Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 8: Tỷ trọng xuất khẩu của hàng nông sản giai đoạn 2005-2008

Bảng 8: Tỷ trọng xuất khẩu của hàng nông sản giai đoạn 2005-2008

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn tốt nghiệp



35



xuất khẩu của công ty thu được lợi nhuận cao.

Do trong năm 2006, công ty đã cổ phần hóa thành cơng và chia tách

thành 3 cơng ty con là: công ty cổ phần sản xuất và thương mại Intimex Hà

Nội, cơng ty cổ phần Sài Gòn và công ty cổ phần xuất nhập khẩu Intimex nên

đến năm 2007 sản lượng cũng như trị giá cà phê xuất khẩu của công ty đều

giảm xuống chỉ cần lần lượt là 33.719 tấn và 51 triệu USD.

Đến tháng 9 năm 2008, do phải dồn nhiều nguồn lực để công ty mẹ ở Hà

Nội tiến hành cổ phần hóa nên sản lượng cà phê xuất khẩu tiếp tục giảm

xuống chỉ còn 14.018,9 tấn và trị giá xuất khẩu giảm xuống còn 29.802 nghìn

USD. Trong năm 2007 và 2008, sản lượng và trị giá xuất khẩu tính riêng cho

cơng ty mẹ còn từ năm 2006 trở về trước thì sản lượng cũng như trị giá xuất

khẩu tính chung cho cả tổng cơng ty. EU và Mỹ là hai thị trường xuất khẩu

chủ lực đối với mặt hàng cà phê của công ty, chiếm trên 70% tỉ trọng trong

kim ngạch xuất khẩu đối với mặt hàng cà phê

 Mặt hàng hạt tiêu

Đến năm 2007, Việt Nam đã trở thành quốc gia xuất khẩu hạt tiêu hàng

đầu trên thế giới với sản lượng xuất khẩu hàng năm đạt khoảng 44.200 tấn.

Intimex chính là doanh nghiệp đứng đầu trong lĩnh vực xuất khẩu hạt tiêu ở

Việt Nam. Năm 2005, công ty đã xuất khẩu 8.533 tấn hạt tiêu với trị giá xuất

khẩu lên đến11.499 nghìn USD. Năm 2006, sản lượng xuất khẩu của công ty

tăng 1.325 tấn đồng thời trị giá xuất khẩu cũng tăng 4.551 nghìn USD tức là

khoảng 39,7% so với năm 2005. Năm 2007, công ty mẹ Intimex đã xuất

khẩu 2809 tấn, kim ngạch đạt 9 triệu USD. Năm 2008, sản lượng hạt tiêu

xuất khẩu cũng như kim ngạch xuất khẩu giảm xuống chỉ còn lần lượt là

1267,47 tấn và 4 triệu USD. EU, Mỹ và Nga – Đông Âu là những thị trường

nhập khẩu hạt tiêu lớn nhất của công ty, chiếm 75% kim ngạch xuất khẩu hạt

tiêu của công ty.

Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



36



 Mặt hàng cơm dừa

Cơm dừa là mặt hàng xuất khẩu mới mà công ty mạnh dạn đầu tư. Công

ty tiến hành hoạt động tìm kiếm khách hàng và thị trường đối với mặt hàng

này từ năm 2004. Vì là mặt hàng mới kinh doanh nên sản lượng cũng như kim

ngạch xuất khẩu của công ty đối với mặt hàng này là chưa cao nhưng đây lại

là mặt hàng có sự tăng nhanh qua các năm. Nếu như năm 2005, sản lượng

cơm dừa xuất khẩu là 1327,9 tấn đạt 1437 nghìn USD thì đến năm 2006 sản

lượng xuất khẩu đã tăng lên 1569 tấn với trị giá xuất khẩu tăng 1609 nghìn

USD, khoảng 11,96% Trong năm 2007 và 2008, sản lượng và kim ngạch xuất

khẩu đối với mặt hàng này tiếp tục tăng nhanh và điều này đã cho thấy được

cơm dừa chính là một bước đi đúng đắn của cơng ty trong chiến lược phát

triển đa dạng hóa thị trường và sản phẩm xuất khẩu. Các nước UEA, Nga và

ASEAN là những thị trường xuất khẩu đóng vai trò chủ lực đối với mặt hàng

cơm dừa, chiếm trên 70% kim ngạch xuất khẩu của công ty.

 Mặt hàng tinh bột sắn

Công ty Intimex đã đầu tư xây dựng một số nhà máy chế biến tinh bột

sắn để nâng cao chất lượng tinh bột sắn xuất khẩu cũng như tồn trữ các sản

phẩm đã qua chế biến trong thời gian trái vụ. Trong những năm gần đây, hoạt

động xuất khẩu đối với mặt hàng tinh bột sắn của công ty tương đối phát

triển. Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu của công ty tăng đều qua các năm,

năm 2005 công ty xuất khẩu 4020,6 tấn thu về 1.050 nghìn USD, năm 2006

sản lượng xuất khẩu của công ty đã tăng lên đến 4.725 tấn với trị giá xuất

khẩu đạt 1.132 nghìn USD tăng 7,8%. Đến năm 2007 thì sản lượng và kim

ngạch xuất khẩu tinh bột sắn của công ty vẫn tiếp tục tăng nhưng đến năm

2008 thì cả sản lượng và kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đều giảm như

nguyên nhân đã nói ở trên là do cơng ty dành nhiều nguồn lực cho cơng tác cổ

phần hóa ở cơng ty mẹ. Nga và Trung Quốc là hai thị trường đóng vai trò chủ

Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



37



lực đối với mặt hàng này của công ty, chiếm trên 80% kim ngạch xuất khẩu

của mặt hàng này.

 Mặt hàng hạt điều

Đây là mặt hàng mới đang được công ty quan tâm để tiến hành xuất

khẩu. Với mặt hàng này tuy thị trường xuất khẩu còn hạn chế nhưng trong

giai đoạn từ năm 2005-2008 thì sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu của

mặt hàng này có sự tăng mạnh qua từng năm. Nếu như năm 2005, sản lượng

xuất khẩu là 31,74 tấn đạt 185 nghìn USD thì đến năm 2008, sản lượng xuất

khẩu đã đạt 443,05 tấn, tăng gần 14 lần và trị giá xuất khẩu đạt mức 550

nghìn USD, tức là tăng gần 3 lần so với năm 2005. Có thể thấy một điều nổi

bật là số lượng xuất khẩu tăng nhanh nhưng giá của mặt hàng điều xuất khẩu

này có xu hướng giảm trên thị trường thế giới. Nga – Đông Âu là thị trường

nhập khẩu chủ lực đối với mặt hàng này của công ty





Mặt hàng lạc nhân



Lạc nhân chưa phải là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của công ty xuất nhập

khẩu Intimex. Hoạt động xuất khẩu mặt hàng này của công ty còn ít với sản

lượng xuất khẩu hàng năm khoảng 1365 tấn thu về 822,8 nghìn USD hàng

năm và thường chỉ được thực hiện thông qua những hợp đồng đặt hàng nhỏ

sang một số ít thị trường như Indonexia, Malaysia, Srilanca và Philipin.







Mặt hàng chè



Đây là mặt hàng mà công ty chưa chú trọng đầu tư để phát triển nên sản

lượng xuất khẩu thấp và giảm qua các năm. Năm 2004, cơng ty xuất khẩu 163

tấn đạt 109 nghìn USD và năm 2005 săn lượng xuất khẩu giảm xuống chỉ còn

68 tấn, đạt 78,2 nghìn USD. Đến năm 2006 thì công ty không xuất khẩu mặt

hàng này nữa.

Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



38



2.3. Đánh giá chung về hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của công

ty xuất nhập khẩu Intimex

2.3.1. Ưu điểm

Trong những năm qua từ năm 2004 đến năm 2008, dưới sự lãnh đạo của

ban giám đốc cùng sự cố gắng nỗ lực hết mình của tập thể cán bộ công nhân

viên Intimex, công ty đã đạt được những kết quả kinh doanh đáng khích lệ với

hiệu quả cao, tăng trưởng đều đặn, ổn định qua các năm và giúp công ty vượt

qua khỏi giai đoạn khó khăn do chịu ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới. Có

thể nói rằng, cơng ty xuất nhập khẩu Intimex có một số ưu điểm nổi bật sau:

- Công ty xuất nhập khẩu Intimex là một doanh nghiệp nhà nước trực

thuộc Bộ Công Thương nhận được nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ các chính

sách ưu đãi phát triển hoạt động kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp theo

định hướng phát triển nền kinh tế thị trường, được đầu tư xây dựng cơ sở vật

chất kỹ thuật, nguồn nhân lực…Những điều kiện thuận lợi đó đã tạo đà cho

công ty hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả phù hợp với định hướng phát

triển nền kinh tế của nhà nước.

- Với bề dày lịch sử hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xuất khẩu,

Intimex đã trở thành một thương hiệu kinh doanh đại diện cho sự uy tín và

hiệu quả ở thị trường trong nước và quốc tế. Sau 30 năm hoạt động, công ty

đã thiết lập và duy trì được mối quan hệ lâu dài, bền vững với các bạn hàng

truyền thống như Mỹ, Nga, Tây Ban Nha, Đức, Anh, Pháp…, mở rộng và

phát triển với các bạn hàng tiềm năng như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản,

một số quốc gia ở Châu Phi, Trung Đông và Mỹ La Tinh. Chính điều này đã

tạo cho Intimex có một thị trường xuất khẩu ổn định giúp cho hoạt động kinh

doanh của công ty ngày càng được mở rộng và ổn định khi Việt Nam chính

Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



39



thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO từ năm 2007.

- Mặt hàng nông sản xuất khẩu đa dạng và phong phú bao gồm cà phê,

cao su, chè, hạt điều, hạt tiêu, cơm dừa, lạc, tinh bột sắn, hồi, quế…trong đó

cà phê và hạt tiêu là hai mặt hàng nơng sản xuất khẩu chủ lực chiếm tỉ trọng

lớn trong kim ngạch xuất khẩu hàng nơng sản của cơng ty. Ngồi ra, cơng ty

ln tìm tòi, phát triển những mặt hàng xuất khẩu mới như cơm dừa, bột dừa,

tinh bột sắn, dưa chuột bao tử…Trong năm 2008, công ty đã xuất khẩu

2.867,38 tấn cơm dừa đạt 4.744.215 USD, 600 tấn tinh bột sắn đạt 132.689

USD…Bên cạnh đó, nguồn hàng của cơng ty khá lớn và ổn định do cơng ty

duy trì được mối quan hệ với các đầu mối thu mua một cách có hệ thống nên

nguồn hàng của cơng ty khá ổn định và chất lượng cao.

- Sản lượng xuất khẩu cũng như giá trị xuất khẩu của công ty có sự tăng

đều và ổn định qua các năm trong đó trị giá hàng nơng sản xuất khẩu chiếm

đến 90% tổng giá trị xuất khẩu của công ty.

- Đội ngũ cán bộ cơng nhân viên có trình độ tương đối cao, trình độ đại

học và trên đại học lớn bên cạnh một đội ngũ cơng nhâ lành nghề lâu năm.

Ngồi ra công tác tuyển chọn, đào tạo nguồn nhân lực cũng được cơng ty

quan tâm và có sự đầu tư lớn.



2.3.2. Hạn chế

- Công ty xuất nhập khẩu Intimex là doanh nghiệp chuyên xuất khẩu

hàng nông sản ra thị trường nước ngồi trong đó cà phê và hạt tiêu là hai

mặt hàng xuất khẩu chủ lực, chiếm tỉ trọng đến hơn 70%. Việc kinh doanh

nơng sản nói chung và cà phê nói riêng ln tiềm ẩn nhiều rủi ro do vốn

sử dụng nhiều, hiệu quả kinh doanh thấp, giá cả bấp bênh do phụ thuộc

Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



40



vào thời tiết, lên xuống thất thường theo giá cả thế giới. Hơn nữa, việc

bảo quản và dự trữ nguồn hàng khi trái vụ rất tốn kém đòi hỏi phải có sự

đầu tư lớn về cơ sở vật chất.

- Nguồn vốn kinh doanh của công ty cơ bản là vốn vay nên phần nào còn

hạn chế còn thiếu chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất kinh doanh nhất là

trong thời kỳ các ngân hàng ngày càng thắt chặt cơ chế cho vay và tăng lãi.

Bên cạnh đó là các khoản nợ xấu chưa thu hồi được, chủ yếu là các khoản nợ

để lại từ những năm trước do bàn giao sát nhập các đơn vị vào công ty. Những

tồn tại trên đang ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

trong thời gian gần đây đặc biệt là hoạt động xuất khẩu nông sản.

- Trong giai đoạn gần đây, công ty lấy đầu tư để phát triển và một số dự

án đi vào hoạt động nhưng chưa đem lại hiệu quả ngay. Cụ thể là:

+ Dự án xây dựng nhà máy: nhà máy tinh bột sắn ở Nghệ An, xí nghiệp

kinh doanh tổng hợp Đồng Nai, xí nghiệp nơng sản xuất khẩu Hưng Đơng

( Nghệ An), xí nghiệp chế biến nơng sản thực phẩm Quang Minh (Vĩnh

Phúc). Các xí nghiệp này đã được đưa vào hoạt động nhưng hiệu quả không

cao nên hàng năm công ty vẫn phải trả nợ cả gốc lẫn lãi cho cac dự án này là

khoảng 34 tỷ

+ Công ty đầu tư xây dựng hệ thống siêu thị với nguồn vốn vay là 57,58

tỷ VNĐ và các dự án nuôi tôm là 13,8 tỷ VNĐ. Hàng năm công ty phải bỏ ra

một khoản tiền lớn để trả cả vốn lẫn lãi trong khi nguồn thu từ các dự án này

là rất nhỏ và khơng đáng kể

Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư của công ty trong những năm qua chưa

mang tính tập trung và nhiều dự án còn dở dang, chưa đi vào hoạt động nên

cơng ty phải trích phần lớn lợi nhuận kinh doanh làm ra để trả vốn vay, lãi

suất ngân hàng và khấu hao thiết bị đầu tư nên lợi nhuận của công ty trong

những năm qua còn thấp

Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



41



- Intimex là một công ty nhà nước trực thuộc Bộ Cơng Thương nên mơ

hình tổ chức và hoạt động kinh của cơng ty còn phụ thuộc nhiều vào chính

sách phát triển của nhà nước. Điều đó phần nào đã cản trở đến hoạt động quản

lý cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

- Công tác nghiên cứu và dự đốn thị trường còn nhiều hạn chế. Hoạt

động nghiên cứu và dự doán thị trường chưa được hồn thiện, thơng tin còn

thiếu cập nhật và chính xác. Nghiên cứu thị trường và tìm kiếm thị trường chủ

yếu thông qua các hội trợ triễn lãm diễn ra hàng năm mà khơng có hoạt động

cụ thể do đó công ty đã mất đi khá nhiều cơ hội kinh doanh cũng như né tránh

rủi ro khi thị trường có nhiều biến động bất lợi.

2.3.3. Nguyên nhân

2.3.3.1. Nguyên nhân khách quan

- Nông sản là mặt hàng xuất khẩu tiềm ẩn nhiều rủi ro và chịu sụ biến

động thất thường của giá cả trên thị trường thế giới trong khi công tác dự

báo thị trường ở cơng ty còn hạn chế do đó hoạt động xuất khẩu nơng sản

của cơng gặp phải những khó khăn trong thời gian gần đây là điều không thể

tránh khỏi.

- Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường xuất khẩu nông sản đến từ các

quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Indonexia, Brazin…Đây là quốc

gia có sản lượng nơng sản xuất khẩu hàng năm lớn trên thế giới với chất

lượng cao, cạnh tranh trực tiếp với hàng nông sản của Việt Nam trên thị

trường thế giới. Ngành công nghiệp chế biến ở các quốc gia này cũng cao hơn

so với Việt Nam, do vậy hàng nông sản xuất khẩu chế biến của họ cũng nhiều

hơn và đạt được trị giá xuất khẩu cao hơn.

- Chính sách bảo hộ của các quốc gia nhập khẩu. Hiện nay, các nước

phát triển đang áp dụng những chính sách ngày càng tinh vi hơn trong việc

Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



42



bảo hộ nền nông nghiệp của nước họ, các nước này đã dựng nên các hàng rào

về kỹ thuật nghiêm ngặt về an toàn thực phẩm và chất lượng cao. Điều này

gây ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu khi các doanh nghiệp

này muốn thâm nhập vào các thị trường này.

- Tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng Đôla Mỹ thường xuyên có những

diễn biến bất thường gây ra sự bất lợi cho việc xuất khẩu của Việt Nam nhất

là trong thời điểm hiện nay khi mà đồng đôla Mỹ giảm so với đồng Việt Nam.

- Các thủ tục hành chính ở Việt Nam còn rờm rà, chưa hồn thiện gây

khó khăn trong việc làm thủ tục hải quan của các các doanh nghiệp xuất khẩu.

2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan

- Chất lượng hàng nơng sản còn chưa cao. Đây là nguyên nhân trực tiếp

làm cho giá của hàng nông sản còn thấp và chưa đáp ứng được yêu cầu về

chất lượng của một số thị trường và khách hàng khó tính. Hơn nữa, chất

lượng của hàng nơng sản còn phụ thuộc rất nhiều vào bảo quản, chế biến

trong khi công tác bảo quản, dự trữ, chế biến của Intimex còn kém và chưa

được đầu tư một cách đồng bộ với khâu thu mua .

- Hoạt động xúc tiến thương mại và phát triển thị trường của công ty

chưa được quan tâm và đầu tư thích đáng. Điều này làm cho hoạt động xuất

khẩu của công ty chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của cơng ty. Là

một doanh nghiệp xuất khẩu cà phê và hạt tiêu hàng đầu của nhà nước, có

trên 30 kinh nghiệm trong lĩnh vực xuất khẩu nhưng đến nay cơng ty vẫn

chưa có một phòng marketing theo đúng nghĩa. Nguồn thông tin của công

ty chủ yếu dựa trên những dự báo và phân tích của Bộ Cơng Thương,

những nghiên cứu và dự dốn của các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước

do vậy nguồn thơng tin còn mang tính chung chung, chưa cụ thể với điều

kiện kinh doanh của doanh nghiệp.

- Nông sản là mặt hàng mang tính chất thời vụ, dự trữ là cơng tác còn

Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



43



thiết để tạo nguồn hàng xuất khẩu ổn định nhưng công tác dự trữ ở công ty

Intimex chưa cao nhất là trong giai đoạn trái mùa trong khi các hợp đồng xuất

khẩu lại được ký kết thường xuyên và liên tục vào các thời điểm trong năm.

Điều này làm cho một số trường hợp công ty không đủ nguồn hàng xuất khẩu

phải thu mua hàng với giá cao hoặc phải xuất khẩu ủy thác.

- Hàng nông sản xuất khẩu của cơng ty chủ yếu dưới dạng thơ vì vậy giá

nơng sản còn thấp và khơng có được thương hiệu riêng. Chẳng hạn như đối

với mặt hàng xuất khẩu chủ lực là cà phê, hàng năm công ty xuất khẩu khơng

dưới 15.000 tấn thậm chí có năm còn trên 125.000 tấn như năm 2005 nhưng

tất cả chỉ ở dưới dạng thô chưa qua chế biến, do vậy trị giá xuất khẩu thu

được còn hạn chế. Trong khi đó, sản phẩm cà phê hòa tan được ưu chuộng

trên thế giới bởi tính tiện dụng của nó thì cơng ty lại khơng có. Nếu cơng ty

nắm bắt được xu thế này mà chú trọng đầu tư thì hiệu quả kinh doanh xuất

khẩu sẽ cao hơn rất nhiều. Mặc dù công ty đã xây dựng các nhà máy chế biến

nông sản ở Nghệ An, Bình Dương…nhưng hiệu quả của các nhà máy này

còn hạn chế do việc đầu tu đổi mới công nghệ còn chưa đồng bộ.

- Cơng ty thiếu nguồn nhân lực chuyên trách về lĩnh vực xuất khẩu và

thiếu sự chuyên mơn hóa trong hoạt động giữa các phòng kinh doanh.



Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



44

7CHƯƠNG III



GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA

CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU INTIMEX

3.1. Tình hình của nền kinh tế thế giới trong năm 2009

Trong năm 2008, nền kinh tế thế giới đã trải qua nhiều biến động với sự

tăng giảm kỷ lục của giá cả nhiều loại hàng hóa, hệ thống tài chính ở rất

nhiều các quốc gia hùng mạnh được coi là đầu tàu cho nền kinh tế toàn cầu

như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Anh…đã tuyên bố rơi vào tình trạng khủng hoảng.

Cuộc khủng hoảng được châm ngòi bằng hoạt động cho vay thế chấp dưới

chuẩn dễ dãi và thiếu kiểm sốt ở Mỹ và lan rộng tồn cầu, kéo theo sự sụp đổ

đồng loạt của nhiều định chế tài chính khổng lồ, thị trường chứng khốn

khuynh đảo. Nền kinh tế của các một số nước phát triển đang trong tình trạng

suy thối, một số nước đang phát triển cũng có nguy cơ bị ảnh hưởng nặng

nền và nền kinh tế Việt Nam cũng không tránh khỏi nguy cơ đó.

Theo dự đốn của nhiều chun gia trong lĩnh vực kinh tế và các tổ chức

có uy tín trên thế giới, nền kinh tế thế giới trong năm 2009 sẽ phải đối mặt với

rất nhiều khó khăn:

- Triển vọng đối với nền kinh tế năm 2009 là không khả quan với tốc độ

tăng trưởng chậm thậm chí là tăng trưởng âm đặc biệt là ở các nước công

nghiệp phát triển. Nền kinh tế thế giới năm 2009 đang đứng trước nguy cơ

suy thoái trên diện rộng trước những diễn biến phức tạp và thất thường của

cuộc khủng hoảng tài chính. Nền kinh tế khó khăn khiến cho người tiêu cũng

như các doanh nghiệp khơng còn đủ khả năng tài chính để đáp ứng nhu cầu

tiều dùng và đầu tư phát triển sản xuất. Niềm tin của người lao động giảm

mạnh, thất nghiệp xảy ra như một tất yếu không thể tránh khỏi trong bối cảnh

Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



45



hiện tại của nền kinh tế tạo nên một bức tranh ảm đạm của nền kinh tế thế

giới năm 2009 . Theo số liệu dự báo của ÌM thì tăng trưởng kinh tế tồn cầu

chỉ đạt 2,2% ( năm 2008: 3,7%) trong đó hầu hết các nước phát triển đều tăng

trưởng âm, tính chung tăng trưởng kinh tế ở các nước này sẽ giảm từ 1,4%

năm 2008 xuống -0,3% năm 2009 ( trong đó, Mỹ: -0,7%; khu vực EU: -0,5%;

Nhật Bản: -0,2%; Anh: -1,3% ), các nước đang phát triển mặc dù tăng trưởng

dương nhưng mức tăng trưởng sẽ sụt giảm mạnh do xuất khẩu và đầu tư suy

giảm ( trong đó, Trung Quốc: 8,5%; Ấn Độ: 6,3%; Nga:3,5%; các nước Trung

– Đông Âu: 2,5%; Việt Nam: 0,3% so với 6% mà chính phủ dự báo).

- Nền kinh tế thế giới nếu có phục hồi cũng phải tới năm 2010 may ra

mới có thể bắt đầu. Trong giai đoạn từ 2003-2008, với chính sách tài khóa mở

rộng thì giá cả hàng hóa đã tăng lên chóng mặt nhưng khi khủng hoảng kinh

tế lan rộng trên toàn thế giới thì xu hướng này đã hồn tồn đảo chiều: sản

lượng hàng hóa thế giới giảm sút nghiêm trọng, đầu tư và nhu cầu toàn cầu

ngày càng giảm đi. Thu nhập của người dân tương đối thấp và nhu cầu sử

dụng năng lượng giảm mạnh như hiện nay làm cho giá cả các thị trường hàng

hóa giảm mạnh.

Theo EIU (Bộ phận tình báo kinh tế của báo Economist), giá cả hàng hóa

sẽ giảm 21,1% trong năm 2009 do tình hình kinh tế tồn cầu khó khăn, tăng

trưởn kinh tê của các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

(OECD) chững lại khiến thương mại toàn cầu giảm, tăng trưởng kinh tế các

nước đang phát triển vì thế mà khơng có lợi. Năm 2010, chỉ số giá hàng hóa

tăng khoảng 0,5%.

- Lạm phát giảm: Do kinh tế thế giới suy giảm, nhu cầu tiêu thụ hàng

hóa và giá cả hầu hết của các mặt hàng cũng giảm. Lạm phát ở các quốc gia



Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 8: Tỷ trọng xuất khẩu của hàng nông sản giai đoạn 2005-2008

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×