Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của công ty xuất nhập khẩu Intimex vào một số thị trường giai đoạn 2005-2008

Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của công ty xuất nhập khẩu Intimex vào một số thị trường giai đoạn 2005-2008

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn tốt nghiệp



30



những thị trường truyền thông của công ty bao gồm:

- Thị trường Đông Bắc Á: bao gồm hai thị trường chính là Hàn Quốc và

Trung Quốc, đây là hai thị trường có quan hệ hợp tác kinh doanh lâu đời với

công trong hoạt động xuất khẩu hàng nơng sản do thị trường Đơng Bắc Á có

vị trí địa lý và thị hiếu tiêu dùng có nhiều nét tương đồng với văn hoá Việt

Nam. Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của công ty vào hai thị trường này

ln chiếm tỷ trọng cao nhất và duy trì ở mức trên trên 30%. Sản lượng hàng

nông sản xuất khẩu vào hai thị trường có sự tăng đều qua các năm: năm 2005,

sản lượng xuất khẩu đạt 14.139 tấn với trị giá xuất khẩu là trên 39 triệu USD;

năm 2006, sản lượng xuất khẩu tăng lên đến 123.900 tấn đạt trên 50 triệu

USD. Trong hai năm 2007 và 2008, sản lượng nông sản xuất khẩu của công ty

vào thị trường Đông Bắc Á giảm do công ty Intimex dồn nhiều nguồn lực tiến

hành cổ phần hố 3 cơng ty con và 3 cơng ty con sau khi cổ phần thì hạch

tốn riêng, thốt khỏi cơng ty mẹ nên số liệu của trong hai năm này chỉ là của

công ty mẹ, không bao gồm hai công ty con.

Cà phê là mặt hàng nông sản chủ lực xuất khẩu vào thị trường Trung

Quốc còn hạt tiêu và tinh bột sắn là hai mặt hàng được thị trường Hàn Quốc

và Nhật Bản nhập khẩu nhiều nhất. Dự đoán trong những năm tới, cà phê và

hạt tiêu vẫn là hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực vào thị trường này trong đó

Nhật Bản là thị trường mà cơng ty có chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu vào để

đến năm 2010, Nhật Bản cũng như Trung Quốc và Hàn Quốc trở thành thị

trường xuất khẩu chủ lực của công ty.

- Thị trường ASEAN là thị trường xuất khẩu chủ lực của công ty xuất

nhập khẩu Intimex với các mặt hàng nông sản sau: tiêu trắng và cà phê bên

cạnh đó còn có cao su. Kim ngạch xuất khẩu của công ty vào các thị trường

này luôn dao động trên 10 %, trị giá xuất khẩu của các mặt hàng nơng sản có

sự tăng đều và ổn định qua các năm. Năm 2005, công ty đã xuất sang thị

Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



31



trường này 17.632 tấn nông sản, trị giá xuất khẩu đạt trên 14 triệu USD. Năm

2006, sản lượng xuất giảm nhẹ xuống còn 13.753 tấn nhưng trị giá đạt trên 22

triệu USD, tăng 1,5 lần so với năm 2005. Năm 2007 và 2008, sản lượng xuất

khẩu tuy có giảm do sự khủng hoảng của nền kinh tế thế giới ảnh hưởng đến

nền kinh tế Việt Nam cùng những nguyên nhân khách quan nhưng kim ngạch

xuất khẩu của công ty mẹ vào thị trường này vẫn được duy trì khá ổn định:

năm 2007 đạt 16 triệu USD và năm 2008 đạt 14 triệu USD. Trong những năm

tới, công ty Intimex sẽ tiếp tục duy trì và phát triển thị trường xuất khẩu này.

- Thị trường EU: đây là thị trường xuất khẩu đầy tiềm năng của công ty

nhưng cũng là một trong những thị trường gây cho công ty nhiều khó khăn

nhất khi thâm nhập vào thị trường này. Nguyên nhân là do EU là thị trường

phát triển bậc nhất trên thế giới, đây là thị trường có những quy định nghiêm

ngặt về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn chất lượng đối với

hàng nông sản. Tuy nhiên, nếu đạt được những tiêu chuẩn đó thì xuất khẩu

vào thị trường EU sẽ đem lại lợi nhuận lớn cho cơng ty.

Nắm bắt được điều đó, trong giai đoạn 2004-2008, cơng ty xuất nhập

khẩu Intimex đã có những biện pháp để nâng cao chất lượng hàng nông sản

xuất khẩu đồng thời thiết lập các mối quan hệ để đưa hàng nông sản của công

ty thâm nhập thành công vào thị trường này. Kết quả là sản lượng và kim

ngạch xuất khẩu hàng nông sản của công ty vào thị trường này có sự tăng đều

qua các năm, dần chiếm tỉ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu. Nếu như năm

2005 là 12,8% thì đến năm 2007 đã là 13,8% với kim ngạch xuất khẩu lên tới

trên 7 triệu USD trong đó cà phê, hạt tiêu, tinh bột sắn và hạt điều là những

mặt hàng nông sản được xuất khẩu nhiều nhất vào thị trường này.

- Thị trường Nga – Đơng Âu: đây là một trong những thị trường có mối

quan hệ hợp tác kinh doanh với công ty lâu đời nhất với công ty. Tinh bột sắn,

cơm dừa và hạt điều là những mặt hàng nông sản mà công ty Intimex xuất

Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



32



khẩu nhiều nhất vào thị trường này. Kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Nga

– Đông Âu vào năm 2005 là 22.250 tấn, đạt trên 18 triệu USD, chiếm 16,2%

tỉ trọng xuất khẩu của công ty. Năm 2006, sản lượng xuất khẩu của mặt hàng

nông sản đạt 22.426 tấn, thu về trên 27 triệu USD; tức là tăng gấp hơn 1.5 lần

so với năm 2005. Trong 2 năm tiếp theo, tuy sản lượng cũng như trị giá xuất

khẩu vào thị trường này có giảm nhưng thị trường này vẫn ln duy trì được

tỉ trọng trong kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của công ty.

- Thị trường Bắc Mỹ: là thị trường xuất khẩu lớn của công ty trong đó

Mỹ, Mexico là 2 quốc gia nhập khẩu cà phê nhiều nhất còn Canada là quốc

gia nhập khẩu hạt tiêu nhiều nhất. Nếu như năm 2005, sản lượng nông sản

xuất khẩu đạt 21.279 tấn với trị giá xuất khẩu đạt trên 19 triệu USD thì đến

năm 2006, sản lượng xuất khẩu đã tăng lên đến 22.054 tấn với trị giá xuất

khẩu trên 27 triệu USD. Trong hai năm tiếp theo, sản lượng và trị giá xuất

khẩu của công ty vào thị trường này đều giảm nhưng công ty vẫn luôn duy trì

tỷ trọng xuất khẩu hàng nơng sản vào thị trường này.

- Thị trường khác bao gồm một số quốc gia ở Trung Đông, Châu Phi và

Châu Mỹ La Tinh. Các mặt hàng nông sản xuất khẩu sang các thị trường này

chủ yếu là hạt tiêu và cơm dừa. Tuy sản lượng nông sản xuất khẩu sang các

quốc gia này còn thấp nhưng đã có sự tăng nhẹ theo từng năm. Nếu như năm

2005, tỷ trọng hàng nông sản xuất sang quốc gia này là 9.5% thì đến năm

2008 nó đã tăng lên đạt 10,8%. Đây là những thị trường hưa hẹn là tiềm năng

đối với công ty Intimex trong những hoạt động tiếp theo.

2.2.4. Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ yếu của

công ty xuất nhập khẩu Intimex

Trong giai đoạn 2005-2008, xuất khẩu là hoạt động kinh doanh chủ lực



Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



33



của công ty. Các hợp đồng xuất khẩu được ký kết một cách liên tục và đều

đặn vào tất cả các thời điểm trong năm tuy nhiên những hợp đồng này chủ

yếu là những hợp đồng vừa và nhỏ Công ty xuất nhập khẩu Intimex đã tiến

hành hoạt động xuất khẩu hàng nông sản thông qua hai hình thức chính là

xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu ủy thác. Điều đó được thể hiện rõ ràng trong

bảng sau:

Bảng 7: Cơ cấu hình thức xuất khẩu hàng nơng sản của công ty xuất nhập

khẩu Intimex giai đoạn 2005-2008

Đơn vị : 1000 USD



Hình thức

Trực tiếp

Ủy thác

Tổng



Năm 2005

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

TT

TT

TT

TT

Giá trị

Giá trị

Giá trị

Giá trị

(%)

(%)

(%)

(%)

9.799 67,5 11.917 71,8 14.692 76,5 12.194 82,1

4.718 32,5

4.681 28,2

4.514 23,5 2.657 17,9

14.517 100 16.598 100 19.206 100 14.851 100

Nguồn: Phòng kế tốn cơng ty xuất nhập khẩu Intimex



Qua bảng số liệu trên có thể thấy rằng, trực tiếp là hình thức xuất khẩu

chủ yếu, chiếm tỉ trọng ngày càng lớn trong các hình thức xuất khẩu. Tỉ trọng

của hình thức xuất khẩu trực tiếp tăng dần qua các năm từ 67,5% năm 2005

đã tăng lên 71,8% vào năm 2006, 76,5% vào năm 2007 và đến năm 2008 thì

đã tăng lên đến 82,5%. Những mặt hàng mà công ty xuất khẩu trực tiếp là

những mặt hàng chủ lực của công ty bao gồm cà phê và hạt tiêu. Điều này cho

thấy công tác xuất khẩu của cơng ty đang trở nên chủ động hơn, khơng còn bị

phụ thuộc nhiều vào các nhà phân phối nước ngoài trong thâm nhập, đưa mặt

hàng nông sản vào thị trường nước ngồi.

Hình thức ủy thác xuất khẩu của cơng ty tuy có sự gia tăng về giá trị

nhưng lại có sự giảm dần về tỉ trọng qua các năm. Năm 2005, hình thức ủy

thác xuất khẩu chiếm tỉ trọng 32,5% thì đến năm 2006 chỉ còn 28,2%, năm

Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Luận văn tốt nghiệp



34



2007 là 23,5% và đến năm 2008 là 17,9%. Những mặt hàng nông sản mà

công ty nhận ủy thác xuất khẩu hoặc ủy thác xuất khẩu là những mặt hàng

như hạt điều, quế, hồi, cao su…Đây là những mặt hàng chiếm tỉ trọng nhỏ

trong kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của công ty. Tuy hình thức ủy thác

khơng phải là hình thức xuất khẩu nơng sản chủ lực của cơng ty nhưng với

hình thức này đã giúp cơng ty có điều kiện mở rộng hoạt động hoạt động xuất

khẩu cũng như phát triển mối quan hệ với các bạn hàng.

Trong giai đoạn từ năm 2005-2008, các mặt hàng nông sản luôn

chiếm một tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu của công ty khoảng từ

78% - 90%.

Bảng 8: Tỷ trọng xuất khẩu của hàng nông sản giai đoạn 2005-2008

Đơn vị: 1000USD

Năm

Kim ngạch XK nông sản

Tổng kim ngạch xuất khẩu

Tỷ trọng (%)



2005

2006

2007

2008

114.905

153.867

53.586

42.030

117.463

155.000

68.400

46.555

97,82

99,26

78,34

90,28

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh 2005-2008



Bên cạnh đó, bảng số liệu 4 ở trên đã cho thấy rõ tình hình xuất khẩu của

một số mặt hàng nông sản của công ty xuất nhập khẩu Intimex trong giai đoạn

từ năm 2005-2008:

 Mặt hàng cà phê

Công ty xuất nhập khẩu Intimex là công ty đứng đầu trong lĩnh vực xuất

khẩu cà phê của Việt Nam. Từ bảng số liệu trên cho thấy, sản lượng cà phê

xuất khẩu cũng như giá trị xuất khẩu của cà phê có sự tăng mạnh qua các

năm. Nếu như năm 2005, sản lượng cà phê xuất khẩu đạt 124.055 tấn và giá

trị xuất khẩu là 100.362.700 USD thì đến năm 2006 tuy sản lượng cà phê có

giảm 16.155 tấn nhưng giá trị cà phê xuất khẩu lại tăng lên 34.367.700 USD

tức là khoảng 34% do giá cà phê thế giới tăng. Điều này giúp cho hoạt động

Nguyễn Phương Liên



Lớp: Thương mại Quốc tế



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của công ty xuất nhập khẩu Intimex vào một số thị trường giai đoạn 2005-2008

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×