Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
VIII. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ĐỘ CHO CỐT LIỆU

VIII. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ĐỘ CHO CỐT LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

VIII. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI PHÁP

TĂNG CƯỜNG ĐỘ CHO CỐT LIỆU



Dùng cốt liệu có

cấp phối tốt để

tăng độ chặt cho

cốt liệu



27



VIII. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI PHÁP

TĂNG CƯỜNG ĐỘ CHO CỐT LIỆU



Tác động lu rung

làm chặt cốt liệu



28



VIII. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI PHÁP

TĂNG CƯỜNG ĐỘ CHO CỐT LIỆU

3- Kích thước lớn nhất của cốt liệu: KT lớn nhất của cốt liệu càng

lớn thì cường độ của nó càng cao. Các hạt lớn hơn tạo độ liên kết

xen kẽ, chồng chéo nhau tốt hơn.

4- Hình dạng và bề mặt hạt của cốt liệu:

– Các hạt có dạng nhiều mặt vỡ có có khả năng phát triển cường

độ cao so với trường hợp các hạt có dạng tròn do diện tích tiếp

xúc nhiều hơn. Các hạt có dạng dẹt dễ dàng trượt lên nhau và

dẫn đến làm suy giảm cường độ.

– Bề mặt các hạt nhám sẽ làm tăng cường độ vì nó làm tăng lực

ma sát giữa các hạt với nhau.



29



VIII. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI PHÁP

TĂNG CƯỜNG ĐỘ CHO CỐT LIỆU



5- Một số chất pha trộn thêm với cốt liệu: Một vài chất có

thể được sử dụng với mục đích tăng thêm cường độ cho

cốt liệu bao gồm: sét, muối, vơi, xi măng pooclăng,

bitum.

- Sét: Cường độ cốt liệu có thể được cải thiện bằng cách

thêm vào một lượng sét, đây là một dạng của đất với các

hạt rất mịn có tính dính hay xu hướng dính kết với nhau.

Cường độ tạo ra bởi sự dính kết được tăng cường thêm

vào cường độ kháng cắt của cốt liệu. Đất sét trong

trường hợp này đóng vai trò như dạng xi măng hay hồ

dính.



30



VIII. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI PHÁP

TĂNG CƯỜNG ĐỘ CHO CỐT LIỆU

– Muối CaCl2 hay NaCl: Trộn đều muối với cốt liệu cùng với

một lượng nước tạo độ ẩm thích hợp. Bằng cách đó sẽ tạo nên

một dạng dung dịch nước muối. Dung dịch nước muối này sẽ

tạo nên một lớp màng bao quanh hạt cốt liệu, làm tăng thêm

sức căng bề mặt so với trường hợp các hạt cốt liệu ở độ ẩm

thông thường, và do đó nó làm tăng thêm tính dính giữa các

hạt. Lớp màng này làm cho các hạt có thể dịch chuyển đến gần

nhau hơn so với trường hợp ẩm thông thường khi cốt liệu chịu

tác động của lực đầm. Có thể cho rằng nó có khả năng bơi trơn

tốt hơn so với lớp nước thơng thường. Tính dính tăng lên, tỷ

trọng tăng lên chính là yếu tố làm cho cường độ tăng lên.



31



VIII. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI PHÁP

TĂNG CƯỜNG ĐỘ CHO CỐT LIỆU

– Vôi: Vôi được trộn lẫn với cốt liệu với hàm lượng khoảng 2 đến 4%

so với khối lượng cốt liệu. Nước được sử dụng để tạo ra một hỗn

hợp hoàn hảo và để kết hợp hóa học với vơi tạo ra sản phẩm cuối

cùng chính là đá vơi. Vơi thực hiện vai trò gia cường cho cốt liệu

bằng hai cách.

• Nó phản ứng với sét làm cho các hạt kết hợp lại với nhau tạo

thành những hạt lớn hơn. Các hạt lớn hơn mới được hình thành

sẽ khơng bị trương nở q mức khi bị ẩm giống như hiện tượng

thường có với các hạt sét thơng thường.

• Vơi cũng có thể làm cứng hóa một khối bằng cách phản ứng với

silic và nhôm trong sét và cốt liệu. Từ các phản ứng hóa học này

sản phẩm CaO.SiO2 và CaO.Al2O3 được hình thành. Những chất

mới này đóng vai trò là chất kết dính để dính kết các hạt lại với

nhau. Những chất kết dính này chính là những chất có trong

thành phần của xi măng Pooc lăng và tạo khả năng dính kết cho

nó. Puzơlan cũng có thể được sử dụng để cung cấp lượng silic và

nhôm khi cốt liệu không chứa đủ. Những chất này dễ dàng kết

hợp với vôi để tạo thành một chất mới có khả năng

kết dính.

32



VIII. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI PHÁP

TĂNG CƯỜNG ĐỘ CHO CỐT LIỆU

– Xi măng: Xi măng pooclăng hay xi măng atphan có thể được

dùng để trộn vào lớp đệm cốt liệu làm tăng thêm cường độ của

nó. Sự gia cường này khơng giống như việc sản xuất bê tông

xi măng hay bê tông atphan. Nó chỉ có nghĩa là cho thêm và

trộn một lượng nhỏ xi măng nhằm cải thiện cường độ của cốt

liệu.

– Sản xuất bê tông: Bê tông là dạng cốt liệu được gia cường

bằng hồ xi măng pooclăng hoặc xi măng atphan sao cho một

dạng vật liệu mới được hình thành, mà khơng còn có dạng của

các hạt nữa. Vật liệu mới được hình thành có dạng cứng và

đặc trong trường hợp bê tơng xi măng pooclăng, và có dạng

nửa cứng trong trường hợp bê tông atphan. Cường độ bê tông

phụ thuộc vào cường độ cốt liệu, cường độ của chất dính kết

và khả năng liên kết giữa chúng.

33



IX. CÁC TẠP CHẤT CĨ HẠI

• Trong cốt liệu có một số loại tạp chất mà khi vượt quá giới hạn sẽ

có hại cho bất kỳ mục đích sử dụng nào nào. Giới hạn thành phần

cho phép phụ thuộc vào việc sử dụng cốt liệu. Một lượng nhỏ tạp

chất có thể được cho phép trong cốt liệu sử dụng trong bê tông xi

măng pooclăng, bê tông atphan hoặc cho tầng lọc tuy nhiên hàm

lượng cho phép có thể lớn hơn đối với cốt liệu sử dụng cho lớp

đệm.

• Tiêu chuẩn ASTM C33 đề cập đến giới hạn cho phép của bảy loại

tạp chất có hại phải được kiểm tra trong cốt liệu sử dụng cho bê

tông xi măng pooclăng. Lượng cho phép lớn nhất được liệt kê

theo phần trăm khối lượng của toàn mẫu cốt liệu mịn và cốt liệu

thô. Các loại tạp chất được kể đến đó là các hạt giòn; các hạt mịn

hơn cỡ No.200; các hạt mềm yếu; than đá và than nâu; đá phiến

silic; tạp chất hữu cơ; và các vật liệu có phản ứng với kiềm trong

xi măng.

34



IX. CÁC TẠP CHẤT CĨ HẠI

1- Các hạt giòn: Là những thành phần dễ bị vỡ vụn, ví dụ như đất sét dạng cục, đá

cát kết yếu, quặng ơxy hóa. Khi các thành phần này có hàm lượng quá nhiều

gây nên sự thay đổi cấp phối với nhiều hạt mịn hơn vì các hạt đó sẽ bị phá vỡ

trong q trình sử dụng.

2- Các hạt mịn hơn cỡ No.200: Là những hạt lọt qua cỡ sàng No.200. Một lý do

phải hạn chế các hạt mịn này đó là nó sẽ tạo thành một lớp bao ngoài các hạt

lớn hơn. Lớp bao này sẽ làm cản trở sự bám dính của hồ xi măng pooclăng

hoặc chất kết dính atphan với cốt liệu. Trong bê tông xi măng pooclăng, các hạt

mịn này hoặc là ở dạng rời hoặc bao bề mặt các hạt sẽ hấp thụ nước trước khi

nước có thể kết hợp với xi măng để tạo hồ. Các hạt vật liệu mịn có thể là thành

phần cần hạn chế trong vật liệu làm tầng lọc bởi vì nó sẽ hoặc bị rửa trôi qua

tầng lọc hoặc phần nào làm tắc tầng lọc, hậu quả phụ thuộc vào kích thước

tương đối của hạt mịn và vào vật liệu làm tầng lọc.

3- Các hạt mềm yếu: Là những hạt có để lại vết khía sau khi rạch trên bề mặt mới

bị phá vỡ của hạt bởi một que đồng nhọn với một lực 2lb. Các hạt mềm yếu có

hại khi cốt liệu chịu mài mòn, ví dụ như những con đường rải sỏi, đường bê

tông bitum, hoặc đường bê tông xi măng pooclăng. Mối quan tâm chính là các

hạt mềm yếu sẽ bị nén vỡ hoặc mài mòn thành bột, do đó phá vỡ tính liên tục

của cấu trúc cốt liệu bởi nó sẽ làm bong một vài hạt cốt liệu giữ vai trò hoặc là

truyền ứng suất cắt hoặc duy trì sự liên tục của bề mặt. Vì lý do đó, các hạt

mềm yếu không là vấn đề cần quan tâm đối với cốt liệu mịn.

35



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

VIII. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ĐỘ CHO CỐT LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×