Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Tải bản đầy đủ - 0trang

báu có thể xem xét áp dụng trong việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT tại

huyện



CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH

ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI HUYỆN

VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ

2.1 Tổng quan về huyện Vĩnh Linh

2.1.1 Khái quát chung

Vĩnh Linh là huyện miền núi, vùng cao, biên giới nằm về phía Tây của tỉnh

Quảng Trị, là một trong 10 đơn vị hành chính của tỉnh. Tổng diện tích tồn huyện là

1150,86 km2. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía Nam và Tây giáp Cộng hồ dân chủ

nhân dân Lào, phía Đơng giáp với huyện Gio Linh, Vĩnh Linh và Đakrơng. Tồn

huyện có 22 đơn vị hành chính trong đó 20 xã và 02 thị trấn là Khe Sanh và Lao Bảo.

Tồn huyện có 13 xã đặc biệt khó khăn, 11 xã giáp biên với Lào, có cửa khẩu Quốc tế

Lao Bảo nằm trên trục đường Quốc lộ 9 nối liền với các nước trong khu vực: Lào,

Thái Lan, Mianma và Khu vực Miền Trung Việt Nam tạo ra hành lang kinh tế ĐơngTây, là vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, an ninh quốc phòng của nước ta. Có

đường biên giới dài 156 km tiếp giáp với 3 huyện nước bạn Lào. Với vị trí địa lý thuận

lợi, đây là điều kiện quan trọng cho việc giao lưu, buôn bán với các nước trong khu

vực, thúc đẩy kinh tế - xã hội của huyện ngày càng phát triển.

2.1.2 Điều kiện tự nhiên



Địa thế núi rừng Vĩnh Linh rất đa dạng, phong phú. Núi và sông xen kẻ nhau, tạo

thành địa hình chia cắt, sơng suối đều bắt nguồn từ núi cao. Khí hậu mang những nét

điển hình của khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm, bao gồm nhiều tiểu khí

hậu khác nhau, tạo ra những nét đặc sắc về khí hậu cho từng vùng, làm cho Vĩnh Linh

có tài nguyên thiên nhiên đa dạng, là một trong những thế mạnh để phát triển nội lực

và thu hút đầu tư vào địa bàn.

Đất đai chủ yếu có hai loại: cát pha và đất đỏ bazan, thuận lợi cho việc phát triển

nông - lâm nghiệp, đặc biệt là trồng cây công nghiệp lâu năm như cà phê, hồ tiêu, cao

su…Tài nguyên rừng và khoáng sản phong phú, có tiềm năng khai thác lâu dài. Nguồn

nước dồi dào từ những con sông: Sê Păng Hiêng, Sê Pôn, Rào Quán và hệ thống ao hồ,

hàng trăm con suối, khe nhỏ, nước ngầm, thuận lợi cho phát triển thuỷ điện và đáp ứng

nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của nhân dân.

2.1.3 Dân cư

Tính đến cuối năm 2012, dân số tồn huyện là: 78.845.000 người, 16.706 hộ,

bình qn 4,72 nhân khẩu/hộ. Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên là 1,78%. Dân cư trong

khu vực nông thôn là 57.884 người, chiếm 73,41%, tỷ lệ hộ nghèo là 23,8%, tỷ lệ

người dân chưa biết chữ là 14,6% trong đó tập trung lớn vào khu vực đồng bào DTTS.

Trên địa bàn huyện hiện có 3 dân tộc sinh sống là Kinh, Vân Kiều và Pa Cô, đồng bào

Vân Kiều, Pa Cô chiếm gần 50%.

2.1.4 Kinh tế - văn hoá - xã hội

Vĩnh Linh- mãnh đất với truyền thống dựng nước và giữ nước, bảo vệ biên

cương, là ngọn cờ nêu cao lòng kiên cường, khuất phục trước kẻ thù nào đã ghi vào

trang sử chói chang, vẻ vang mn thuở với những chiến thắng lẫy lừng của dân tộc

như: chiến thắng Khe Sanh, đường 9 Nam – Lào, Tà Cơn… Cùng với đó là những nét

đặc sắc văn hố riêng với cuộc sống cộng đồng và phong tục, tập quán độc đáo như:

Lễ đâm trâu, tục mừng mùa lúa mới, độc đáo hơn là tục đi sim của người Pa Kô, Vân

Kiều mà hiếm địa phương nào có được. Kết hợp với những mùa lễ hội, các phong tục,

những nhạc cụ cồng chiêng với những vũ điệu làm say đắm lòng người hồ lẫn với khí

thiêng sơng núi tạo nên một Vĩnh Linh có một khơng hai.

Nhờ biết khai thác và phát triển phù hợp với tiềm năng kinh tế - văn hoá, đến nay

huyện đã đạt được nhiều kết quả đáng kể, với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân

hàng năm đạt trên 8%. Riêng năm 2013, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 9,7%. Cơ cấu



kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ, thu nhập bình quân đầu người khoảng

18 triệu đồng/năm.

Những năm qua, Vĩnh Linh rất chú trọng trong việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ

tầng, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương phát triển và có ý nghĩa

quyết định trong việc thực hiện từng bước mục tiêu CNH - HĐH nông nghiệp nông

thôn. Mạng lưới điện, đường, trường, trạm khơng ngừng hồn thiện, nhiều cơng trình

được đầu tư xây dựng và đã vào sử dụng đem lại hiệu quả phục vụ sản xuất, phục vụ

đời sống dân sinh. Tổng số vốn xây đầu tư xây dựng thực hiện trên địa bàn năm 2013

đạt 477,7 tỷ đồng. Đến nay, 22/22 xã , thị trấn đã có điện lưới quốc gia vào đến trung

tâm xã; đường giao thông vào trung tâm 22/22 xã, thị trấn; 01 bệnh viện đa khoa với

quy mô trên 100 giường bệnh. Chất lượng dạy và học được quan tâm, cơ sở hạ tầng

trường lớp học khơng còn tạm bợ tranh, tre, nứa lá mà được xây dựng kiên cố, khang

trang. Bưa chính, viễn thơng ngày càng được đầu tư, mở rộng và hoàn thiện, 16/22 xã,

thị trấn đã có nước sạch sử dụng tại các thơn bản, làng xóm. Nhờ đó, đời sống của

người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao, việc tiếp cận của người dân với các

dịch vụ công cộng ngày càng được đẩy mạnh, tỉ lệ hộ nghèo ngày càng giảm, an ninh

quốc phòng được giữ vững.

Với những thế mạnh về điều kiện tự nhiên, xã hội, những nét văn hố phong phú

và đặc sắc cùng với đó là sự quan tâm, chú trọng đầu tư của Đảng và Nhà nước là

những điều kiện thuận lợi để Vĩnh Linh phát triển nông lâm nghiệp, công nghiệp và

dịch vụ thu hút đông đảo lực lượng lao động tham gia vào nhiều ngành nghề khác

nhau. Tạo ra nhiều cơ hội trong việc lựa chọn nghề nghiệp cho người lao động, đặc

biệt là LĐNT trên địa bàn huyện.

Bên cạnh đó, với những khó khăn về điều kiện tự nhiên, trình độ dân trí và nhận

thức của người dân còn nhiều hạn chế, tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên, hộ nghèo còn

cao. Phần lớn LĐNT chủ yếu dựa vào sản xuất nơng nghiệp, sản xuất canh tác còn lạc

hậu, việc tiếp cận và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất gặp nhiều

khó khăn. Chính vì vây, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là chất

lượng của LĐNT là một vấn đề cấp thiết mà chính quyền huyện Vĩnh Linh cần tập

trung giải quyết trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở những năm tiếp theo.

2.1.5 Tình hình về nguồn lao động nơng thơn của huyện Vĩnh Linh

2.1.5.1 Tình hình về nguồn nhân lực



Theo thống kê, cuối năm 2012 toàn huyện Vĩnh Linh có 40.435 người trong độ

tuổi lao động, trong đó lao động nữ là 19.861 người, chiếm 49,1% tổng số lao động

của toàn huyện. Số lao động tham gia kinh tế là 39.324 người, lao động chủ yếu là

hoạt động trong khu vực nông - lâm nghiệp. Số lượng LĐNT là 33.937 người, chiếm

86,3% tổng số lao động của tồn huyện. Mỗi năm tồn huyện có thêm gần 2.000 lao

động từ 15 tuổi trở lên, trong đó số LĐNT bổ sung vào lực lượng lao động chiếm gần

80%. Với một nguồn lao động dồi dào, đây là một nhân tố quan trọng cho quá trình

phát triển kinh tế - xã hội của huyện Vĩnh Linh theo hướng hiện trong những năm tiếp

theo.

2.1.5.2 Cơ cấu lao động nông thôn theo ngành nghề

Những năm qua, cơ cấu lao động theo ngành nghề trên địa bàn huyện có những

chuyển biến tích cực theo hướng cơng nghiệp. Trong đó, tỉ lệ LĐNT tham gia hoạt

động kinh tế trong các ngành nông - lâm nghiệp có xu hướng giảm từ 2-3%/năm.

LĐNT tham gia kinh tế trong khu vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng

và dịch vụ đều tăng từ 1-2%/năm, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng đươc nhu cầu về phát

triển kinh tế - xã hội của huyện.

Bảng 2.1 Cơ cấu lao động nông thôn theo ngành nghề kinh tế của huyện Vĩnh

Linh giai đoạn 2010 – 2012.

Năm 2010



Năm 2011



Năm 2012



Số lượng



CC



Số lượng



CC



Số lượng



CC



(người)



(%)



(người)



(%)



(người)



(%)



NN-LN



21.508



67,3



21.069



64,9



21.380



63,0



CN-TTCN-XD



2.556



8,0



3.181



9,8



3.868



11,4



DV



7.875



24,7



8.215



25,3



8.689



25,6



KHU VỰC



(Nguồn: Phòng LĐ-TB&XH huyện Vĩnh Linh)

Dự báo đến năm 2015, số lượng LĐNT tham gia các hoạt động kinh tế trên địa

bàn huyện Vĩnh Linh là 36.500 người. Cơ cấu lao động phân theo các ngành kinh tế

như sau: Nông, lâm nghiệp 21.900 người chiếm 60%, CN-TTCN-XD là 6.570 người,

chiếm 18%; Thương mại - dịch vụ 8.030 người, chiếm 22%.

2.1.5.3 Cơ cấu lao động nông thôn theo trình độ chun mơn

Trong thời gian qua, mặt dù đã được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm, đầu

tư. Tuy nhiên phần lớn lao động của huyện Vĩnh Linh đều chưa qua đào tạo. Đặc biệt



là LĐNT chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ rất cao trên 80%. Bên cạnh đó, đa số con em

đồng bào DTTS sống tại khu vực nơng thơn có trình độ học vấn còn thấp, tỉ lệ chưa

biết chữ còn cao, việc tiếp cận với các tiến bộ, khoa học – kỹ thuật còn nhiều hạn chế

chính vì vậy cơ hội tìm kiếm việc làm còn gặp khó khăn.

Bảng 2.2 Cơ cấu lao động nơng thơn phân theo trình độ chun mơn của

huyện Vĩnh Linh trong năm 2010 và 2012.

Năm 2010



Năm 2012



Số lượng



Cơ cấu



Số lượng



Cơ cấu



(người)



(%)



(người)



(%)



Đại học, trên đại học



969



3,05



1.317



3,88



Cao đẳng và tương đương



772



2,43



862



2,54



Trung cấp và tương đương



883



2,78



1.578



4,65



Sơ cấp nghề



286



0,90



662



1,95



Cơng nhân kỷ thuật



890



2,80



1.459



4,30



27.961



88,04



28.059



82,65



Trình độ chun mơn



Chưa qua đào tạo



(Nguồn: Phòng LĐ-TB&XH huyện Vĩnh Linh)



Người LĐNT với đức tính cần cù, chịu khó, ham học hỏi, thật thà, tiết kiệm, có

vốn kinh nghiệm sản xuất lâu năm phong phú là một điều kiện thuận lợi cho việc phát

triển kinh tế - xã hội của huyện. Tuy nhiên, dễ dàng nhận thấy rằng, phần lớn LĐNT

vẫn tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp. Điều này phù

hợp với thuận lợi về điều kiện tự nhiên, trình độ lao động của người dân trên địa bàn

huyện. Là huyện có diện tích đất nơng - lâm nghiệp chiếm phần lớn là điều kiện thuận

lợi cho việc sản xuất nông nghiệp.

Trong những năm gần đây, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và dịch

vụ ngày càng thu hút đông đảo lực lượng LĐNT tham gia vào sản xuất, tuy nhiên số

lượng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu chuyển dịch kinh tế của

huyện. Lao động nông thôn trên địa bàn huyện chủ yếu là sản xuất theo thời vụ, tập

quán du canh du cư, thời gian nông nhàn còn lớn. Bên cạnh đó, phần lớn là chưa qua

đào tạo, trình độ chun mơn, tay nghề còn nhiều hạn chế, trình độ nhận thưc và năng

lực sử dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật gặp nhiều khó khăn, tư tưởng trông chờ, ỷ

lại vào sự hỗ trợ của nhà nước còn khá phổ biến. Điều này ảnh hưởng khơng nhỏ đến

q trình phát triển kinh tế-xã hội của huyện. Chính vì vậy, trong những năm tới,

huyện Vĩnh Linh cần đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo



hướng công nghiệp và dịch vụ. Để thực hiện mục tiêu này, thì việc nâng cao chất

lượng nguồn lao động là một vấn đề trọng tâm cần giải quyết. Căn cứ vào đặc điểm

của nguồn LĐNT, khi phần lớn lao động đều chưa qua đào tạo, trình độ dân trí và nhận

thức của lao động còn nhiều hạn chế, thì tổ chức đào tạo nghề cho lao động, đặc biệt là

LĐNT là một giải pháp phù hợp nhất.

2.2 Thực trạng của việc tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

huyện Vĩnh Linh

2.2.1 Ban hành văn bản pháp lý về việc tổ chức thực thực thi chính sách đào

tạo nghề LĐNT

2.1.1.1 Hệ thống các chính sách, văn bản pháp lý định hướng cho việc tổ

chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT của Trung ương và cấp tỉnh

Trong thời gian qua, việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT trên cả

nước nói chung và huyện Vĩnh Linh nói riêng chủ yếu được thực hiện theo Quyết định

1956 ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về “Đào tạo nghề cho lao

động nông thôn đến năm 2020” (gọi tắt là Đề án 1956). Căn cứ vào các nội dung của

Đề án, tỉnh Quảng Trị đã ban hành một số văn bản định hướng tổ chức thực thi chính

sách đào tạo nghề cho LĐNT trên địa bàn tồn tỉnh:

Chỉ thị số 04-CT/TU ngày 17 tháng 08 năm 2011 của Tỉnh uỷ về tăng cường

lãnh đạo công tác đào tạo nghề cho LĐNT trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2020;

Quyết định số 1379/QĐ-UBND ngày 02 tháng 08 năm 2010 của UBND tỉnh

Quảng Trị về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động Ban chỉ đạo thực hiện Đề

án và phân công nhiệm vụ thực hiện Đề án “Đào tạo nghề cho LĐNT đến năm 2020”;

Quyết định số 931/QĐ-UBND ngày 01 tháng 06 năm 2010 của UBND tỉnh

Quảng Trị quyết định thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Đề án “Đào tạo nghề cho LĐNT

đến năm 2020”;

Quyết định số 1080/ĐA-UBND ngày 11 tháng 05 năm 2011 của UBND tỉnh

Quảng Trị về việc ban hành Đề án “Đào tạo nghề cho LĐNT tỉnh Quảng Trị giai đoạn

2011-2020” (gọi tắt là Đề án 1080);

Quyết định số 15/2011/QĐ-UBND ngày 28 tháng 06 năm 2011 của UBND tỉnh

Quảng Trị về việc quy định danh mục, mức chi đào tạo nghề trình độ sơ cấp nghề, dạy

nghề dưới 3 tháng áp dụng tại các cơ sở dạy nghề (thay cho Quyết định số

11/2011/QĐ-UBND);



Công văn số 1088/SLĐTBXH-ĐTN ngày 04 tháng 10 năm 2011 của Sở Lao

động Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Trị hướng dẫn UBND các huyện, phường, thị

trấn triển khai thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của

Thủ tướng Chính phủ về “ Đào tạo nghề cho LĐNT đến năm 2020”;

Công văn 1468/SLĐTBXH-DN ngày 19 tháng 12 năm 2011 của Sở LĐ-TB&XH

về việc hướng dẫn thực hiện công tác giám sát, kiểm tra, tổng hợp báo cáo thực hiện

Đề án đào tạo nghề cho LĐNT theo Quyết định 1582/QĐ-BLĐTBXH ngày 02 tháng

12 năm 2011 của Bộ LĐ-TB&XH;

Liên Sở LĐ-TB&XH và Sở NN&PTNT đã ban hành văn bản số 665/SLĐTBXHNNPTNT-DN ngày 12 tháng 06 năm 2012 về hướng dẫn xây dựng kế hoạch, tổ chức

dạy nghề cho LĐNT đến năm 2020;

Và một số văn bản liên quan khác.

Mục tiêu cụ thể của việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT theo Quyết

định 1080 trên toàn tỉnh Quảng Trị là “Nâng cao hiệu quả và chất lượng của dạy nghề

cho LĐNT, phấn đấu đến năm 2020, tổng quy mô tuyển sinh của các cơ sở dạy nghề

địa bàn tỉnh phấn đấu đạt 75.000 người. Trong đó dạy nghề cho trên 42.000 LĐNT, tỷ

lệ có việc làm sau khi học nghề đạt 75% trở lên”.

2.1.1.2 Các văn bản triển khai thực hiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

trên địa bàn huyện Vĩnh Linh

Trên cơ sở các văn bản của TW và UBND tỉnh Quảng Trị, trong quá trình triển

khai thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT, UBND huyện Vĩnh Linh đã ban

hành một số văn bản pháp lý sau:

Năm 2010: Quyết định số 1723/QĐ-UBND ngày 17 tháng 03 năm 2010 của

UBND huyện Vĩnh Linh về việc thành lập Trung tâm dạy nghề tổng hợp huyện Vĩnh

Linh;

Năm 2011: Quyết định số 2390/QĐ-UBND ngày 07 tháng 05 năm 2011 của

UBND huyện Vĩnh Linh về việc triển khai thực hiện Đề án “Đào tạo nghề cho LĐNT

trên địa bàn huyện Vĩnh Linh giai đoạn 2010 - 2013”;

Năm 2012: Quyết định số 3203/QĐ-UBND ngày 08 tháng 11 năm 2012 của

UBND huyện Vĩnh Linh về việc thành lập ban chỉ đạo, tổ công tác thực hiện Đề án

đào tạo nghề cho LĐNT trên địa bàn huyện;



Trên cơ sở đó, ngày 26 tháng 10 năm 2012, Phòng LĐ-TB&XH huyện Vĩnh Linh

ban hành Công văn số 245/CV-LĐTBXH về việc hướng dẫn thành lập ban chỉ đạo, tổ

công tác thục hiên Đề án đào tạo nghề cho LĐNT;

Năm 2013: Quyết định số 310/UBND-VP ngày 08 tháng 08 năm 2013 của

UBND huyện Vĩnh Linh về việc góp ý dự thảo Đề án “Đào tạo nghề cho LĐNT trên

địa bàn huyện giai đoạn 2013 - 2020”;

Quyết định 1378/QĐ-UBND ngày 05 tháng 10 năm 2013 của UBND huyện Vĩnh

Linh về việc thực hiện kiểm tra, giám sát, báo cáo việc thực hiện Đề án “Đào tạo nghề

cho LĐNT trên địa bàn huyện Vĩnh Linh”.

Có thể nhận thấy rằng, trong những năm qua việc tổ chức thực thi chính sách đào

tạo nghề cho LĐNT đã được chính quyền huyện Vĩnh Linh quan tâm và chú trọng.

Việc ban hành các văn bản pháp lý làm cơ sở, căn cứ nhằm đảm bảo cho hoạt động

triển khai thực hiện chính sách đi đúng hướng, hồn thành các mục tiêu đã đề ra. Tuy

nhiên, số lượng các văn bản ban hành còn nhiều hạn chế, còn mang tính chung chung,

chưa có các văn bản quy định rõ về trách nhiệm của từng cơ quan có liên quan hay các

văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện chính sách cho từng xã, thị trấn cụ thể.

2.2.2 Tổ chức bộ máy thực hiện

Việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nói chung và LĐNT nói riêng

là một vấn đề rộng lớn và phức tạp ln có sự phối hợp của nhiều cơ quan. Trên cơ sở

các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách, Thường trực Huyện ủy đã chỉ đạo UBND

huyện Vĩnh Linh xây dựng Đề án về đào tạo nghề cho LĐNT huyện Vĩnh Linh theo

từng giai đoạn cụ thể. Trong đó, Đề án giao cho phòng LĐTB&XH huyện là cơ quan

thường trực và chủ trì thực hiện, phối hợp với các phòng ban, hội, đồn thể, UBND

các xã, thị trấn quy hoạch và xây dựng các kế hoạch, chương trình về thực thi chính

sách nhằm đảm bảo cho công tác đào tạo nghề trong địa bàn huyện phát triển đúng

hướng, hoàn thành mục tiêu đề ra.

Các cơ quan tham gia vào quá trình triển khai thực thi chính sách đào tạo nghề

cho LĐNT trên địa bàn huyện với những nhiệm vụ cụ thể như sau:

2.2.2.1 Ủy ban nhân dân huyện

Tổ chức các hội nghị quán triệt, phổ biến về các nội dung, kế hoạch về đào tạo

nghề cho LĐNT tới cán bộ chủ chốt các xã, thị trấn trên địa bàn toàn huyện. Nghiên



cứu, thẩm định các đề án, chương trình về tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề

cho LĐNT phù hợp với tình hình thực tế của từng khu vực trên địa bàn huyện.

Đảm bảo các điều kiện về ngân sách và lựa chọn người có trình độ chun mơn

nghiệp vụ phù hợp làm cán bộ chuyên trách quản lý việc thực hiện chính sách đào tạo

nghề cho LĐNT thuộc phòng LĐ-TB&XH, cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề, cơ

sở vật chất - kỹ thuật cho các cơ sở dạy nghề trực thuộc để thực hiện nhiệm vụ theo

quy định của pháp luật.

Theo dõi, tổng hợp, đôn đốc, tổ chức kiểm tra, giám sát thường xuyên và đột xuất

việc thực hiện các kế hoạch, nội dung trong quá trình triển khai thực hiện chính sách

đào tạo nghề cho LĐNT ở địa bàn huyện, xã, thị trấn.

2.2.2.2 Phòng LĐ-TB&XH huyện

Là cơ quan thường trực giúp UBND huyện thực hiện việc triển khai thực hiện

chính sách, triển khai các kế hoạch dạy nghề cho LĐNT trên địa bàn huyện, phối hợp

với Phòng Nội vụ, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng NN&PTNT tổng hợp nhu cầu

kinh phí trình UBND huyện.

Chủ trì và phối hợp với Phòng NN&PTNT các ngành liên quan hướng dẫn tổ

chức thực hiện các chính sách, giải pháp và hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả thực

thi chính sách. Phối hợp với các Trung tâm dạy nghề để xây dựng kế hoạch chi tiết

danh mục đào tạo nghề trên cơ sở nhu cầu học nghề của LĐNT, nhu cầu sử dụng lao

động qua đào tạo nghề của doanh nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ.

Hướng dẫn UBND các xã, thị trấn xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện

chính sách phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Đồng thời, dự kiến kinh phí

phân bổ để thực hiện nhiệm vụ dạy nghề cho LĐNT hằng năm tại các xã, thị trấn.

Kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách dạy nghề cho LĐNT, định kỳ 9 tháng,

hàng năm tổng hợp, báo cáo UBND huyện, Sở LĐ-TB&XH tình hình triển khai thực

hiện chính sách.

2.2.2.3 Phòng Nơng nghiệp và Phát triển nơng thơn

Chủ trì, phối hợp với Phòng LĐ-TB&XH trong việc xác định ngành nghề đào tạo

cho LĐNT, phục vụ trực tiếp cho sản xuất ở địa bàn nông thôn cho chuyển dich cơ cấu

kinh tế, cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn. Xây dựng các danh mục nghề,

chương trình dạy các nghề chăn ni, trồng trọt trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề

thường xuyên; xây dựng các kế hoạch và chỉ tiêu dạy nghề do Bộ NN&PTNT, Sở



NN&PTNT hướng dẫn thực hiện theo quyết định 1956/QĐ-Ttg các nguồn lực trong

sản xuất nông - lâm nghiệp.

Phối hợp với các cơ quan thông tin, đại chúng cung cấp thị trường hàng hóa, hỗ

trợ việc tiêu thụ sản phẩm nông nghiêp, dịch vụ nông nghiệp đến từng xã, thị trấn.

Đồng thời, phối hợp với Phòng LĐ-TB&XH huyện kiểm tra, giám sát tình hình thực

hiện chính sách đào tạo cho LĐNT.

2.2.2.4 Phòng Giáo dục và Đào tạo

Triển khai và đổi mới chương trình và nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục

hướng nghiệp trong các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông, đặc biệt là tại các

vùng sâu, vùng xa để học sinh có thái độ đúng đắn về vai trò của học nghề và chủ

động lựa chọn các hình thức học nghề sau THCS và THPT.

Chỉ đạo các Trung tâm giáo dục thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các cơ sở

dạy nghề thực hiện liên kết mở lớp học theo mơ hình văn hóa - nghề.

2.2.2.5 Phòng Tài chính - Kế hoạch

Phối hợp với Phòng LĐ-TB&XH lập dự tốn kinh phí hàng năm để triển khai

thực hiện chính sách trình UBND huyện, tỉnh phê duyệt. Thực hiện hướng dẫn, quản

lý việc sử dụng kinh phí đúng mục đích, đúng cơ chế quản lý tài chính, đầu tư đối với

hoạt động thực hiện Đề án.

Phối hợp với các ban ngành, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Đề án đào tạo nghề

cho LĐNT trong từng giai đoạn.

2.2.2.6 Ngân hàng chính sách huyện

Hướng dẫn trình tự thủ tục chuẩn bị vay vốn, thực hiện chính sách tín dụng học

nghề, chính sách cho vay giải quyết việc làm đối với LĐNT; Chính sách hỗ trợ lãi suất

vay tín dụng đối với LĐNT học nghề làm việc ổn định tại nơng thơn; chính sách cho

vay từ quỹ Quốc gia giải quyết việc làm đối với LĐNT, xuất khẩu lao động trong q

trình triển khai thực hiện chính sách.

2.2.2.7 Phòng Văn hóa - Thơng tin và Đài Phát thanh - Truyền hình huyện

Phối hợp với Phòng LĐ-TB&XH, Phòng NN&PTNT và các cơ quan có liên

quan thực hiện tuyên truyền sâu rộng đến các địa phương về chủ trương, chính sách

của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề, các chương trình, các khóa đào tạo nghề cho

LĐNT.



2.2.2.8 Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn

Tổ chức chỉ đạo thực hiện Đề án đào tạo nghề cho LĐNT do Chủ tịch hoặc Phó

Chủ tịch xã, thị trấn làm Trưởng ban, các thành viên là đại biểu của các cơ quan quản

lý nhà nước cấp xã, thị trấn (tương tự nhóm thành viên của Ban chỉ đạo cấp huyện)

trong đó Phòng LĐ-TB&XH là cơ quan thường trực Đề án để chỉ đạo tổ chức triển

khai thực hiện chính sách trên địa bàn.

Thành lập và chỉ đạo chỉ đạo các ban chuyên môn, các tổ công tác tuyên truyền

tư vấn học nghề. Đồng thời, căn cứ vào Đề án đào tạo nghề cho LĐNT của UBND

huyện, UBND các xã, thị trấn xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy nghề hàng

năm trên địa bàn. Trong đó xác định một số nội dung cơ bản sau:

Khảo sát, thống kê nhu cầu học nghề của LĐNT, nhu cầu sử dụng lao động qua

đào tạo nghề của các doạnh nghiêp, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ và thị trường

lao động trên địa bàn huyện và trên cơ sở đó xác định danh mục nghề đào tạo, số

lượng lao động cần học nghề, số lượng lớp học, thời gian học nghề.

Theo dõi, tổng hợp, đôn đốc, kiểm tra, giám sát thường xuyên và đột xuất việc

thực hiện kế hoạch triển khai thực hiện chính sách trên địa bàn.

2.2.2.9 Các đồn thể từ huyện đến cơ sở

Chủ động phối hợp với các ngành cơ liên quan để phổ biến, tuyên truyền chủ

trương, Chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đào tạo nghề cho LĐNT, tư

vấn học nghề, việc làm miễn phí và vận động các thành viên của mình tham gia học

nghề. Phối hợp với các ngành thực hiện chức năng giám sát hoạt động dạy nghề cho

LĐNT trên địa bàn.

Huyện đồn chủ động phối hợp với phòng LĐ-TB&XH, các ngành có liên quan

xây dựng dự án cụ thể quy định tại Mục 3, Điều 1 Quyết định 103/QĐ-TTg ngày 12

tháng 7 năm 2008, để lồng ghép với các nội dung của Đề án đào tạo nghề.

Hội Nông dân huyện, Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện chủ trì, phối hợp với Phòng

LĐ-TB&XH và các ngành có liên quan, lồng ghép các nội dung của Đề án “Hỗ trợ

phụ nữ học nghề, tạo việc làm” trong từng giai đoạn cụ thể.

2.2.2.10 Các cơ sở, trung tâm đào tạo nghề



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×