Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương II: NHẬN DẠNG THẺ TAG VÀ VẤN ĐỀ XUNG ĐỘT TÍN HIỆU

Chương II: NHẬN DẠNG THẺ TAG VÀ VẤN ĐỀ XUNG ĐỘT TÍN HIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

reader và tag đủ gần, reader có thể nhận được tín hiệu phản hồi từ tag. Với mỗi trường

hợp như vậy có nghĩa là tag nằm trong vùng chất vấn của reader. Khi hai hay nhiều

reader quá gần nhau hay nhiều tag xuất hiện trong vùng chất vấn của một reader thì tại

đó sinh ra các vấn đề về can nhiễu hay xung đột. Các vấn đề xung đột này được phân

làm hai loại chính: xung đột reader và xung đột tag [1]. Có thể miêu tả hai loại này

như sau:

II.1.1 Xung đột reader:

Do tag được cấp nguồn bởi reader, vì vậy vùng trả lời của tag sẽ nhỏ hơn vùng

phát của reader (cũng được gọi là vùng can nhiễu). Khi một tag nằm trong vùng chất

vấn của cả reader A và reader B thì xảy ra can nhiễu giữa hai reader, hay tag không

thể nhận được câu lệnh yêu cầu đúng từ reader A, hoặc reader A không thể phân tích

đúng đáp ứng từ tag. Điều này được gọi là các vấn đề xung đột reader. Ví dụ trong

Hình 2.1, tag T trong vùng chất vấn của reader A và cả reader B và trường hợp này

xảy ra xung đột



Hình 2.1: Tương quan giữa vùng chất vấn và vùng can nhiễu

II.1.2 Xung đột TAG

Để xác định các tag trong vùng chất vấn của mình hay khơng, reader gửi đi yêu cầu

hỏi ID của các tag này. Khi nhiều tag nằm trong vùng chất vấn của reader trả lời đồng

thời, xung đột sẽ xảy ra và reader không thể nhận dạng đúng bất kỳ tag nào. Điều này

được gọi là vấn đề xung đột tag. Như trong Hình 1, Tag S và T nằm trong vùng chất

vấn của reader A. Nếu tag S và T gửi ID đáp trả yêu cầu của reader A đồng thời thì

vấn đề xung đột tag sẽ xảy ra và không tag nào được nhận ra bởi reader A.



19



Các xung đột gây trở ngại và làm chậm q trình chất vấn thẻ ID. Do đó, cần có các

giao thức chống xung đột để giảm các loại xung đột trên. Tương ứng với hai loại xung

đột, các giao thức chống xung đột cũng được phân làm hai loại: Các giao thức chống

xung đột reader và các giao thức chống xung đột tag.

II.2 CÁC GIAO THỨC CHỐNG XUNG ĐỘT.

II.2.1 Các giao thức chông xung đột cho Reader

Một số giao thức chống xung đột Reader đã được đề xuất được phân làm ba loại:

Giao thức dựa trên TDMA, FDMA và CSMA.

II.2.1.1 Giao thức dựa trên TDMA

Ý tưởng cơ bản của giao thức chống xung đột dựa trên TDMA là chia toàn bộ thời

gian truyền dẫn thành các khoảng thời gian và cho phép mỗi reader chỉ phát bản tin

trong khoảng thời gian đã được ấn định trước. Quá trình ấn định các khoảng thời gian

theo kiểu phân phối hoặc tập trung. Waldrop đề xuất hai giao thức chống xung đột

reader dựa trên TDMA kiểu phân phối là DCS (Distributed Color Selection) và

Colorwave. Xét trường hợp có hai reader là hàng xóm của nhau và chúng có thể gây

can nhiễu lẫn nhau. Mỗi reader được ấn định một "màu“ tượng trưng cho sự dành

trước khe thời gian xác định để phát tín hiệu. Nếu tất cả các reader cạnh nhau có

"màu“ khác nhau thì xung đột reader có thể tránh được. Trong giao thức DSC, số

lượng màu cực đại (max_colors) là cố định và một reader chỉ được phát trong khoảng

màu duy nhất được ấn định trước. Ngược lại, trong giao thức Colorwave có giá trị

max_colors thay đổi, nó có cơ chế ấn định màu động để cực tiểu hóa số lượng màu

yêu cầu trong một nhóm các reader. Với việc giảm số lượng màu được sử dụng, hiệu

suất truyền bản tin được tăng lên.

II.2.1.2 Giao thức dựa trên FDMA

Giao thức dựa trên FDMA chia toàn bộ băng tần sẵn có thành các kênh khơng can

nhiễu lên nhau. Các reader có thể sử dụng các kênh khác nhau để truyền thông đồng

thời với các tag. Ho et al.đã đề xuất giao thức HiQ, là sự kết hợp dựa trên TDMA và

cả FDMA. Nó cố gắng tối thiểu hóa các xung đột reader bằng cách học các mơ hình

xung đột của các reader và bằng ấn định hiệu quả tài nguyên tần số theo thời gian.

HiQ dựa vào phương pháp học trực tuyến, sự phân cấp và quá trình phân phối (được

gọi là Q-learning) để xác định việc ấn định thời gian và tần số. Bằng tương tác lặp đi

lặp lại với hệ thống, Q-learning cố gắng tìm ra phương án ấn định tần số theo thời gian

tối ưu. EPCGlobal Gen 2 là một giao thức nổi tiếng kế thừa kỹ thuật FDMA để giải

quyết vấn đề xung đột. Các reader có thể chọn các kênh truyền riêng biệt để tránh can



20



nhiễu bằng kỹ thuật trải phổ nhảy tần. Hình 2 minh họa cấu trúc điều khiển phân cấp

của giao thức HiQ.

II.2.1.3 Giao thức dựa trên CSMA

Đa truy nhập cảm nhận sóng mang - CSMA là cơ chế phổ biến được sử dụng trong

các hệ thống vô tuyến hay hữu tuyến để tránh xung đột. Trong cơ chế này, mỗi thiết bị

cần kiểm tra kênh truyền thơng có rảnh hay không trước khi phát các bản tin. Nếu

kênh truyền đã bị chiếm, thiết bị sẽ đợi cho đến khi nó được giải phóng. Chuẩn EN

302 208 của Viện chuẩn hóa Viễn thông châu Âu (ETSI) sử dụng cơ chế "Listen

Befor Talk (LBT)" dựa trên ý tưởng CSMA để giải quyết vấn đề xung đột reader.

Các giao thức dựa vào bộ đếm khác, ví dụ như Adaptive Binary Splitting (ABS), sử

dụng cách tương tự để chia các tag gặp phải xung đột. Các giao thức dựa vào bộ đếm

không gặp vấn đề thiếu hụt. Thêm vào đó, chúng có thuộc tính cố định là hiệu năng

của nó khơng bị ảnh hưởng bởi sự phân phối ID hay độ dài ID.



Ấn định tài nguyên

Yêu cầu tài nguyên



Yêu cầu tài nguyên



Yêu cầu tài nguyên



Ấn định tài nguyên



Ấn định tài nguyên



Hình 2.2: Cấu trúc điều khiển phân cấp giao thức HiQ [22]

II.2.2 Các giao thức chống xung đột cho Tag

Một số các giao thức cũng đã được đề xuất để giảm xung đột tag. Chúng được

phân làm ba loại: Giao thức dựa trên ALOHA, cây khung và bộ đếm.

II.2.2.1 Giao thức dựa trên cây khung



21



Ý tưởng cơ bản của giao thức chống xung đột dựa trên cây khung là chia tách các tag

gặp xung đột thành các phân nhóm theo tag ID cho đến khi chỉ còn một tag trong một

phân nhóm được nhận dạng thành cơng. Các giao thức này có thể được áp dụng cho

các tag có hoặc khơng có bộ nhớ ghi được. Các tag có bộ nhớ giá thành cao hơn. Tuy

nhiên, các giao thức cho loại tag này có hiệu năng tốt hơn. Giao thức Query Tree QT

thích hợp với các tag khơng có bộ nhớ ghi được. Trong giao thức này, reader đầu tiên

quảng bá chuỗi bit yêu cầu S có độ dài thay đổi tới các tag. Một tag có ID Prefix (phần

đầu của ID) trùng với S sẽ đáp trả ID của mình cho reader. Khi các xung đột xảy ra,

reader quảng bá lại chuỗi bit SO hay S1 để chia các tag xung đột thành hai phân

nhóm. Cây nhị phân bit-by-bit thích hợp cho những tag có bộ nhớ ghi được. Trong

giao thức này, một reader đầu tiên quảng bá câu lệnh yêu cầu và mỗi tag sẽ trả lời

bằng bit đầu tiên của ID. Nếu xung đột xảy ra, reader sẽ xác nhận với các tag bằng 0

(hoặc 1). Chỉ tag có bit đầu tiên bằng 0 (hoặc 1) sẽ trả lời bit tiếp theo cho reader.

Theo cách này, các tag được chia nhỏ liên tục thành hai nhóm. Bảng 1 chỉ ra các bước

của quá trình xác nhận của giao thức QT.

Bảng 2.1: Minh họa các bước xác nhận của giao thức QT [23]

Chuỗi Bit

yêu cầu S



Đáp ứng

Xung đột

Xung đột



Xung đột



Xung đột



Xung đột

Xung đột



Một số các giao thức dựa trên cây khung khác ví dụ như EPCglobal Class 0, treeslotted ALOHA (TSA), Bi Slotted Query Tree Algorithm (BSQTA) và Bi Slotted



22



Collision Tracking Tree Algorithm (BSCTTA). Các giao thức này tương tự QT, cũng

sử dụng phương pháp chia tách các tag để giải quyết vấn đề xung đột tag. Nhược điểm

chính của giao thức dựa trên cây khung là hiệu năng bị ảnh hưởng bởi độ dài ID và sự

phân phối tag ID. Nhìn chung, giao thức dựa trên cây khung có thời gian trễ nhận

dạng lâu hơn giao thức dựa trên ALOHA nhưng không gặp vấn đề thiếu hụt tag.

II.2.2.2 Adaptive Binary Tree :

Các thẻ UHF EPC lớp 0 và lớp 1 phiên bản 1.0 (Generation 1) sử dụng một cách

tiếp cận phức tạp hơn cho singulation và chống đụng độ là thủ tục Adaptive Binary Tree.

Thủ tục này sử dụng tìm kiếm nhị phân để tìm một thẻ trong nhiều thẻ. Việc tìm kiếm

nhị phân sử dụng cách tiếp cận query/response (hỏi/đáp) tương tự như Slotted Aloha.

Tuy nhiên nó khơng giống với Slotted Aloha, các thẻ sử dụng giao thức này sẽ trả lời

ngay tức thì. Đặc tả EPC đối với giao diện không gian của các thẻ UHF sẽ sử dụng 2

sóng mang phụ riêng cho bit 1 và bit 0 trong đáp ứng thẻ. Giao thức này không yêu cầu

chỉ một đầu đọc mà nó có thể yêu cầu cấu hình cẩn thận các đầu đọc gần nhau.

Một phương thức dễ dàng là đoán từng số. Khi ta bắt đầu ta khơng có thơng tin, vì

thế ta hỏi “Số đầu tiên là 1 phải khơng?”. Nếu trả lời “vâng” thì ta có thể thêm 1 vào

chuỗi số và hỏi “Số kế tiếp là 1 phải không?”. Nếu trả lời “không” thì ta có thể thêm 0 vào

chuỗi số. Câu hỏi và câu trả lời lặp lại cho từng số cho đến khi ta biết hết tồn bộ số.

Hình dưới trình bày cây, các mũi tên trình bày các số chính xác ở mỗi bước.



Hình 2.3: Cây nhị [22]

Bây giờ áp dụng phương thức này để tìm một thẻ trong nhiều thẻ bằng những bit

trong ID của thẻ. Bắt đầu không có thơng tin, đầu đọc gửi một cầu truy vấn “Có thẻ nào

có bit đầu là 1 khơng?”. Tất cả trả lời “khơng” thì dừng đáp ứng, còn những thẻ trả lời

“có” thì được hỏi câu hỏi tương tự cho bit kế tiếp. Với cách này, các thẻ tiếp tục bị thu hẹp

dần cho đến khi chỉ còn một thẻ trả lời. Bằng phương thức này đầu đọc có thể thu hẹp về

một thẻ mà khơng đi hết tồn ID, mặc dù trong trường hợp xấu nhất thì có thể tìm kiếm

ID tuần tự sẽ cần đi đến bit cuối cùng.

 Các trạng thái Global :



23



Sau đây là các trạng thái tồn cục có thể được vào bất kỳ điểm nào:

 Dormant (không hoạt động).

 Global Command Start (Bắt đầu lệnh toàn cục).

 Global Command (Lệnh toàn cục).

 Calibration (Hiệu chỉnh).

 Các trạng thái Tree Walking :

Các trạng thái sau đây xảy ra khi giao thức qua cây nhị phân:

a. Tree Start.

b. Tree Traversal.

c. Traversal Mute.

 Các trạng thái Singulated :

Các trạng thái này xảy ra khi một thẻ vẫn ở trạng thái cũ sau khi cây nhị phân đã

được đi qua.

 Singulated Command Start .

 Singulated Command.



Hình 2.4: Sơ đồ trạng thái giao thức Adaptive Binary Tree [23]



24



II.2.2.3 Slotted Terminal Adaptive Collection :

Giao thức STAC tương tự về nhiều mặt với Slotted Aloha, nhưng có một số đặc

điểm làm cho nó phức tạp hơn và phải có cách giải quyết riêng. STAC được xác định là

một thành phần của đặc tả EPC đối với các thẻ HF. Bởi vì nó xác định đến 512 khe có

chiều dài khác nhau, đặc biệt là nó phù hợp với singulation với mật độ thẻ dày đặc. Giao

thức này cũng cho phép chọn các nhóm thẻ dựa trên chiều dài của mã EPC bắt đầu bằng

bit đầu. Bởi vì mã EPC được tổ chức bởi Header, Domain Manager Number, Object

Class và Serial Number từ bit đầu đến bit cuối cùng, cơ chế này có thể dễ dàng

chọn những thẻ chỉ thuộc về một Domain Manager hoặc Object Class nào đó. Vì các

thẻ HF thường được dùng xác thực item riêng lẻ nên điều này rất hữu dụng chẳng hạn

như nếu ứng dụng muốn biết có bao nhiêu item trên một pallet hỗn hợp là những thùng

giấy A4.

Cũng như Slotted Aloha, STAC cũng sử dụng các khe. Hình 2.5 minh họa

phương thức sử dụng các khe.



Hình 2.5: Khe STAC [22]

Khe F (hoặc “cố định”) ln ln tồn tại và ln có chiều dài khơng đổi. Theo sau

đó là các khe có chiều dài thay đổi và được đánh số. Các khe này phải bắt đầu bằng

một khe “0” và phải có đủ các khe bằng lũy thừa nào đó của 2. Số khe chính xác được

đầu đọc chọn và được điều chỉnh liên tục để cân bằng giữa nhu cầu đọc nhanh và một vài

sự đụng độ.Càng ít khe hơn thì việc đọc nhanh hơn nhưng nhiều khe hơn thì sẽ làm cho

đụng độ ít hơn.

STAC chỉ định nghĩa một tập nhỏ các trạng thái và các lệnh nhưng các bước trong

giao thức đòi hỏi phải có một số giải thích. Hình dưới đây trình bày các trạng thái và các

lệnh gây ra sự chuyển đổi.



Hình 2.6: Sơ đồ trạng thái giao thức STAC [22]

25



Chú ý dù thẻ đang ở trạng thái nào nó cũng sẽ trở về trạng thái Unpowered

(không được cung cấp năng lượng) nếu nó di chuyển ra khỏi phạm vi của đầu đọc

(Trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc này là thẻ ở trạng thái Destroyed có nghĩa là thẻ bị

mất khả năng hoạt động vĩnh viễn và không thể đọc được hoặc sử dụng lại được).

Sau đây là các trạng thái STAC kết hợp với singulation cộng thêm trạng thái

Destroyed (Trạng thái Write -có trong các thẻ HF EPC lớp 0 hiện hành mà ID EPC chỉ

được đặt bởi nhà sản xuất- khơng được trình bày) :

 Unpowered : Khi thẻ ở ngoài phạm vi của đầu đọc, thẻ ở trạng thái

Unpowered. Cho đến khi vào phạm vi của đầu đọc thì thẻ mới vào trạng thái Ready.

 Ready : Ở trạng thái này thẻ phải chờ lệnh Destroy, Write hoặc Begin

Round. Nếu thẻ nhận lệnh Begin Round có hoặc khơng có sự lựa chọn chiều dài bằng với

EPC của thẻ thì thẻ đều vào trạng thái Slotted Read.

 Slotted Read : Trong trạng thái này thẻ sẽ chọn một khe ngẫu nhiên do

đầu đọc đưa ra. Khe này có thể là bất kỳ khe nào ngoại trừ khe F. Nếu thẻ nhận lệnh

Fix Slot sau khi gửi thông tin của nó thì nó sẽ đi vào trạng thái Fixed Slot. Nếu lệnh

Fix Slot, Close Slot hoặc Begin Round có thêm lựa chọn so khớp thì thẻ vẫn ở trạng

thái Slotted Read. Nếu lệnh Begin Round có thêm lựa chọn khơng so khớp thì thẻ sẽ trở

về trạng thái Ready.

 Fixed Slot : Khi thẻ đang ở trạng thái Fixed Slot nó sẽ đáp ứng trên khe F

và sẽ tiếp tục làm như thế đối với những đáp ứng sau đó cho đến khi năng lượng bị

mất (tức là thoát ra khỏi phạm vi của đầu đọc)

 Destroyed : Nếu thẻ nhận được lệnh Destroyed và password ở trong lệnh

này khớp với password trong thẻ thì thẻ sẽ gửi ID của nó và ngưng hoạt động vĩnh

viễn. Mỗi khi bị làm mất hiệu lực thì thẻ có thể khơng còn sử dụng được nữa.

II.2.2.4 EFC UHF lớp 1 Gen 2 :

Việc nghiên cứu mới đây về giao diện trung gian EPC UHF lớp 1 được gọi là

“Giao thức Gen2”. Gen2 phân tích một số giới hạn của giao thức UHF đầu tiên bằng

cách định nghĩa các sự biến đổi giao thức mà nó có thể làm việc theo quy tắc RF của

Châu Âu (CEPT) và Bắc Mỹ (FCC).

Giao thức EPC Gen 2 hỗ trợ singulation thẻ nhanh hơn giao thức trước, tốc độ

đọc là 1600 thẻ trên giây ở Bắc Mỹ và 600 thẻ trên giây ở Châu Âu. Điều then chốt

của Gen2 là các tín hiệu đầu đọc phát ra được một khoảng cách xa. Nếu 2 đầu đọc cách

nhau 1 km thì vẫn xem chúng ở cùng môi trường hoạt động.

Giao thức mô tả 3 thủ tục truyền giữa đầu đọc với thẻ. Đầu đọc chọn các thẻ bằng



26



cách so sánh thẻ với một bitmask, hoặc kiểm thẻ bằng cách singulate thẻ, hoặc truy cập

thẻ để đọc thông tin, ghi thông tin, làm mất khả năng hoạt động hoặc cài đặt trạng

thái khóa bằng memory bank number.

 Bộ nhớ thẻ :

Giao thức Gen2 cho phép thêm user memory (bộ nhớ người dùng) và Thẻ

Identifier (TID) vào CRC+EPC mà nó được gọi là Object Identifier (OID). Bộ nhớ

thẻ gồm nhiều phần, mỗi phần được tổ chức thành một addressable bank (ngân hàng

địa chỉ) (xem bảng các memory bank của thẻ), các lệnh đọc và ghi lấy bank address

để xác định xem thao tác tác động vào bank nào.

Mỗi thẻ phải có access password, mã kill. Tuy nhiên có thể là một giá trị zero.

Lệnh chọn bank chỉ hoạt động trong bank đó. Để chuyển bank, đầu đọc phải phát lệnh

mới.

Bảng 2.3 - Các memorybank của thẻ [23]

Bank



Nội dung



00



Truy nhập password, kill code, bit protocol,…



01



OID (CRC +EPC)



10



TID serial number của nhà sản xuất thẻ ISO 15693



11



Người dùng



 Lệnh kiểm tra thẻ :

Khi đầu đọc bắt đầu kiểm một nhóm thẻ là lúc bắt đầu một session (phiên giao

dịch). Trong một phiên, mỗi thẻ chỉ liên lạc với một đầu đọc nhưng có thể time-slice

đến 4 session làm cho một thẻ có thể liên lạc với 4 đầu đọc một lúc. Thẻ giữ 4 cờ: S0,

S1, S2 và S3. Cờ có 1 trong 2 giá trị: A hoặc B.

Đầu đọc làm việc ở phiên zero không thể thấy giá trị của cờ của 3 phiên kia

nhưng nếu có một đầu đọc thay đổi giá trị trên một số thẻ hoặc khóa OID bank thì tất cả

các phiên đều bị ảnh hưởng.

Trong quá trình kiểm đầu đọc dùng phương pháp Slotted Random

Anticollision. Nó dùng các khe để xác định thời điểm thẻ sẽ đáp ứng đầu đọc, thẻ

chọn khe bằng cách cài một bộ đếm khe với số ngẫu nhiên 16 bit giảm đến khi bằng

zero. Khi khe của thẻ bằng zero, nó sẽ gửi số ngẫu nhiên 16 bit mới cho đầu đọc. Đầu

đọc dùng số này để che các khối khi liên lạc với thẻ, do đó việc liên lạc giữa đầu đọc với



27



thẻ được mật mã.

Các lệnh kiểm tra:

 Query .

 Query Adjust .

 QueryRep.

 ACK .

 NAK.

 Lệnh Select :

Đầu đọc có thể khơng kiểm tất cả các thẻ, lệnh Select yêu cầu thẻ so sánh nội dung

của một bank bộ nhớ nào đó với bitmask. Nếu bitmask hợp với bộ nhớ của thẻ thì thẻ

đặt cờ SL (selected flag) bằng true hoặc cờ inventoried flag (S0/S1/S2/S3) bằng một

giá trị dolệnh Select chỉ định. Mỗi Select có thể đặt một trong hai giá trị: cờ select hoặc

cờ inventoried.

 Lệnh Access :

Lệnh access cho phép đầu đọc đổi nội dung bộ nhớ của thẻ, đọc bộ nhớ, khóa

bank bộ nhớ, kill thẻ hoặc yêu cầu thẻ phát số ngẫu nhiên 16 bit. Đầu đọc phải nhận

dạng thẻ để dùng một trong những lệnh access. Lệnh access truyền dữ liệu: password,

ID từ đầu đọc cho thẻ dưới dạng mật mã sử dụng một cover code (như bitmask).

Chuẩn Gen2 đòi hỏi cả thẻ và đầu đọc phải hỗ trợ các lệnh access sau đây :

 Req_RN.

 Read.

 Write.

 Kill.

 Lock.

 Access.

 BlockWrite.

 BlockErase.

 Trạng thái thẻ :

 Ready : thẻ chờ khi hiện tại nó khơng được kiểm kê.

 Arbitrate : thẻ chờ khi nó là một phần của bảng kiểm kê.

28



 Reply : thẻ ở trạng thái Reply nó sẽ phát số ngẫu nhiên 16 bit gửi cho

đầu đọc. Nếunó nhận lại ACK thì nó vào trạng thái Acknowledged, nếu khơng nó

sẽ trở về trạng thái Arbitrate

 Acknowledged : thẻ đi vào bất kỳ trạng thái nào ngoại trừ Killed.

 Open : thẻ có nonzero password sẽ vào trạng thái này khi nó

ở trạng thái Acknowledged và nhận lệnh Req_RN từ đầu đọc. Thẻ có thể đi vào

bất kỳ trạng thái nào ngoại trừ Acknowledged.

 Secured : thẻ có password zero sẽ vào trạng thái này khi nó nhận

Req_RN khi đang ở trạng thái Acknowledged, thẻ có nonzero password sẽ vào trạng

thái này từ trạng thái Open khi nó nhận lệnh Access. Thẻ có thể vào bất kỳ trạng

thái nào ngoại trừ Open hoặc Acknowledged.

 Killed : khi thẻ vào trạng thái Killed, nó sẽ gửi đáp ứng thành cơng

cho đầu đọc, sau đó nó mất khả năng hoạt động vĩnh viễn, nó sẽ khơng bao giờ đáp ứng

lệnh nào từ đầu đọc được nữa.

II.2.2.5 Giao thức dựa trên bộ đếm

Giao thức dựa trên bộ đếm giống giao thức dựa trên cây khung, không xảy ra

vấn đề thiếu hụt tag. Ý tưởng cơ bản của hai lớp giao thức là chia tách các tag gặp

phải xung đột thành các phân nhóm cho đến khi chỉ còn duy nhất một tag trong nhóm

được xác nhận thành cơng. Sự khác nhau chính giữa hai lớp giao thức này là giao thức

dựa trên cây khung dựa vào Tag ID tĩnh với sự phân chia xác định, còn giao thức dựa

trên bộ đếm phụ thuộc vào các bộ đếm thay đổi động để phân chia. ISO/IEC 180006B là một chuẩn xuất phát từ giao thức chống xung đột tag dựa vào bộ đếm. Trong

ISO/IEC 18000-6B, mỗi tag có bộ đếm khởi tạo ban đầu bằng 0. Khi reader gửi yêu

cầu tới các tag, mỗi tag có giá trị bộ đếm lớn hơn 0 thì sau đó sẽ tăng bộ đếm của nó

lên 1, trong khi các tag có bộ đếm bằng 0 phát ngẫu nhiên một bit 0 hoặc 1 và cộng nó

vào trong bộ đếm của chúng. Theo cách này, các tag có giá trị bộ đếm bằng 0 bị chia

thành hai phân nhóm. Các giao thức dựa vào bộ đếm khác, ví dụ như Adaptive Binary

Splitting (ABS), sử dụng cách tương tự để chia các tag gặp phải xung đột. Các giao

thức dựa vào bộ đếm không gặp vấn đề thiếu hụt. Thêm vào đó, chúng có thuộc tính

cố định là hiệu năng của nó khơng bị ảnh hưởng bởi sự phân phối ID hay độ dài ID.

II.2.2.6 Giao thức dựa trên ALOHA

Giao thức này dựa trên cơ chế dự phòng, hoạt động theo kiểu xác suất. Chúng cố

gắng xếp xen kẽ các khoảng thời gian đáp ứng của các tag trong vùng chất vấn. Nhìn

chung, các giao thức dựa trên ALOHA đơn giản và có hiệu năng khá cao. Tuy nhiên,



29



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương II: NHẬN DẠNG THẺ TAG VÀ VẤN ĐỀ XUNG ĐỘT TÍN HIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×