Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cốt liệu sản xuất bê tông:

Cốt liệu sản xuất bê tông:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Cốt liệu sản xuất bê tơng:

• Các vật liệu thơng thưòng hay được sử dụng như cát, sỏi, đá dăm

cho bê tông thường nặng từ 135 đến 160 lb/ft 3. Nhiều loại đá

phiến sét, gạch phồng được sử để sản xuất ra bê tơng nhẹ có khối

lượng thể tích từ 85-115lb/ft3. Các loại bê tơng nhẹ hơn nữa có

khối lượng thể tích từ 15- 90 lb/ft3, sử dụng khống chất, đá bọt,

đa trân châu làm cốt liệu được gọi là bê tông cách điện. Việc sử

dụng vật liệu như nhôm, khoáng chất, sắt thép, và các phần tử sắt

để chế tạo bê tơng nặng với khối lượng thể tích có thể đạt

400lb/ft3.

• Cốt liệu cần có những đặc tính nhất định để chế tạo bê tơng có

tính cơng tác, tính bền cao, và tính kinh tế. Các tính chất cơ bản

đó được giới thiệu trong bảng 4—10 tương ứng với thí nghiệm

theo tiêu chuẩn ASTM hoặc theo thực tế và các yêu cầu kĩ thuật

của chúng.

12



Cốt liệu sản xuất bê tơng:

• Thí nghiệm thường dùng để đo mức độ chống mài mòn của cốt

liệu là thiết bị Los Angeles. Một lượng cốt liệu cho đổ vào trống

sắt với những viên bi sắt, trống quay theo số vòng đã được định

trước, tỷ lệ phần trăm vật liệu bị mài mòn được xác định. Có thể

thấy rằng, thí nghiệm là một tiêu chí chung cho chất chất lượng

cốt liệu, và nói chung là khơng có mối liên quan trực tiếp tới tính

chống mài mòn của bê tơng sử dụng cùng loại cốt liệu.

• Độ rỗng, mức hút nước, và cấu trúc rỗng cho phép xác định sự

chống lại băng tan của một loại cốt liệu. Nếu cốt liệu hút quá

nhiều nước, khi chúng bị phơi lộ trên băng tuyết thì sẽ khơng có

khơng gian để nước nở thể tích. Với bất kỳ mức độ đóng băng

nào, có thể có một cỡ hạt mà hạt vật liệu sẽ bị phá hủy nếu vật liệu

bão hòa nước hồn tồn.

13



Cốt liệu sản xuất bê tơng:

• Mặc dù cốt liệu được coi như là thành phần “bên trong” của hỗn

hợp bê tông nhưng vẫn xảy ra các phản ứng kiềm. Nếu khơng có

tài liệu thống kê, hoặc một loại cốt liệu mới đang được sử dụng,

cần tiến hành thí nghiệm để xác định phản ứng kiềm – cốt liệu.

• Cấu trúc và hình dạng các hạt ảnh hưởng đễn bê tông tươi hơn với

bê tông đã rắn chắc. Cấu trúc thô hoặc hạt mỏng yêu cầu lượng

dùng nước nhiều hơn để tạo ra bê tơng có tính cơng tác so với cốt

liệu tròn, nhẵn.

• Cốt liệu dạng thoi, dẹt, góc cạnh nhọn cũng yêu cầu lượng xi

măng nhiều hơn để giữ nguyên tỷ lệ nước/xi măng. Vì vậy hàm

lượng các hạt dẹt, thoi khơng lớn hơn 15% khối lượng cốt liệu.

• Sử dụng sỏi tròn sẽ thường giảm được 15 lb. nước trộn bê tông, và

giảm được lượng dùng xi măng tương ứng, vì vậy sẽ sản xuất ra bê

tông tiết kiệm hơn.

14



Cốt liệu sản xuất bê tơng:

• Thành phần hạt và kích thước lớn nhất được xác định bằng bộ sàng

tiêu chuẩn.

• Thành phần hạt và kích thước lớn nhất của cốt liệu ảnh hưởng đến

liều lượng cốt liệu cũng như là lượng xi măng và nước trộn, tính

cơng tác, tính kinh tế, độ rỗng và tính co thể tích của bê tơng.

• Thành phần hạt khơng đồng nhất có thể ảnh hưởng lớn đến tính

đồng nhất của bê tơng với các mẻ trộn khác nhau.

• Cát q thơ thường sản xuất ra hỗn hợp bê tơng có tính cơng tác

kém, còn cát q mịn thường sản xuất ra bê tơng khơng kinh tế.

• Nói chung, cốt liệu có đường cong thành phần hạt trơn, nghĩa là

không vượt quá hoặc thiếu hụt các cỡ hạt, cho hỗn hợp bê tơng tốt

nhất. Để đảm bảo tính cơng tác cho q trình trộn bê tơng nghèo,

thành phần hạt phải đạt được tỷ lệ % lớn nhất lọt qua các sàng như

mong muốn.

15



Cốt liệu sản xuất bê tơng:

• Khối lượng đơn vị thể tích biểu thị bằng pcf hoặc kg/m3.

– Cốt liệu nhẹ cách điện : 6-70lb/ft3, cốt liệu nhẹ của kết cấu: 30-70

lb/ft3 cốt liệu cho bê tông nhẹ thông thường: 75-110 lb/ft3

– Cốt liệu cho bê tơng nặng: 110-290 lb/ft3



• Khối lượng riêng khơng được dùng để đánh giá chất lượng cốt liệu,

nhưng được dùng để thiết kế và khống chế thành phần bê tơng.

• Để sử dụng trong tính tốn thiết kế thành phần bê tơng, khối lượng

đơn vị thể tích của cốt liệu được xác định ở trạng thái bão hồ

nước, bề mặt khơ (Tiêu chuẩn ASTM C127, ASTM C128).

• Độ ẩm của cốt liệu được phân thành độ ẩm bên trong gọi là độ ẩm

do hút nước và độ ẩm bên ngoài hoặc độ ẩm bề mặt. Cần phải biết

độ ẩm của cốt liệu để khống chế khối lượng của một mẻ bê tông và

lượng nước chứa trong bê tông.

16



Cốt liệu sản xuất bê tơng:



17



Phụ gia trong chế tạo bê tơng xi măng

• Thành phần bê tơng cơ bản có thể được thay đổi bằng việc pha

trộn thêm phụ gia.

• Phụ gia được định nghĩa là một loại vật liệu khác với xi măng, cốt

liệu và nước được trộn thêm vào bê tông hoặc hỗn hợp vữa truớc

khi hoặc trong khi trộn. Phụ gia nói chung được sử dụng cho một

hoặc nhiều lý do sau:















Cải thiện tính cơng tác của bê tơng tươi;

Giảm nước dùng, nên có thể tăng Rbt ứng với tỷ lệ N/X nào đó;



Tăng độ bền của xi măng đã rắn chắc;

Kéo dài hoặc rút ngắn thời gian đông kết;

Tạo màu cho bê tơng;

Tăng tính ổn định thể tích bằng cách giảm bớt hoặc bù lại sự co ngót

trong quá trình bảo dưỡng;

– Tăng khả năng chống lại tác hại của băng giá.

18



Phụ gia trong chế tạo bê tông xi măng

• Đa số các loại phụ gia có nhiều hơn một tính năng, ví dụ, khi dùng

phụ gia cuốn khí, có thể tăng tính ổn định của bê tơng dưới tác

dụng của băng giá, giảm tính tiết nước, tăng tính cơng tác hỗn hợp

của bê tơng tươi.

• Đơi khi phụ gia tạo ra các phản ứng ngược lại với một mong

muốn. Ví dụ, một số loại bột mịn làm tăng tính cơng tác của bê

tơng có xu hướng làm tăng độ co khơ của bê tơng.

• Do hiệu quả sử dụng phụ gia rất khác nhau với những loại và

lượng dùng xi măng khác nhau, hình dạng cốt liệu, thành phần

hạt, tỷ lệ thành phần bê tông, thời gian trộn, lượng nước dùng, bê

tơng, và nhiệt độ khơng khí,

=> khuyến cáo nên thí nghiệm trước khi sử dụng một loại phụ gia

nào đó.

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cốt liệu sản xuất bê tông:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×