Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
III. KẾT BÀI: Kêt thúc vấn đề, tổng kết lại vấn đề nghị luận.

III. KẾT BÀI: Kêt thúc vấn đề, tổng kết lại vấn đề nghị luận.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đề so sánh hai đoạn thơ trong bài Đây thôn Vĩ

Dạ- Hàn Mặc Tử và đoạn thơ trong bài Tây Tiến

– Quang Dũng.

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trơi dòng nước lũ hoa đong đưa

(Tây Tiến – Quang Dũng)

Gió theo lối gió mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sơng trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

(Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử

Hướng dẫn:

1. Mở bài :

Giới thiệu 2 tác giả , 2 bài thơ , 2 đoạn thơ

2. Thân bài :

+Ý khái quát : một vài nét về tác giả tác phẩm và vị trí đoạn thơ cần

phân tích

+Phân tích, cảm nhận từng đoạn thơ:

a. Đoạn thơ trong bài thơ Tây Tiến là cảnh sông nước miền Tây hoang sơ,

thơ mộng, trữ tình.

Giữa khói sương của hồi niệm, Quang Dũng nhớ về một “chiều sương

ấy”- khoảng thời gian chưa xác định rõ ràng nhưng dường như đã khắc

sâu thành nỗi nhớ niềm thương trong tâm trí nhà thơ. Đó có thể là khi đoàn

quân chia tay một bản làng Tây Bắc chăng? Quá khứ vọng về là những

hình ảnh mờ mờ ảo ảo, lung linh huyền hoặc: “hồn lau nẻo bến bờ”, “dáng

51



người trên độc mộc” và “hoa đong đưa”. Cảnh vật hiện lên qua nét vẽ của

Quang Dũng dù rất mong manh mơ hồ nhưng lại rất giàu sức gợi, rất thơ,

rất thi sĩ, rất đậm chất lãng mạn của người lính Hà thành:

“Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc”

Câu hỏi tu từ với phép điệp “có thấy”, “có nhớ” dồn dập như gọi về biết bao

kỷ niệm của một thời đã xa. Trong tâm tưởng của nhà thơ, cây lau tưởng

như vô tri vô giác cũng mang hồn. Cách nhân hố có thần đã khiến thiên

nhiên trở nên đa tình thơ mộng hơn. Thiên nhiên mang “hồn” là bởi nhà

thơ có cái nhìn hào hoa nhạy cảm hay bởi nơi đây còn vương vất linh hồn

của những đồng đội của nhà thơ? Sự cảm nhận tinh tế hoà quyện với

thanh âm da diết của nỗi nhớ đã làm vần thơ thêm chứa chan xúc cảm.

Bên cạnh thiên nhiên, hình ảnh con người thấp thống trở về trong hồi ức

của Quang Dũng . “trên độc mộc”- chiếc thuyền làm bằng cây gỗ lớn, bóng

dáng con người hiện lên đầy kiêu hùng, dũng cảm mà tài hoa khéo léo

giữa dòng nước xối xả, mạnh mẽ đặc trưng của miền Tây. Phải chăng tư

thế đó đủ để người đọc nhận ra vẻ đẹp riêng của con người Tây Bắc, của

đoàn binh Tây Tiến trong những năm tháng gian khổ mà hào hùng?. “dáng

người” ở đây có thể là dáng hình của người Tây Bắc, cũng có thể là chính

những chiến sĩ Tây Tiến đang đối mặt với thách thức của thiên nhiên dữ

dội chăng? Dù hiểu theo cách nào, dáng người trong thơ Quang Dũng

cũng luôn khảm sâu trong tâm trí nhà thơ, ln hiên ngang kiêu hùng mà

uyển chuyển, tài hoa và khéo léo:

“Trơi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Có thể khẳng định rằng, đây là một trong những chi tiết ‘đắt’ nhất mà

Quang Dũng tạo nên cho bức tranh thiên nhiên miền Tây, đoá hoa giữa

dòng là hội tụ của cái nhìn đa tình vốn có trong tâm hồn người lính Hà

Thành trẻ tuổi và vẻ thơ mộng của cảnh sắc nơi đây. Nói như thế là bởi, ta

nghiệm ra rằng, hình ảnh “hoa đong đưa” khi đang “trơi dòng nước lũ” là

hình ảnh khơng thể có trong thực tại nhưng lại rất hợp lý khi đặt giữa mạch

cảm hứng trữ tình của bài thơ. Cánh hoa như đôi mắt đong đưa, lúng liếng

với người lính trẻ hay bởi tâm hồn các anh quá hào hoa, q lãng mạn u

đời nên mới có thể nhìn thiên nhiên bằng cái nhìn đa tình đến như thế?

Bằng bút pháp lãng mạn với phép nhân hoá, Quang Dũng đã vẽ nên nét vẽ

thần tình, thâu tóm trọn vẹn vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc, gửi gắm vào

đó cả nỗi nhớ niềm thương luôn cháy bỏng trong trái tim ông. Phải yêu lắm

52



đồng đội, yêu lắm thiên nhiên và con người nơi đây thì Quang Dũng mới

có thể diễn tả tinh tế vẻ đẹp của chiều sương cao nguyên đến như vậy!

Bút pháp lãng mạn hào hoa, phép nhân hố thần tình, cách dùng điệp từ

khéo léo đã quyện hồ với nỗi nhớ chưa bao giờ ngi ngoai trong sâu

thẳm tâm trí nhà thơ về đồng đội và thiên nhiên miền Tây Tổ quốc, tất cả

tạo nên điểm sáng lấp lánh của tâm hồn một người chiến sĩ thiết tha với

Tây Tiến, với quê hương. Xin nhắc mãi vần thơ của ông trong nỗi nhớ chơi

vơi da diết!

b. Đoạn thơ trong bài Đây thôn Vĩ Dạ là khung cảnh sông nước xứ Huế

qua cảm nhận của cái tôi trữ tình đầy tâm trạng.

Khổ thơ thứ nhất nói về cảnh vật thôn Vĩ khi “nắng mới lên” … ở khổ thơ

thứ hai, Hàn Mạc Tử nhớ đến một miền sông nước mênh mang, bao la,

một không gian nghệ thuật nhiều thương nhớ và lưu luyến. Có gió, nhưng

“gió theo lối gió”. Cũng có mây, nhưng “mây đường mây”. Mây gió đơi

đường, đơi ngả:

“Gió theo lối gió, mây đường mây”.

Cách ngắt nhịp 4/3, với hai vế tiểu đối, gợi ta một khơng gian gió, mây chia

lìa, như một nghịch cảnh đầy ám ảnh. Chữ “gió” và “mây” được điệp lại hai

lần trong mỗi vế tiểu đối đã gợi lên một bầu trời thống đãng, mênh mơng.

Thi nhân đã và đang sống trong cảnh ngộ chia li và xa cách nên mới cảm

thấy gió mây đơi ngả đơi đường như tình và lòng người bấy nay. Ngoại

cảnh gió mây chính là tâm cảnh Hàn Mạc Tử.

Khơng có một bóng người xuất hiện trước cảnh gió mây ấy. Mà chỉ có

“Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”. Cảnh vật mang theo bao nỗi niềm.

Sông Hương lững lờ trôi xuôi êm đềm, trong tâm tưởng thi nhân đã hóa

thành “dòng nước buồn thiu”, càng thêm mơ hồ, xa vắng. “Buồn thiu” là

buồn héo hon cả gan ruột, một nỗi buồn day dứt triền miên, cứ thấm sâu

mãi vào hồn người. Hai tiếng “buồn thiu” là cách nói của bà con xứ Huế.

Bờ bãi đơi bờ sơng cũng vắng vẻ, chỉ nhìn thấy “hoa bắp lay”. Chữ “lay”

gợi tả hoa bắp đung đưa trong làn gió nhẹ. Hoa bắp, hoa bình dị của đồng

nội cũng mang tình người và hồn người.

Hai câu thơ 14 chữ với bốn thi liệu (gió, mây, dòng nước, hoa bắp) đã hội

tụ hồn vía cảnh sắc thơn Vĩ. Hình như đó là cảnh chiều hơm? Hàn Mạc Tử

53



tả ít mà gợi nhiều, tượng trưng mà ấn tượng. Ngoại cảnh thì chia lìa, buồn

lặng lẽ biểu hiện một tâm cảnh: thấm thía nỗi buồn xa vắng, cơ đơn.

Hai câu thơ tiếp theo gợi nhớ một cảnh sắc thơ mộng, cảnh đêm trăng trên

Hương Giang ngày nào. “Dòng nước buồn thiu” đã biến hóa kì diệu thành

“sơng trăng” thơ mộng.

“Thuyền, ai đậu bến sơng trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?”

Đây là hai câu thơ tuyệt bút của Hàn Mặc Tử được nhiều người ngợi ca,

kết tinh rực rỡ bút pháp nghệ thuật tài hoa lãng mạn. Một vần lưng tài tình.

Chữ “đó” cuối câu 3 bắt vần với chữ “có” đầu câu 4, âm điệu vần thơ cất

lên như một tiếng khẽ hỏi thầm “có chở trăng về kịp tối nay?”. “Thuyền ai”

phiếm chỉ, gợi lên bao ngỡ ngàng bâng khuâng, tưởng như quen mà lạ,

gần đó mà xa xôi. Con thuyền mồ côi nằm trên bến đợi “sông trăng” là một

nét vẽ thơ mộng và độc đáo. Cả hai câu thơ của Hàn Mạc Tử, câu thơ nào

cũng có trăng. Ánh trăng tỏa sáng dòng sơng, con thuyền và bến đò. Con

thuyền khơng chở người (vì người xa cách chia li) mà chỉ “chở trăng về”

phải “về kịp tối nay” vì đã cách xa và mong đợi sau nhiều năm tháng. Con

thuyền tình của ước vọng nhưng đã thành vơ vọng! Bến sơng trăng trở nên

vắng lặng vì “thuyền ai”: Con thuyền vô định. Phiếm chỉ — là con thuyền

mồ cơi. Còn đâu cơ gái Huế diễm kiều, e ấp, mà chơ vơ còn lại con thuyền

mồ cơi khắc khoải đợi chờ trăng!

Sau cảnh gió, mây, là con thuyền, bến đợi và sông trăng. Cảnh đẹp một

cách mộng ảo. Cả ba hình ảnh ấy đều biểu hiện một nỗi niềm, một tâm

trạng cô đơn, thương nhớ đối với cảnh và người nơi thôn Vĩ. Như ta đã

biết, thời trai trẻ, Hàn Mặc Tử đã từng học ở Huế, từng có một mối tình

đơn phương với một thiếu nữ thơn Vĩ, mang tên một lồi hoa. Với chàng

thi sĩ tài hoa đa tình và bất hạnh, đang sống trong cô đơn và bệnh tật, nhớ

Vĩ Dạ là nhớ cảnh cũ người xưa. Cảnh “gió theo lối gió, mây đường mây”,

cảnh thuyền ai đậu bến sơng trăng đó là cảnh đẹp mà buồn., Buồn vì chia

lìa, xa vắng, lẻ loi và vô vọng.

3. Nét tương đồng và khác biệt

a. Tương đồng:

+ Cả hai đoạn thơi đều là sự cảm nhận của cái tơi trữ tình về khung cảnh

sơng nước q hương.

54



+ Chính cái tơi lãng mạn chắp cánh cho cảnh vật thêm thơ mộng, huyền

ảo, lung linh. Cả hai đoạn thơ đều cho thấy nét bút tài hoa của hai thi sĩ.

b. Khác biệt:

+ Đoạn thơ trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ mang màu sắc tâm trạng chia

ly,mong nhớ khắc khoải.

+ Đoạn thơ trong bài thơ Tây Tiến mang nỗi nhớ da diết về thiên nhiên

miền Tây, về kỷ niệm kháng chiến.

4. Lí giải sự tương đồng và khác biệt

+ Cả Quang Dũng và Hàn Mặc Tử đều là những hồn thơ lãng mạn, tài hoa.

+ Mỗi nhà thơ đều mang một cảm xúc riêng khi đứng trước khung cảnh

sơng nước.

+ Hồn cảnh sáng tác: cảnh ngộ riêng của mỗi nhà thơ và hoàn cảnh thời

đại để lại dấu ấn trong cảm xúc và hình ảnh thơ của mỗi nhà thơ.

Kết bài :

Đánh giá chung

– Hai đoạn thơ thể hiện cho vẻ đẹp tâm hồn của hai nhà thơ ở hai thời

cuộc, hai cảnh ngộ khác nhau

-Hai đoạn thơ kết tinh tài năng nghệ thuật của Hàn Mặc Tử và Quang

Dũng



55



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. KẾT BÀI: Kêt thúc vấn đề, tổng kết lại vấn đề nghị luận.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×