng trước nguy cơ bị kiện phá giá khi hàng xuất khẩu sang các nước khác.

Doanh nghiệp được sử dụng khoản vốn này dù là đầu tư cơ sơ hạ tầng, máy

móc thiết bị hay sản xuất trực tiếp hàng xuất khẩu cũng đều bị coi là bằng

chứng để các đối tác nước ngoài kiện lại

Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



52



3.2.2. Phương hướng xuất khẩu của hàng nông sản Việt Nam trong

những năm tới

Với vị trị địa lý thuận lợi và một tiềm năng to lớn về đất đai, khí hậu

cùng nguồn nhân lực dồi dào, triển vọng về sản xuất và xuất khẩu hàng nông

sản Việt Nam trong những năm tới là rất sáng sủa. Nhà nước ta đã khẳng định

sản xuất và xuất khẩu nơng sản chính là một thế mạnh, là ngành xuất khẩu

mũi nhọn của Việt Nam bởi hoạt động xuất khẩu nơng sản chính hoạt động đã

tạo ra cho nhà nước ta một nguồn thu ngoại tệ lớn để thực hiện cơng cuộc

cơng nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, một vấn đề được đặt ra là

làm sao để phát huy được thế mạnh này một cách có hiệu quả nhất sao cho

vừa đáp ứng được nhu cầu về lương thực trong nước vừa tạo ra được khối

lượng lớn hàng nông sản xuất khẩu ra các thị trường trên thế giới. Vì vậy,

trong phương hướng xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam trong những năm tới,

nhà nước ta đã nhấn mạnh tầm quan trọng của nông nghiệp và hoạt động sản

xuất nông sản xuất khẩu cụ thể như sau:

- Nhà nước đưa ra các chủ trương khuyến khích các doanh nghiệp sản

xuất và xuất khẩu nơng sản có hàm lượng tinh chế và hàm lượng kỹ thuật cao,

tức là giảm bớt việc xuất khẩu những sản phẩm thơ mà thay vào đó là xuất

khẩu những hàng hóa chế biến đạt tiêu chuẩn quốc tế để nâng cao giá trị của

hàng nơng sản. Điều này, đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới

trang thiết bị máy móc kỹ thuật hiện đại, kỹ thuật cơng nghệ tiên tiến để tạo ra

những mặt hàng có chất lượng tốt, giá trị cao đáp ứng được các nhu cầu ngày

càng về nông sản trên thế giới.

- Về thị trường xuất khẩu hàng nông sản, nhà nước chủ trương đẩy mạnh

hoạt động xuất khẩu vào các thị trường truyền thống như EU, ASEAN, Trung

Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Nhật Bản…và tích cực tìm kiếm xâm nhập vào các thị

trường tiềm năng khác như thị trường Nam Mỹ, thị trường Châu Phi, thị

Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



53



trường Trung Đơng…Bên cạnh đó, nhà nước còn tạo điều kiện cho các doanh

nghiệp tiến hành liên doanh với các doanh nghiệp nước ngồi để cùng sản

xuất, chế biến hàng nơng sản để hàng hóa có đạt được chất lượng cao đồng

thời thơng qua đó, các doanh nghiệp có thể học tập thêm được những kinh

nghiệm kinh doanh, công nghệ tiên tiến từ các đối tác.

- Nhà nước phối hợp với các doanh nghiệp để tìm kiếm thị trường nhằm

nâng cao kim ngạch xuất khẩu những mặt hàng nông sản chủ lực, tăng nhanh

cả về sản lượng và trị giá xuất khẩu, phấn đấu đến năm 2010 có kim ngạch từ

7-8 tỷ USD, nâng cao vị thế của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường quốc

tế. Bên cạnh đó, nhà nước còn khuyến khích các cá nhân, tổ chức tham gia

vào hoạt động sản xuất chế biến nông sản.

- Phát triển xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững thông qua

hoạt động đầu tư phát triển sản xuất các mặt hàng xuất khẩu có lợi thế cạnh

tranh, có khả năng chiếm lĩnh thị phần trên thị trường thế giới. Chuyển dịch

cơ cấu sản xuất theo hướng đẩy mạnh những mặt hàng có giá trị gia tăng cao

như các sản phẩm chế biến, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám

cao, giảm tỉ trọng hàng xuất khẩu thô.

Từ những định hướng trên, mục tiêu của nhà nước cần đạt được:

- Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa bình

qn 17,6%/năm và đến năm 2010 đạt khoảng 72,5 tỷ USD

- Đến năm 2010, xuất khẩu các mặt hàng nông - lâm - thủy sản chiếm

khoảng 13,7%; nhóm hàng nhiên liệu – khống sản chiếm khoảng 9,6%,

nhóm hàng cơng nghiệp và cơng nghệ cao chiếm khoảng 54,0% và nhóm

hàng hóa khác chiếm 22,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa. Về

cơ cấu thị trường, xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Châu Á chiếm

khoảng 45,0%; thị trường Châu Mỹ chiếm khoảng 24%; thị trường Châu

Âu chiếm khoảng 23%; thị trường Châu Đại Dương chiếm khoảng 5,0% và

Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



54



thị trường khác chiếm khoảng 3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng

hóa của nhà nước.

- Đối với một số mặt hàng nông sản chủ lực:

Đối với cà phê, mặc dù đây là mặt hàng có sản lượng và giá cả phụ

thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết nhưng Việt Nam chủ trương phấn đấu đến

năm 2010 sản lượng xuất khẩu đạt 420.000 tấn với kim ngạch xuất khẩu là

700 triệu USD và chiếm 8,2% tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Để

đạt được mục tiêu này thì Việt Nam chú trọng đầu tư phát triển loại cà phê

Abrica, đầu tư vào lĩnh vực chế biến cà phê rang, xay với cà phê hòa tan dựa

trên nguồn lực của doanh nghiệp hoặc thơng qua hình thức thu hút nguồn vốn

đầu tư nước ngoài.

Đối với cao su, kim ngạch xuất khẩu đến năm 2010 có thể tăng lên 700

triệu USD, sản lượng đạt 300.000 tấn tuy nhu cầu đối với mặt hàng này được

dự báo là tăng chậm và giá có xu hướng giảm.

Về hạt điều, các thị trường tiềm năng đối với mặt hàng này là thị trường

Mỹ, thị trường EU, Trung Quốc, Australia. Giá của mặt hàng này tương đối

cao và có xu hướng ổn định. Dự kiến đến năm 2010, sản lượng điều xuất khẩu

đạt 60.000 tấn đạt 300 triệu USD, chiếm 3,5% tổng kim ngạch xuất khẩu

Về lạc nhân, xuất khẩu trên thị trường thế giới đạt 205.000 tấn vào năm

2010, đạt 150 triệu USD. Đây được coi là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của

Việt Nam trong những năm tiếp theo

Về hạt tiêu: Việt Nam trở thành nước xuất khẩu hạt tiêu lớn nhất trên thế

giới với sản lượng xuất khẩu trên thị trường thế giới đến năm 2010là 40.000

tấn, đạt 150 triệu USD trong đó EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Trung Đông là

những thị trường truyền thống của mặt hàng này.



Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



55



3.2.3. Phương hướng và mục tiêu của công ty

3.2.3.1. Mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

Sau khi cổ phần hóa trong vòng 3 năm đầu, cơng ty tập trung thực hiện

mục tiêu chính, đó là: Duy trì sự phát triển ổn định đồng thời tiếp tục xử lý

những tồn tại nhằm tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh, an toàn, nâng

cao hiệu quả cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Công ty sẽ

tập trung phát triển theo những định hướng sau: kinh doanh thương mại xuất

nhập khẩu, kinh doanh thương mại nội địa, hoạt động đầu tư sản xuất và các

hoạt động kinh doanh dịch vụ. Tập trung ưu tiên đầu tư các dự án đang là lợi

thế địa lý nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh bù đắp những khoản vốn Nhà

nước giao trên giá trị lợi thế địa lý đất đai công ty đang quản lý.

3.2.3.2. Phương hướng xuất khẩu nông sản của công ty

Phương hướng kinh doanh của công ty được xây dựng một cách cụ thể

và tỉ mỉ dựa trên những mục tiêu mà công ty hướng đến trong tương lai. Một

chiến lược kinh doanh muốn thành cơng thì phải phù hợp với điều kiện kinh

doanh của công ty và khả năng mà cơng ty có thể thực hiện được dựa trên

những điều kiện mơi trường bên ngồi.

Trong những năm tới, nông sản vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của

cơng ty. Bên cạnh việc duy trì, phát triển và mở rộng xuất khẩu những mặt

hàng nông sản chính như cà phê, hạt tiêu…cơng ty tiếp tục đầu tư nghiên cứu,

phát triển các mặt hàng nông sản khác như tinh bột sắn, cơm dừa, dưa chuột

bao tử…

Trên cơ sở nghiên cứu, đầu tư trang thiết bị máy móc và nhà xưởng,

công ty chuyển hướng đầu tư từ các mặt hàng thơ có chất lượng thấp sang

những mặt hàng có chất lượng cao hơn.

Về thị trường, cơng ty tiếp tục duy trì mối quan hệ với các thị trường

Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU INTIMEX

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×