Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tính cấp thiết của đề tài

Tính cấp thiết của đề tài

Tải bản đầy đủ - 0trang

triển nguồn nhân lực đến năm 2020". Mục tiêu của chiến lược là tập trung phát triển

nguồn nhân lực chất lượng cao, đa ngành, đa lĩnh vực, tạo điều kiện cho mọi người

dân đều có cơ hội được làm việc, học tập, nâng cao trình độ chun mơn, tay nghề.

Đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực nông thôn với chỉ số ước đạt 55% lao động có

tay nghề cao, có khả năng đáp ứng những thách thức của nền kinh tế thị trường trong

hiện tại và tương lai. Một trong những giải pháp quan trọng được chiến lược hướng

đến là tiến hành đào tạo nghề cho lao động nông thơn.

Trên những cơ sở đó, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính

sách lớn về đào tạo nghề cho lao động nói chung và lao động nơng thơn nói riêng. Tuy

nhiên, để chính sách mang lại hiệu quả cao, hoàn thành những mục tiêu đề ra thì việc

tổ chức thực thi chính sách đóng vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định đến sự thành

công của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước.

Vĩnh Linh là huyện vùng cao nằm ở phía Tây của tỉnh Quảng Trị. Cùng với sự

phát triển chung của cả nước, tình hình kinh tế - xã hội của huyện dần đi vào ổn định

và có chiều hướng tăng trưởng tốt. Tuy nhiên, nông nghiệp vẫn là lĩnh vực sản xuất vật

chất quan trọng và cơ bản của huyện, thu hút nhiều lao động nông thôn. Trong thời

gian qua, trên cơ sở những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, việc tổ chức

thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nơng thơn của huyện đã có nhiều

chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả đáng ghi nhận, bước đầu đã hoàn

thành kế hoạch đặt ra, đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của các cơ sở sản xuất kinh

doanh, dịch vụ, doanh nghiệp. Bên cạnh những kết quả đã thì vẫn còn tồn tại nhiều hạn

chế, chưa đáp ứng được nhu cầu học nghề của người lao động, thiếu hợp lý. Nhiều nội

dung thực hiện chính sách còn lúng túng, bị động dẫn đến hiệu quả mang lại khơng

cao. Chính vì vậy, trong thời gian tới để thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và

lao động từ nền sản xuất thuần nông sang sản xuất đa ngành nghề và đẩy mạnh phát

triển công nghiệp dịch vụ thì việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông

thôn trên địa bàn huyện cần phải được đổi mới, chú trọng hơn nữa.

Từ thực tiễn đặt ra đó và được sự phân cơng thực tập tốt nghiệp của Khoa Hành

chính học - Học viện hành chính Quốc gia cơ sở TP. Hồ Chí Minh nên tác giả tiến

hành lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao

động nơng thơn tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị”.

2. Tình hình nghiên cứu

Trong thời gian qua, có khá nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến đào tạo nghề



cho lao động nói chung và lao động nơng thơn nói riêng:

- Luận văn: “Thực trạng đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp trong

bối cảnh hiện nay” (2008) của ThS. Phan Minh Hiền - Viện Khoa học Giáo dục Việt

Nam, nghiên cứu thực trạng các khía cạnh về cơ cấu trình độ đào tạo, số lượng, chất

lượng và đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực của đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu

doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay.

- Luận án Tiến sỹ “Nghiên cứu việc làm của lao động qua đào tạo nghề tại Việt

Nam”(2008) của tác giả Bùi Tơ Hiến, nghiên cứu về thực trạng và tình hình sử dụng

lao động đã qua đào tạo nghề ở Việt Nam hiện nay. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm

nâng cao hiệu quả sử dụng lực lượnglao động qua đào tạo nghề ở Việt Nam trong thời

gian tới.

- Đề tài nghiên cứu “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn con đường ngắn

nhất đưa khoa học kỹ thuật về nông thôn” (2009) của tác giả Phan Tuấn Minh Trường Cao đẳng NN&PTNT Bắc Bộ, nghiên cứu về vai trò của quan trọng của đào

tạo nghề cho LĐNT trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học - kỷ thuật vào sản xuất

nông nghiệp theo hướng hiện đại ở khu vực nông thôn.

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu cơ sở khoa học của các hình

thức dạy nghề nâng cao kiến thức cho lao động nông thôn” (2009) của tác giả

Phạm Thanh Hải, đề tài tập trung vào nghiên cứu những lý do, căn cứ mang tính khoa

học của việc sử dụng các hình thức dạy nghề cho người LĐNT phù hợp với tình hình

thực tiễn của địa phương.

- Khóa luận tốt nghiệp“Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo

nghề cho lao động nông thôn ở huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam” (2009) của tác

giả Phạm Thị Khánh Quỳnh - Trường Đại học Nơng nghiệp Hà Nội, đề tài tập trung

phân tích thực trạng của công tác đào tạo nghề cho LĐNT trên cơ sở tình hình kinh tế,

xã hội của huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp, kiến

nghị nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo nghề cho huyện Thanh Liêm trong

những năm tiếp theo.

- Luận văn “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Điện Bàn, tỉnh

Quảng Nam” (2012) của tác giả Phan Văn Bình - Trường Đại học Đà Nẵng, nghiên

cứu về thực trạng đào tạo nghề cho LĐNT tại huyện Điện Bàn, trên cở sở phân tích

thực trạng đó nhằm đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho



LĐNT.

Cùng nghiên cứu về vấn đề đào tạo nghề cho LĐNT nhưng mỗi đề tài tiếp cận

dưới góc độ khác nhau. Các kết quả nghiên cứu trên về cơ bản đã có đóng góp nhất

định trong việc nghiên cứu vấn đề đào tạo nghề cho lao động nói chung và LĐNT nói

riêng cũng như đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề

cho LĐNT trong thời gian tới ở nước ta.

Ngoài ra, theo thống kê tại thư viện Học viện Hành chính Quốc gia cơ sở Tp. Hồ

Chí Minh, trong số hơn 600 luận văn cao học và gần 400 khoá luận cử nhân từ KS1KS10 chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên đề trên. Riêng đối với công tác đào tạo

nghề cho LĐNT tại huyện Vĩnh Linh, đến nay chưa có một cơng trình nào nghiên cứu

về vấn đề này. Việc nghiên cứu chỉ có một số bài báo, báo cáo của huyện nhằm đánh

giá những kết quả đạt được qua các năm triển khai thực hiện Đề án 1956 của Thủ

tướng Chính phủ về đào tạo nghề cho LĐNT.

Từ tình hình nghiên cứu như trên,việc nghiên cứu đề tài dưới góc nhìn của chính

sách là một đề tài mới, khơng trùng lắp, đòi hỏi việc nghiên cứu phải trên cơ sở chính

sách của nhà nước gắn với tình hình đặc thù của huyện để hoạt động thực thi chính

sách đào tạo nghề cho LĐNT có hiệu quả cao hơn trong thời gian tới.

3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT huyện

Vĩnh Linh - tỉnh Quảng Trị trong thời gian qua; phân tích, đánh giá những yếu tố ảnh

hưởng đến chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT của huyện, từ đó đề xuất một số giải

pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho người LĐNT của huyện trong thời

gian tới.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa về cơ lý luận và thực tiễn về tổ chức thực hiện chính sách đào tạo

nghề cho lao động nông thôn tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.

- Nghiên cứu thực tiễn quá trình tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao

động nơng thơn trên địa bàn huyện.

- Đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn của huyện

Vĩnh Linh trong thời gian qua.



- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của tổ chức thực thi

chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện.

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động

nông thôn trên địa bàn huyện trong thời gian tới.

4. Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu đối tượng có liên quan đến việc thực thi chính sách đào tạo nghề

cho LĐNT trên địa bàn huyện Vĩnh Linh như: người học nghề, cán bộ quản lý, giáo

viên dạy nghề; doanh nghiệp tham gia dạy nghề hoặc sử dụng lao động sau khi đào tạo

nghề trên địa bàn và một số đối tượng có liên quan.

- Nghiên cứu những vấn đề có liên đến việc tổ chức thực thi chính sách đào tạo

nghề cho LĐNT trên địa bàn huyện Vĩnh Linh như các đề án, chương trình, chính

sách, tình hình triển khai thực hiên và một số kết quả đạt được.

5. Phạm vi nghiên cứu

5.1 Phạm vi về nội dung

Nghiên cứu về thực trạng triển khai thực hiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

trên địa bàn huyện Vĩnh Linh theo Quyết định 1956 ngày 27 tháng 11 năm 2009 của

Thủ tướng Chính phủ về “ Đào tạo nghề cho lao động nơng thơn đến năm 2020”, trong

đó tập trung nghiên cứu và đánh giá các kết quả đạt được theo các nội dung của Đề án

như mơ hình, hình thức, nghành nghề đào tạo…

5.2 Phạm vi về không gian

Trọng tâm là tập trung nghiên cứu về tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề

cho lao động nơng thơn tại huyện Vĩnh Linh.

5.3 Phạm vi về thời gian

Nghiên cứu, thu thập thơng tin trong q trình tổ chức thực hiện chính sách đào

tạo nghề trong thời gian 05 năm từ 2009 - 2013, trong đó tập trung vào nghiên cứu số

liệu trong 02 năm 2012 và 2013.

6. Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin (chủ nghĩa duy vật biện

chứng và duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, chính sách của Đảng,

pháp luật của nhà nước về đào tạo nghề cho LĐNT. Ngoài ra, đề tài sử dụng các



phương pháp nghiên cứu sau:





Phương pháp thu thập thơng tin, dữ liệu



Thu thập, tìm hiểu những tài liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài, có liên quan đến

vấn đề đào tạo nghề, các vấn đề liên quan nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề nói

chung và chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn nói riêng; trong đó bao gồm

các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các kết quả nghiên cứu trong và

ngoài nước và các tài liệu thống kê các cấp.

Nguồn số liệu: nguồn số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài được thu thập từ

hai nguồn sơ cấp và thứ cấp.

Nguồn số liệu thứ cấp: đây là những nguồn số liệu được thu thập từ các cơ quan

ban ngành, đã quan xử lý và tính tốn. Số liệu được thu thập tại phòng LĐ-XH huyện,

các phòng, ban ngành có liên quan, … trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.

Nguồn số liệu sơ cấp: đây là những số liệu thu thập được chưa qua xử lý, tác giả tiến

hành xử lý và tính tốn để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài.





Phương pháp điều tra phỏng vấn



Tiến hành phỏng vấn trực tiếp các đối tượng có liên quan đến việc tổ chức thực

hiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT trên địa bàn huyện bao gồm: cán bộ quản lý

công tác đào tạo nghề, giáo viên dạy nghề cho LĐNT, các đối tượng tham gia học

nghề, các doanh nghiệp tham gia đào tạo và sử dụng lao động sau khi đào tạo trên địa

bàn huyện. Việc điều tra phỏng vấn có thể tiến hành bằng bảng hỏi hoặc phỏng vấn

trực tiếp.





Phương pháp nghiên cứu thực địa



Nghiên cứu, khảo sát quá trình tổ chức thực hiện đào tạo nghề cho LĐNT trên

địa bàn huyện, khảo sát nhu cầu học nghề, cơng tác tun truyền chính sách, mơ hình

đào tạo nghề tại một số xã, thị trấn trên địa bàn huyện.





Phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh, đối chiếu



Từ những kết quả đạt được trong q trình chức thực hiện chính sách, thơng qua

những số liệu tổng hợp, tiến hành phân tích, đánh giá các kết quả. Liên hệ, đối chiếu

kết quả với một số địa phương khác hoặc giữa các xã, thị trấn trong địa bàn huyện, so

sánh những kết quả đạt được với mục tiêu đề ra.



Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo nội dung chính của

khố luận được tổ chức làm 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động

nông thôn.

Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động

nông thôn tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.

Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách đào tạo nghề

cho lao động nông thôn tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.



CHƯƠNG 1: LUẬN CHUNG VỀ VIỆC TỔ CHỨC THỰC HIỆN

CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm nghề

Cho đến nay, khái niệm “Nghề” được hiểu theo nhiều cách khác nhau:

Ở Pháp: Nghề là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của con

người để từ đó tìm được phương tiện sống.

Còn ở Đức, nghề được định nghĩa: Nghề là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một

lĩnh vực lao động nhất định, đòi hỏi phải được đào tạo ở một trình độ, chun mơn

nhất định.



Như vậy, có thể hiểu nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử phổ biến, gắn

chặt với sự phân công lao động của xã hội, với tiến bộ của khoa học - kỹ thuật và văn

minh của nhân loại.

Tại Việt Nam, “Nghề” là một tập hợp những kỹ năng, kỹ xảo do sự phân công

lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang tính tương đối,

nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ phát triển của nền sản xuất hay do sự

thay đổi nhu cầu của xã hội.

Mặc dù khái niệm “Nghề” được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, song có thể

thấy một số nét đặc trưng nhất định:

Một là, nghề là hoạt động, là công việc lao động của con người được lặp đi lặp lại.

Hai là, nghề là sự phân công là động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội.

Ba là, nghề là phương tiện để sinh sống.

Bốn là, nghề là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã

hội, đòi hỏi phải có q trình đào tạo nhất định.

1.1.2 Khái niệm đào tạo nghề

Đào tạo được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình

thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ,…để hoàn thiện

nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có

năng suất và hiệu quả.

Đào tạo nghề là quá trình trang bị kiến thức nhất định về trình độ chun mơn

nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận một cơng việc nhất định. Hay nói

cách khác đó là q trình truyền đạt, lĩnh hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết để

người lao động có thể thực hiện một cơng việc nào đó trong tương lai.

Đào tạo nghề là những hoạt động giúp cho người học có được các kiến thức về

lý thuyết và kỹ năng thực hành một số nghề nào đó sau một thời gian nhất định người

học có thể đạt được một trình độ để tự hành nghề, tìm việc làm hoặc tiếp tục học tập

nâng cao tay nghề nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của xã hội.

Luật Dạy nghề năm 2006 định nghĩa: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm

trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có

thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hồn thành khóa học”. Có thể thấy,



về cơ bản khái niệm đào tạo nghề và dạy nghề khơng có sự khác biệt nhiều về nội

dung.

Đào tạo nghề phục vụ cho mục tiêu kinh tế - xã hội, trước hết là thực hiện phân

công và chuyên môn hoá lao động, tạo cơ hội cho mọi người đều được học tập nghề

nghiệp để dễ dàng tìm kiếm việc làm hoặc nâng cao trình độ tay nghề của bản thân.

1.1.3 Khái niệm lao động

Xét về mặt từ ngữ, có thể hiểu khái niệm “Lao động” theo hai cách sau:

Theo nghĩa động từ, lao động là hoạt động quan trọng nhất con người để tạo ra

của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội.

Theo nghĩa danh từ, theo khái niệm của Liên hợp quốc thì: “Lao động là tổng thể

sức lực dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động

của con người vào cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội.

Trong từng thời kỳ, và ở mỗi một nước trên thế giới quy định độ tuổi lao động

khác nhau. Ở nước ta, theo bộ Luật Lao động, độ tuổi lao động được quy định đối với

nam từ 15 tuổi đến 60 tuổi, đối với nữ từ 15 tuổi đến 55 tuổi. Xét về khía cạnh việc

làm, lực lượng lao động gồm hai bộ phận là có việc làm và thất nghiệp.

1.1.4 Khái niệm lao động nông thôn

1.1.4.1 Khái niệm

LĐNT là những người thuộc lực lượng lao động và tham gia hoạt động sản xuất

trong hệ thống kinh tế nông thôn.

LĐNT là những người dân không phân biệt giới tính, tổ chức, cá nhân sinh sống

ở vùng nơng thơn, có độ tuổi từ 15 trở lên, hoạt động sản xuất ở nơng thơn. Trong đó

bao gồm những người đủ các yếu tố về thể chất, tâm sinh lý trong độ tuổi lao động

theo quy định của bộ Luật Lao động và những người ngồi độ tuổi lao động có khả

năng tham gia sản xuất, trong một thời gian nhất định họ hồn thành cơng việc với kết

quả đạt được một cách tốt nhất.

1.1.4.2 Đặc điểm của lao động nông thôn

Do LĐNT sống chủ yếu ở khu vực nông thôn và tham gia sản xuất trong các

ngành nông, lâm, ngư nghiệp. Với những tính chất riêng của ngành nơng nghiệp nên

LĐNT có một số đặc điểm như sau:



Một là: LĐNT tham gia sản xuất mang tính thời vụ, có thời kỳ căng thẳng, có

thời kỳ nhàn rỗi. Điều này ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng lao động trong từng thời

kỳ, đời sống sản xuất và thu nhập của người lao động nơng nghiệp.

Hai là: do tính chất cơng việc trong sản xuất nơng nghiệp mà hình thành nên

tâm lý hay thói quen làm việc một cách khơng liên tục, thiếu tính kỷ luật cao, thiếu

sáng tạo của LĐNT.

Ba là: LĐNT nước ta vẫn còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu nông, sản xuất

nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động, việc tiếp cận với các tiến bộ

KH - KT còn nhiều hạn chế.

Bốn là: LĐNT có kết cấu phức tạp, khơng đồng nhất theo từng vùng, miền, có

năng lực và trình độ sản xuất rất khác nhau. Hoạt động sản xuất nông nghiệp được

tham gia bởi nhiều người ở nhiều độ tuổi khác nhau, trong đó có cả những người ở

ngồi độ tuổi lao động.

Năm là: thu nhập của người LĐNT còn thấp, không ổn định tuỳ thuộc vào từng

thời vụ, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, đặc biệt là tại vùng ven biển, vùng núi, vùng sâu, vùng

xa, đồng bào dân tộc thiểu số.

Sáu là: trình độ của LĐNT thấp khả năng tổ chức sản xuất kém, ngay thực tế cả

những người trong độ tuổi lao động thì trình độ vẫn thấp hơn so với lao động trong các

ngành kinh tế khác.

1.1.6 Chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

1.1.6.1 Khái niệm

Nhà nước là chủ thể quyền lực cao nhất trong xã hội, đồng thời cũng là chủ thể

để điều hòa và giải quyết mâu thuẫn, phân phối lợi ích giữa các giai tầng trong xã hội.

Để thực hiện được điều đó, Nhà nước sử dụng các chính sách như là một cơng cụ hữu

hiệu để thực hiện chức năng quản lý xã hội và cung cấp các dịch vụ công cho người

dân. Như vậy, chính sách cơng thể hiện sự lựa chọn và định hướng của Nhà nước trước

các vấn đề nảy sinh trong đời sống của xã hội.

T.S Nguyễn Hữu Hải: “Chính sách cơng là thái độ ứng xử của Nhà nước trước

những vấn đề phát sinh trong cuộc sống hằng ngày, được thể hiện dưới nhiều hình thức

khác nhau nhằm thúc đẩy xã hội phát triển”[2].



Từ khái niệm chính sách cơng, có thể hiểu chính sách đào tạo nghề cho LĐNT là

một bộ phận của chính sách cơng, là sự lựa chọn các mục tiêu và giải pháp nhằm

truyền đạt những kiến thức, kỹ năng của một nghề nào đó cho người lao động ở khu

vực nơng thơn. Từ đó tạo ra năng lực, những kỹ năng, kỹ xảo cho người lao động, giúp

họ có thể thực hiện thành cơng ngành nghề đã được đào tạo, đáp ứng nhu cầu của xã

hội trong khuôn khổ Hiến pháp và bộ Luật Lao động.

1.1.6.2 Vai trò của chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

Trong quá trình thực hiện CNH - HĐH đất nước, việc ban hành chính sách đào

tạo nghề cho LĐNT có vai trò cơ bản sau:

Một là, đào tạo nghề cho LĐNT nhằm tạo lực lượng lao động có trí tuệ có trình

độ chun mơn kỹ thuật, tay nghề cao

Trong nền kinh tế hiện đại, yếu tố về trí lực của người lao động ln đóng vai trò

then chốt cho sự phát triển xã hội. Cơ cấu lao động thay đổi theo hướng lao động trí

tuệ tăng nhanh, tầng lớp trí thức, nhân viên và cơng nhân có trí thức ngày càng đông

đảo. Phương thức hoạt động của con người đã chuyển từ nguồn lực tự nhiên, lao động

cơ bắp sang khai thác phổ biến nguồn lao động trí tuệ. Chính vì vậy, đào tạo nghề cho

LĐNT là con đường hiệu quả nhất trong việc tạo ra một lực lượng lao động trí tuệ có

trình độ chun mơn kỹ thuật, tay nghề cao.

Hai là, đào tạo nghề cho LĐNT giúp lực lượng lao động có lối sống lành mạnh

và bản lĩnh nghề nghiệp vững

Với trình độ dân trí thấp, cùng với việc sản xuất nơng nghiệp có tính thời vụ sẽ

dẫn đến một bộ phận lao động nông thôn dễ sa ngã vào các tệ nạn xã hội: ma túy, cờ

bạc, rượu chè... ảnh hưởng đến xã hội nói chung và gia đình, bản thân họ nói riêng. Vì

vậy, đào tạo nghề giúp cho người lao động biết sống cao đẹp, lành mạnh, văn minh.

Sống có ý nghĩa, tránh xa các tệ nạn xã hội, biết hướng tới cái đúng, có văn hóa nghề

nghiệp chân chính, cần cù, tiết kiệm, đoàn kết hợp tác trong lao động để nhân thêm

sức mạnh của con người và dân tộc Việt Nam trong thời đại mới.

Ba là, đào tạo nghề cho LĐNT hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của xã

hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo

hướng hiện đại là một quy luật tất yếu, điều này đòi hỏi cần có một lực lượng lao động

đủ năng lực và trình độ. Chính vì vậy, đào tạo nghề sẽ tạo ra một nguồn nhân lực có



tay nghề và trình độ chun mơn giỏi, nhạy bén, thích ứng với xu thế mới của nền kinh

tế, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH - HĐH đất nước.

Bốn là, đào tạo nghề cho LĐNT góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc

làm và phát triển các ngành nghề mới ở nông thôn.

Giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những chủ trương lớn của

Đảng và Nhà nước nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực phục vụ

cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, vấn đề giải

quyết việc làm còn gặp nhiều khó khăn, đa số lực lượng lao động hiện nay có kiến

thức và chun mơn thấp, khó có thể tìm kiếm được việc làm. Để tháo gỡ vấn đề này,

phát triển công tác đào tạo nghề sẽ là một biện pháp hữu hiệu nhằm đào tạo đội ngũ

lao động giúp họ có thể tham gia thị trường lao động. Đối với bộ phận LĐNT, thông

qua các lớp đào tạo nghề, họ có thể tự thân lập nghiệp ngay trên q hương mình. Đây

khơng chỉ là vấn đề giải quyết lao động dư thừa tại chỗ mà còn là điều kiện để phát

triển ngành nghề mới ở nông thôn.

1.1.7 Tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

1.1.7.1 Khái niệm

Tổ chức thực thi chính sách cơng là tồn bộ q trình chuyển ý chí của chủ thể

trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu

định hướng [3].

Cũng như việc tổ chức thực hiện các chính sách cơng khác, tổ chức thực thi

chính sách đào tạo nghề cho LĐNT là quá trình triển khai thực hiện các chủ trương,

chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề cho LĐNT thông qua việc sử dụng

tổng hợp các biện pháp, nhằm chuyển hóa những mục tiêu, mong đợi của Nhà nước

thành hiện thực.

1.1.7.2 Ý nghĩa của việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

Triển khai và thực hiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT mang lại những ý

nghĩa quan trọng cả về khía cạnh kinh tế và xã hội:

Một là, ý nghĩa về phát triển kinh tế

Đào tạo nghề cho LĐNT sẽ huy động được tối đa lực lượng lao động của xã hội

vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Phát triển lực lượng lao động thông qua

đào tạo nghề sẽ phát huy được năng lực, sở trường của từng người lao động và nhờ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tính cấp thiết của đề tài

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×