Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ba là, đào tạo nghề cho LĐNT hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Ba là, đào tạo nghề cho LĐNT hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Tải bản đầy đủ - 0trang

tay nghề và trình độ chun mơn giỏi, nhạy bén, thích ứng với xu thế mới của nền kinh

tế, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH - HĐH đất nước.

Bốn là, đào tạo nghề cho LĐNT góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc

làm và phát triển các ngành nghề mới ở nông thôn.

Giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những chủ trương lớn của

Đảng và Nhà nước nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực phục vụ

cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, vấn đề giải

quyết việc làm còn gặp nhiều khó khăn, đa số lực lượng lao động hiện nay có kiến

thức và chun mơn thấp, khó có thể tìm kiếm được việc làm. Để tháo gỡ vấn đề này,

phát triển công tác đào tạo nghề sẽ là một biện pháp hữu hiệu nhằm đào tạo đội ngũ

lao động giúp họ có thể tham gia thị trường lao động. Đối với bộ phận LĐNT, thông

qua các lớp đào tạo nghề, họ có thể tự thân lập nghiệp ngay trên q hương mình. Đây

khơng chỉ là vấn đề giải quyết lao động dư thừa tại chỗ mà còn là điều kiện để phát

triển ngành nghề mới ở nông thôn.

1.1.7 Tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

1.1.7.1 Khái niệm

Tổ chức thực thi chính sách cơng là tồn bộ q trình chuyển ý chí của chủ thể

trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu

định hướng [3].

Cũng như việc tổ chức thực hiện các chính sách cơng khác, tổ chức thực thi

chính sách đào tạo nghề cho LĐNT là quá trình triển khai thực hiện các chủ trương,

chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề cho LĐNT thông qua việc sử dụng

tổng hợp các biện pháp, nhằm chuyển hóa những mục tiêu, mong đợi của Nhà nước

thành hiện thực.

1.1.7.2 Ý nghĩa của việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

Triển khai và thực hiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT mang lại những ý

nghĩa quan trọng cả về khía cạnh kinh tế và xã hội:

Một là, ý nghĩa về phát triển kinh tế

Đào tạo nghề cho LĐNT sẽ huy động được tối đa lực lượng lao động của xã hội

vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Phát triển lực lượng lao động thông qua

đào tạo nghề sẽ phát huy được năng lực, sở trường của từng người lao động và nhờ



vậy hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh ngày một nâng cao. Không những thế,

đào tạo nghề cho LĐNT sẽ tạo điều kiện cho việc khai thác có hiệu quả hơn các nguồn

lực về tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học công nghệ, làm cho kinh tế nông thơn

hoạt động có hiệu quả hơn.

Đào tạo nghề cho LĐNT đáp ứng được những đòi hỏi về kỹ năng, cơng nghệ về

quản lý trong thời đại bước sang nền kinh tế tri thức, đáp ứng được nhu cầu hội nhập

được kinh tế thế giới và tồn cầu hóa góp phần quan trọng vào qúa trình tăng trưởng

của nền kinh tế quốc dân.

Khoảng trên 90% hộ nghèo của nước ta sinh sống ở các khu vực nơng thơn, vì

vậy đào tạo nghề cho LĐNT quyết định sự thành công của các chương trình xóa đói,

giảm nghèo.

Hai là, ý nghĩa về chính trị - xã hội

Đào tạo nghề cho LĐNT góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu “Dân

giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” của Đảng và Nhà nước ta.

Dân muốn giàu, trước hết phải có đầy đủ việc làm, sau đó là chất lượng việc làm ngày

ngày một nâng cao, ổn định đời sống của người dân, thu nhập của người lao động ngày

một tăng. Đào tạo nghề cho LĐNT góp phần nâng cao trí tuệ, chất lượng của nguồn

lao động, làm giảm bớt tội phạm, tệ nạn xã hội. An ninh quốc gia được giữ vững, tạo

điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

1.2 Trách nhiệm của nhà nước trong việc đào tạo nghề cho LĐNT

1.2.1 Trách nhiệm của nhà nước trong việc ban hành các chính sách về đào

tạo nghề cho LĐNT

Lao động là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong

Hiến pháp. Chính vì vậy, cơng dân có quyền học tập, nghiên cứu nhằm nâng cao trình

độ, năng lực, tay nghề của mình trong quá trình lao động sản xuất nhằm đáp ứng nhu

cầu của xã hội và nâng cao cuộc sống của bản thân, góp phần xây dựng xã hội, thực

hiện các nghĩa vụ của họ đối với gia đình và cộng đồng. Đào tạo nghề, nâng cao trình

độ tay nghề cho người lao động là trách nhiệm của Nhà nước, doanh nghiệp và của

toàn xã hội.

Nhà nước định ra các chỉ tiêu về đào tạo nghề trong các kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội trong dài hạn, trung hạn và hằng năm. Nhà nước tạo điều kiện cần thiết và

ban hành các chính sách về đào tạo nghề cho LĐNT, hỗ trợ về tài chính, sử dụng các



biện pháp khuyến khích và động viên cho các địa phương, đơn vị cá nhân thuộc mọi

thành phần tế phát triển các ngành nghề đào tạo mới đáp ứng nhu cầu học nghề của

người lao động và nhu cầu sử dụng lao động của xã hội.

Nhà nước có chính sách ưu đãi về đào tạo nghề cho lao động khu vực nông thôn

nhằm thu hút lao động tham gia học nghề và các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tham

gia đào tạo nghề cho LĐNT và giải quyết việc làm để hồn thành mục tiêu quốc gia về

xóa đói giảm nghèo.

Nghị quyết Đại hội X đã chỉ rõ: “Phát triển hệ thống hướng nghiệp và dạy nghề,

nhất là các nghề cho lao động nông thôn trong các lĩnh vực nơng nghiệp; đa dạng hóa

các loại hình dạy nghề, phát triển nhanh đào tạo nghề dài hạn theo hướng hiện đại”.

1.2.2 Chủ thể hoạch định và thực thi chính sách đào tạo nghề

Chính phủ: lập chương trình quốc gia về đào tạo nghề, lập các dự án đầu tư về

phát triển kinh tế - xã hội gắn với việc đào tạo nghề tại chỗ nhằm đáp ứng nhu cầu về

lao động trong và ngoài nước; lập các quỹ quốc gia về đào tạo nghề và các nguồn

khác; phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ đào tạo nghề. Hằng năm Chính phủ trình

Quốc hội quyết định chương trình và quỹ quốc gia về đào tạo nghề cho LĐNT.

UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: lập chương trình, Đề án về đào

tạo nghề cho LĐNT trên phạm vi toàn tỉnh, thành phố, xây dựng các kế hoạch triển

khai thực hiện chính sách và dự trù kinh phí phục vụ cho công tác đào tạo nghề cho

LĐNT của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định.

Các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể nhân dân và tổ chức

xã hội: trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình được phân cơng có nhiệm tham

gia tổ chức, phối hợp xây dựng và thực hiện các chương trình, Đề án về đào tạo nghề

cho LĐNT phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương. Giải quyết các vấn đề nảy

sinh, liên quan đến đào tạo nghề cho LĐNT trong quá trình tổ chức, triển khai thực

hiện chính sách.

1.2.3 Những chính sách đào tạo nghề cho LĐNT ở nước ta

Trong giai đoạn hiện nay đào tạo nghề cho người lao động nói chung và đào tạo

nghề cho LĐNT nói riêng ln nhận được sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước.

Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của ban chấp hành Trung

ương Đảng khóa X về nơng nghiệp, nơng dân và nông thôn thể hiện rõ quan điểm và

định hướng của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội đối với nông thôn Việt Nam trong



chiến lược tổng thể phát triển đất nước. Một trong những nhiệm vụ và giải pháp được

nêu trong Nghị quyết là giải quyết việc làm cho người nông dân là nhiệm vụ xuyên

suốt trong mọi chương trình phát triển kinh tế xã hội của cả nước, bảo đảm hài hòa

giữa các vùng, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, giữa nông thôn và thành

thị.

Thực hiện Nghị quyết của ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X, ngày 28

tháng 10 năm 2008, Chính phủ ra Nghị quyết số 24/2008/NĐ-CP ban hành chương

trình hành động của Chính phủ. Một trong những nhiệm vụ chủ yếu trong Chương

trình hành động của Chính phủ là xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo

nguồn nhân lực nơng thơn, trong đó đề ra mục tiêu “tập trung đào tạo nguồn nhân lực

nông thôn, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ,

giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn tăng lên 2,5 lần so với

hiện nay”. Tập trung xây dựng kế hoạch và giải pháp đào tạo cho bộ phận con em

nông dân đủ trình độ, năng lực vào làm việc ở các cơ sở công nghiệp, TTCN, dịch vụ

và chuyển nghề; bộ phận nơng dân còn tiếp tục sản xuất nơng nghiệp được đào tạo về

kiến thức và kỹ năng để thực hành sản xuất nông nghiệp hiện đại, đồng thời tập trung

đào tạo nâng cao kiến thức cho cán bộ quản lý, cán bộ cơ sở.

Trước đó, ngày 02 tháng 10 năm 2006, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và

xã hội đã ra Quyết định số 07/2006/QĐ - BLĐTBXH về phê duyệt “Quy hoạch phát

triển mạng lưới trường Cao đẳng nghề, trường Trung cấp nghề, Trung tâm dạy nghề

đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”. Theo đó cần phải phát triển mạng lưới

cơ sở dạy nghề rộng khắp cả nước, đa dạng các hình thức dạy nghề, tạo điều kiện cho

người lao động, thanh niên, nông dân, người dân tộc thiểu số học nghề, lập nghiệp; mở

rộng quy mô, đồng thời nâng cao chất lượng dạy nghề, điều chỉnh cơ cấu ngành nghề,

cơ cấu trình độ đào tạo phù hợp với nhu cầu thị trường lao động và những tiến bộ về

kỹ thuật, công nghệ; đẩy mạnh xã hội hóa dạy nghề, khuyến khích mọi tổ chức, cá

nhân đầu tư cho dạy nghề, phát triển các cơ sở dạy nghề tư thục và cơ sở dạy nghề có

vốn đầu tư của nước ngoài, mở rộng hội nhập quốc tế về dạy nghề.

Cụ thể hóa chương trình hành động, ngày 27 tháng 11 năm 2009, Thủ tướng

Chính phủ ban hành Quyết định số 1956/QĐ-TTg phê duyệt “ Đề án đào tạo nghề cho

lao động nông thôn đến năm 2020” (gọi tắt là Đề án 1956). Đề án nêu rõ quan điểm

“Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng và Nhà nước, của các

cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu



cầu CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn. Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triển

đào tạo nghề cho lao động nơng thơn, có chính sách đảm bảo thực hiện cơng bằng xã

hội về cơ hội học nghề đối với mọi LĐNT, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để

toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho LĐNT”. Đây là cơ sở tạo hành lang pháp lý để

hoạt động đào tạo nghề cho LĐNT phát triển nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân

lực nông thôn theo mục tiêu đã đề ra.

Đề án 1956 đã đề ra mục tiêu tổng quát: bình quân hằng năm đào tạo nghề cho

khoảng 1 triệu LĐNT, trong đó đào tạo, bồi dưỡng cho 100.000 lượt cán bộ, cơng chức

xã. Đề án có 3 chính sách gồm: chính sách đối với người học nghề trình độ sơ cấp

nghề và dạy nghề dưới 3 tháng, (chia thành 3 nhóm đối tượng, mức hỗ trợ tùy theo

nhóm đối tượng, tối đa từ 2 đến 3 triệu đồng/người/khóa học); chính sách đối với giáo

viên, giảng viên; chính sách đối với cơ sở đào tạo nghề cho LĐNT (hỗ trợ đầu tư cơ sở

vật chất, thiết bị dạy nghề, chương trình giáo trình, học liệu và bồi dưỡng giáo viên

dạy nghề). Đề án đề ra 5 giải pháp và 2 hoạt động chính để thực hiện các chính sách

trên. Tổng kinh phí thực hiện Đề án từ ngân sách nhà nước dự kiến là 25.980 tỷ đồng,

để thực hiện hai hoạt động gồm: đào tạo nghề cho LĐNT là 24.694 tỷ đồng; đào tạo,

bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã: 1.286 tỷ đồng.

Đồng thời với Đề án 1956, ngày 04 tháng 6 năm 2010, Chính phủ có Quyết

định số 800/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông

thôn mới giai đoạn 2010 - 2020”. Đây là chương trình tổng thể về phát triển kinh tế xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng ở nơng thơn. Để đạt tiêu chí về nơng thơn mới,

một xã phải đạt được 19 tiêu chí, trong đó có nội dung đẩy mạnh đào tạo nghề, giải

quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu LĐNT. Đó là những chính sách, giải pháp

đồng bộ để phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta.

1.3 Đào tạo nghề cho LĐNT tại một số địa phương ở nước ta và một số bài học

kinh nghiệm

1.3.1 Đào tạo nghề cho LĐNT tại một số địa phương ở nước ta

1.3.1.1 Đào tạo nghề cho LĐNT tại tỉnh Hà Giang

Do điều kiện địa hình bị chia cắt mạnh, thiếu đất, thiếu nước sản xuất, trình độ

dân trí của đồng bào còn hạn chế nên tỷ lệ đói nghèo cao. Thời gian qua, nhằm trang bị

và nâng cao kiến thức làm ăn cho đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh, Hà Giang

đã triển khai nhiều chương trình, dự án thiết thực tới vùng đồng bào dân tộc thiểu số.



Trong số đó phải kể đến chương trình đào tạo nghề cho LĐNT. Quan điểm của tỉnh là

khi đồng bào “đói” kiến thức làm ăn thì phải bù lấp khoảng trống hẫng hụt đó. Với

phương châm “Các cơ sở dạy nghề là đào tạo những nghề mà người nông dân cần chứ

không phải đào tạo những nghề mà trung tâm có”. Yêu cầu đặt ra là tất cả các ngành

nghề đang đào tạo tại các cơ sở dạy nghề đều phải có chương trình, giáo trình chi tiết

cho từng nghề theo quy định chung và thường xuyên được bổ sung nội dung cho phù

hợp với tình hình kinh tế - xã hội của địa phương và nhận thức của người học. Căn cứ

theo nhu cầu thực tiễn của bà con, các trung tâm phải kiện toàn đội ngũ giáo viên có

chun mơn để đào tạo những ngành nghề truyền thống, những ngành nghề theo nhu

cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp và thị trường lao động.

Trên cơ sở đó, Sở LĐ-TB&XH tỉnh Hà Giang đã tập trung tham mưu cho

UBDN tỉnh phát triển mạng lưới các cơ sở đào tạo nghề cho đồng bào, tích cực tranh

thủ các nguồn lực tập trung cho công tác dạy nghề. Ngồi đầu tư từ ngân sách Trung

ương, còn có thêm kinh phí của dự án “Tăng cường năng lực đào tạo nghề”, kinh phí

chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, kinh phí từ Nghị quyết 30a/CP của Chính

phủ về đào tạo nghề cho các huyện nghèo. Đến nay, mạng lưới cơ sở dạy nghề được

mở rộng xuống đến tận các huyện, thị xã. Toàn tỉnh đã xây dựng xong 15 cơ sở dạy

nghề, bao gồm 1 trường Trung cấp nghề, 12 Trung tâm dạy nghề và 2 cơ sở khác có

dạy nghề. Nhờ đó, mỗi năm tỉnh Hà Giang đã đào tạo cho nghề cho hàng chục ngàn

lao động, giúp người dân ổn định đời sống, tăng thu nhập cho người lao động, góp

phần chuyển dich cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.

1.3.1.2 Đào tạo nghề cho LĐNT tại tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện Đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ, Thanh Hóa đã sớm thành lập

Ban chỉ đạo cấp tỉnh, xây dựng kế hoạch triển khai Đề án “Đào tạo nghề cho lao động

nông thôn đến năm 2020”, lựa chọn huyện triển khai thí điểm, chỉ đạo việc tổ chức

điều tra, khảo sát nhu cầu học nghề của LĐNT, xử lý cung, cầu lao động và dạy nghề.

Đến nay, 27/27 huyện, thị xã, thành phố đã và đang tích cực triển khai thực hiện

đề án của tỉnh. Trong đó có 4 mơ hình dạy nghề hiệu quả có thể nhân rộng, đó là: mơ

hình dạy nghề kỹ thuật sản xuất lúa F1 tại huyện Yên Định, kỹ thuật trồng lúa cao sản

tại xã Hạnh Phúc, huyện Thọ Xn; mơ hình dạy nghề thêu ren - đính cườm tại xã

Xn Quang, huyện Thọ Xn; mơ hình dạy nghề dệt chiếu cải tại Khu làng nghề thị

trấn Nga Sơn, huyện Nga Sơn..



Theo đánh giá, sau khi được triển khai, các mơ hình này đã mang lại hiệu quả

kinh tế - xã hội to lớn, thu nhập của người nông dân được nâng lên rõ rệt, bình quân

người lao động thu nhập từ 40.000 đồng đến 90.000 đồng/người/ngày. Thanh Hóa là

1 trong 2 tỉnh thực hiện thí điểm dạy nghề cho LĐNT theo hình thức cấp thẻ học

nghề nơng nghiệp do Bộ NN&PTNT làm chủ dự án. Tính đến hết tháng 11/2011 tồn

tỉnh đã có 9.280 LĐNT được hỗ trợ dạy nghề theo Quyết định 1956, trong đó tổ chức

được 197 lớp đào tạo nghề cho 6.283 LĐNT theo đề án của tỉnh.

1.3.1.3 Đào tạo nghề tại thị xã Tân Châu - tỉnh An Giang

Thị xã Tân Châu - tỉnh An Giang hiện có gần 113.407 người trong độ tuổi lao

động, trong đó lao động thành thị 42.237 người chiếm 37,25%; LĐNT 71.170 người

chiếm 62,75%. Trước tình hình đó Thị ủy nhiệm kỳ 2010 - 2015 đã đề ra nhiệm vụ

trong 5 năm tới cần giải quyết việc làm cho 27.000 lao động và lao động qua đào tạo

phải đạt 47%, bình quân hàng năm là 10% . Do vậy để nâng cao hiệu quả đào tạo nghề

cho LĐNT, đòi hỏi các cấp các ngành trong toàn thị xã phải có nhiều chương trình, kế

hoạch thực hiện nghiêm túc, thực tế, khách quan; có đề ra chỉ tiêu cụ thể, đồng thời

phải có sơ kết, tổng kết, kịp thời rút ra kinh nghiệm để thực hiện công tác đào tạo nghề

ở địa phương, đơn vị ngày càng hiệu quả, chất lượng.

Với sự quan tâm của cấp ủy, sự chỉ đạo quyết liệt và sự vào cuộc mạnh mẽ của

các cấp, các ngành, các đoàn thể quần chúng như: Hội Phụ nữ, Hội Nơng dân, Hội

Cựu chiến binh và Đồn thanh niên… công tác đào tạo nghề cho lao động ở thị xã đã

từng bước được triển khai đồng bộ, đúng hướng, mạng lưới dạy nghề phát triển và đạt

được kết quả bước đầu, đã lan tỏa tới từng khóm, ấp, từng khu dân cư, đến mọi đối

tượng lao động chưa có cơng ăn việc làm.

Một trong những hướng đào tạo của trường trong thời gian qua, cũng như trong

năm 2011 đã và đang phát huy hiệu quả, đó là: Trường phối hợp các đồn thể tổ chức

các buổi thơng tin tư vấn về dạy nghề và giải quyết việc làm đến tận xã, phường. Có

nơi lồng ghép với các phong trào, kế hoạch vận động gia đình văn hóa, giữ gìn an ninh

trật tự xã hội, xây dựng nơng thơn mới, phòng chống tệ nạn xã hội… tuyên truyền vận

động nhân dân từng bước nâng cao nhận thức về học nghề, gắn với tạo việc làm và

giảm nghèo. Những lớp dạy nghề ngắn hạn phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh

của từng nhóm đối tượng, từng địa phương, giúp người dân ngày càng nâng cao kiến

thức trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của mình như: ương cá tra giống, ni

lươn, ni cá tra thịt, cá lóc; trồng nấm các loại, hoa kiểng, làm vườn. Hoặc các nhóm



nghề phi nơng nghiệp: lái xe hạng B2, may cơng nghiệp, xây dựng, điện dân dụng, đan

ghế giả mây xuất khẩu, kỹ thuật phục vụ quán ăn nông thôn, kỹ thuật phục vụ nhà

hàng, khách sạn, bảo mẫu, quản gia…

Thực tế cho thấy, người lao động sau khi học nghề năng suất và hiệu quả sản

xuất tăng lên rõ rệt, đáp ứng được nhu cầu sản xuất, kinh doanh tại chỗ, cũng như yêu

cầu sử dụng lao động của một số DN trong và ngoài thị xã. Năm 2011, toàn thị xã đã

tổ chức dạy nghề cho 780 lao động; giải quyết việc làm cho 5.130 lao động, trong đó

lao động ngồi tỉnh 41 người, có 02 lao động đi làm việc nước ngoài, giải quyết việc

làm mới cho 95 lao động.

1.3.2 Bài học kinh nghiệm

Trên cơ sở các những kết quả về đào tạo nghề cho LĐNT tại một số đia phương ở

nước ta trong thời gian qua, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

Một là: cần tổ chức thực hiện theo sát đề án mà các cấp chính quyền từ Trung

ương đến địa phương đã đề ra, đồng thời phải có các chính sách phát triển công tác

đào tạo nghề phù hợp với thực tế và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của từng địa

phương.

Hai là: tăng cường công tác tuyên truyền sâu, rộng hơn nữa về công tác đào tạo

nghề cho người lao động đến toàn thể lực lượng lao động của địa phương.

Ba là: tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở, trang thiết bị dạy nghề, cũng như tăng

cường nâng cao năng lực của cán bộ, giáo viên tham gia công tác đào tạo nghề.

Bốn là: tập trung đào tạo nghề theo nhu cầu của người học và nhu cầu của các

doanh nghiệp, đồng thời cần xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo

nghề với các doanh nghiệp sử dụng lao động.

Năm là: cần có chính sách tạo việc làm cho người lao động sau khi tham gia học

nghề để có thể vận dụng các nghề mà học viên đã học được trong việc tìm kiếm việc

làm cho bản thân và đáp ứng nhu cầu lao động của xã hội.

Sáu là: cần phân cấp rõ vai trò của việc quản lý đào tạo nghề theo ngành dọc, bảo

đảm tính chủ động trong việc triển khai công tác dạy nghề gắn với nhu cầu người học

đồng thời tạo việc làm cho người LĐNT sau khi ra trường. Đồng thời, việc xây dựng

các chương trình đào tạo nghề phát triển nguồn nhân lực cần có sự cân đối giữa số

lượng dạy nghề với việc sử dụng lao động tạo ra sự cân đối cung - cầu trong đào

tạo nghề cho LĐNT.



TIỂU KẾT CHƯƠNG 1



Để có thể phân tích thực trạng và đề xuất những giải pháp trong việc thực thi

chính sách đào tạo nghề cho LĐNT tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, cần đưa ra hệ

thống cơ sở lý luận khoa học, phù hợp và mang tính thực tiễn trong nghiên cứu, đánh

giá các nội dung liên quan đến đề tài. Xác định nội dung trọng tâm của vấn đề, chương

1 đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý thuyết các khái niệm cơ bản về nghề và đào tạo

nghề, lao động và lao động nơng thơn, đặc điểm của LĐNT, chính sách và vai trò của

chính sách đào tạo nghề cho LĐNT, các vấn đề liên quan đến việc tổ chức thực thi và ý

nghĩa của việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT. Bên cạnh đó, chương 1

cũng chỉ ra trách nhiệm của nhà nước trong vấn đề đào tạo nghề cho LĐNT, trên cơ sở

đó để đưa ra các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề cho

LĐNT ở nước ta trong thời gian qua. Với nhiệm vụ làm cơ sở lý luận cho các chương

tiếp theo, trong chương 1 còn giới thiệu một số mơ hình về đào tạo nghề cho LĐNT có

hiệu quả ở nước ta trong thời gian qua, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý



báu có thể xem xét áp dụng trong việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT tại

huyện



CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH

ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI HUYỆN

VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ

2.1 Tổng quan về huyện Vĩnh Linh

2.1.1 Khái quát chung

Vĩnh Linh là huyện miền núi, vùng cao, biên giới nằm về phía Tây của tỉnh

Quảng Trị, là một trong 10 đơn vị hành chính của tỉnh. Tổng diện tích tồn huyện là

1150,86 km2. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía Nam và Tây giáp Cộng hồ dân chủ

nhân dân Lào, phía Đông giáp với huyện Gio Linh, Vĩnh Linh và Đakrông. Tồn

huyện có 22 đơn vị hành chính trong đó 20 xã và 02 thị trấn là Khe Sanh và Lao Bảo.

Tồn huyện có 13 xã đặc biệt khó khăn, 11 xã giáp biên với Lào, có cửa khẩu Quốc tế

Lao Bảo nằm trên trục đường Quốc lộ 9 nối liền với các nước trong khu vực: Lào,

Thái Lan, Mianma và Khu vực Miền Trung Việt Nam tạo ra hành lang kinh tế ĐơngTây, là vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, an ninh quốc phòng của nước ta. Có

đường biên giới dài 156 km tiếp giáp với 3 huyện nước bạn Lào. Với vị trí địa lý thuận

lợi, đây là điều kiện quan trọng cho việc giao lưu, buôn bán với các nước trong khu

vực, thúc đẩy kinh tế - xã hội của huyện ngày càng phát triển.

2.1.2 Điều kiện tự nhiên



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ba là, đào tạo nghề cho LĐNT hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×