Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.1: Giải phẫu Tuyến giáp nhìn từ phía trước [13]

Hình 1.1: Giải phẫu Tuyến giáp nhìn từ phía trước [13]

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ở người trưởng thành bình thường tuyến giáp có kích thước dài từ 3 - 7 cm, rộng

từ 3 - 4 cm, dày từ 1- 2 cm, với trọng lượng khoảng 20 - 30 gram, mật độ mềm mầu đỏ

sẫm. Tuyến giáp ở nam giới thường nặng hơn nữ giới [2], [6], [9], [19].

Tuyến giáp gồm những đơn vị cấu tạo là nang giáp. Các tế bào của nang giáp bài

tiết 2 hormon là Tri - iodothyronin (T3) và Tetra - iodothyronin (T4). Những hormon

này có nhiều chức năng quan trọng đặc biệt là chức năng chuyển hóa. Bên cạnh nang

giáp còn có các tế bào cạnh nang, các tế bào này sản xuất ra calcitonin là hormon tham

gia chuyển hóa canxi.

Tuyến giáp nằm ở vùng cổ và được ni dưỡng bởi rất nhiều mạch máu, mỗi phút

tuyến giáp được cung cấp khoảng 80 đến 120 ml máu [1].

Nằm giáp mặt sau - trong của 2 thùy tuyến giáp là dây TKQN. Trước khi đi vào

tuyến giáp, dây TKQN bên phải đi phía động mạch giáp trạng dưới, còn dây TKQN

bên trái đi ở phía sau động mạch [17], và thường có hình dạng, kích thước đa dạng.

Bình thường, ở ngang mức sát cực dưới tuyến giáp, dây TKQN chia làm hai nhánh có khi nhiều hơn, đi theo chiều dọc, trong rãnh (góc nhị diện) khí quản - giáp trạng, bắt

chéo nhánh tận cùng của động mạch giáp trạng dưới. Dây TKQN liên quan về phía

trong với mặt sau - bên của khí quản, về phía ngồi với mặt sau - trong của thùy giáp,

nhiều khi dính chặt vào tổ chức tuyến giáp. Ở phía trên, dây TKQN thốt ra từ phía mặt

bên của thùy giáp trạng và đi vào sâu qua bờ dưới cơ khít họng, hoặc xuyên qua cơ

theo hướng từ ngồi vào trong.

Dây TKQN, còn được gọi là dây thần kinh thanh quản dưới, chi phối nhiều chức

năng của vùng thanh quản, ví dụ như vận động các cơ trong thanh quản, thanh môn. Do

vậy, khi dây TKQN bị tổn thương (do phẫu thuật) sẽ gây khàn giọng (nếu bị một bên),

mất tiếng (nếu bị hai bên) và sặc thức ăn khi nuốt [4]. Chính vì vậy dây TKQN có chức

năng quan trọng chi phối vận động cơ mở thanh quản, giúp di động 2 dây thanh, tạo

giọng nói và hít thở dễ dàng .

Bám vào mặt sau của 2 thùy tuyến giáp là các khối tròn, nhỏ là tuyến cận giáp.

Có 4 tuyến cận giáp (2 tuyến ở trên và 2 tuyến ở dưới ) tuyến cận giáp có chức năng



điều hòa canxi và phốt pho trong cơ thể, nên khi bị tổn thương nặng (do phẫu thuật

tuyến giáp) sẽ biểu hiện một loạt các rối loạn, ví dụ như cơn hạ canxi máu, ...

1.2. Đặc điểm sinh lý tuyến giáp

Tuyến giáp được nuôi dưỡng bởi nhiều mạch máu, trong tuyến có 2 loại tế bào: Tế

bào C tiết calcitonin (nội tiết tố làm giảm lượng calci máu) và rất nhiều tế bào tuyến giáp

liền nhau tạo thành những nang đường kính khoảng 100 - 300 micromet. Những tế bào

này bắt giữ iod ở máu và tăng tổng hợp tiền nội tiết tố nữ tích trữ trong các nang. Khi có

kích thích bởi TSH (nội tiết tố tuyến yên) các nang giải phóng một phần nội tiết tố tuyến

giáp đã được tích trữ dưới dạng Tri - iodthyronin hay còn gọi là T3 (chiếm khoảng 20%)

và Thyroxine còn gọi là T4 (chiếm khoảng 80%). Trong huyết thanh T3, T4 gắn chủ yếu

với Albumin. Một phần nhỏ hormon ở dạng tự do, chỉ có các hormon tự do Free

Thyroxine (FT4) và Free Tri - iodthyronin (FT3) mới có tác dụng sinh học. FT3 có tác

dụng mạnh và ngắn, FT4 tác dụng chậm và kéo dài hơn. Trong huyết thanh, nồng độ T4

lớn hơn T3 và một phần T4 chuyển hoá thành T3 khi phát huy tác dụng. [17]

1.3. Tác dụng của nội tiết tố tuyến giáp

Hormon tuyến giáp tác dụng lên hầu hết toàn bộ cơ thể như: Hệ tim mạch, hệ thần

kinh, hệ da - cơ - xương, tiêu hóa, … và đặc biệt là tác dụng trên chuyển hóa. Hormon

tuyến giáp tăng dẫn tới tăng chuyển hóa cơ bản, suy giáp làm giảm chuyển hóa cơ bản

tới 20% - 50%.[17]

1.4. Dấu hiệu lâm sàng bệnh Bướu giáp đơn thuần

BGĐT chủ yếu xảy ra ở nữ giới và chịu ảnh hưởng của các giai đoạn thay đổi

sinh lý (dậy thì, thai kỳ, tuổi mãn kinh).

Có tính chất gia đình, nhưng kiểu di truyền đến nay chưa được biết rõ.

Khối u ở cổ được phát hiện tình cờ bởi bệnh nhân hoặc bởi người xung

quanh, hoặc trong khi khám sức khỏe nói chung.

Thường khơng có triệu chứng cơ năng hoặc đơi khi có cảm giác nghẹn ở cổ,

hoặc những triệu chứng không đặc hiệu (hồi hộp, rối loạn thần kinh thực vật, …).



Để đánh giá độ lớn của bướu cũng như để đưa ra chỉ định phẫu thuật, người ta

thường chia thành nhiều độ dựa theo các tiêu chí lâm sàng, cụ thể:

- Độ I: Sờ thấy bướu khi bệnh nhân nuốt.

- Độ II: Bướu lộ rõ dưới da, nhìn và sờ thấy nhưng vòng cổ chưa thay đổi.

- Độ III: Bướu lồi ra khỏi vòng cổ, chiếm một diện tích rộng trước cổ, cho

phép xác định được kích thước.

- Độ IV: Bướu to lấn vượt bờ ngồi cơ ức đòn chũm, và làm thay đổi đáng kể

vòng cổ.

- Độ V: Bướu rất to, vượt bờ ngồi cơ ức đòn chũm hai bên, sa xuống phía trước cán

xương ức.



Hình 1.4: Bệnh nhân Nguyễn Thị Nh - 59 tuổi số bệnh án: 2978 chẩn đoán: Bướu

hỗn hợp giáp trạng thuỳ trái độ IV



1.5. Biến chứng sau phẫu thuật

1.5.1. Các biến chứng sớm

1.5.1.1. Chảy máu thứ phát sau mổ

Là biến chứng thường gặp ở những giờ đầu sau mổ, nguyên nhân chủ yếu do cầm

máu không kỹ, để sót hoặc tuột chỉ cầm máu, nếu khơng được phát hiện sớm và kịp

thời khối máu tụ sẽ chèn ép vào khí quản gây cơn khó thở cấp dẫn đến suy hô hấp và

người bệnh tử vong rất nhanh. Theo các nghiên cứu biến chứng, chảy máu sau mổ

gặp từ 0,35 - >3,8%: Đặng Ngọc Hùng và cộng sự 0,35% [3].

1.5.1.2. Suy hô hấp sau mổ

Là một biến chứng nặng sau mổ bướu giáp cần phải xử trí cấp cứu kịp thời nếu

không sẽ dẫn đến tử vong, nguyên nhân thường do viêm phù nề thanh môn, ứ đọng

đờm rãi, tụ máu tại chỗ gây chèn ép khí quản, tổn thương dây TKQN.

1.5.1.3. Tổn thương dây thần kinh quặt ngược

Là một biến chứng nặng,khó có khả năng phục hồi. Người bệnh có thể bị khàn

tiếng nếu đứt, tổn thương đụng dập hoặc chèn ép dây TKQN một bên hoặc nặng hơn

nữa là dây TKQN cả 2 bên, gây liệt thanh quản tồn bộ, người bệnh sẽ khó thở và có

nguy cơ tử vong nếu khơng được mở khí quản kịp thời. Tỷ lệ tổn thương dây TKQN từ

0,1 - 1,8% theo từng nghiên cứu, ví dụ: Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Ty và cộng sự là

1,13% [14].

1.5.1.4. Cơn hạ canxi huyết (Tetani) do tổn thương tuyến cận giáp

Biến chứng xảy ra khá muộn sau mổ do trong khi phẫu thuật BGĐT đã cắt bỏ

hoặc làm tổn thương đến tuyến cận giáp, gây hiện tượng tê bì chi hoặc nặng hơn nữa có

thể co giật.

1.5.1.5. Ứ đọng dịch vết mổ, nhiễm trùng vết mổ

Tuy ít gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng người bệnh, nhưng sẽ ảnh

hưởng đến thẩm mỹ của vết mổ (sẹo xấu, rúm ró,…). Tỷ lệ biến chứng này khoảng

5,5% [10].



1.5.2. Các biến chứng muộn

1.5.2.1. Nhược giáp sau phẫu thuật

Thường gặp trong trường hợp cắt bỏ tuyến giáp quá triệt để, hoặc phần tuyến giáp

để lại quá ít không đủ để chức năng sinh lý của một tuyến giáp bình thường. Tỷ lệ

nhược giáp sau mổ thay đổi từ 5 - 72% [20] trong nhóm phẫu thuật cắt gần hoàn toàn

giáp trạng. Một số nghiên cứu gần đây cho rằng phần lớn nhược giáp xuất hiện trong

giai đoạn tương đối gần cuộc mổ, với 93% được chẩn đốn xác định trong vòng 18

tháng đầu sau mổ [18].

1.5.2.2. Di chứng của quá trình liền sẹo xấu

Nghiên cứu của Nguyễn Đức Thành (1996) cho thấy tỷ lệ này chiếm 11,67%

chủ yếu là sẹo co kéo và sẹo lồi [11].

1.5.2.3. Bướu giáp tái phát sau mổ

Thường gặp sau mổ các thể bướu nhân, bướu hỗn hợp nguyên nhân hầu hết là do

bỏ sót tổn thương trong mổ lần đầu, theo các thống kê tỷ lệ thay đổ từ 2 - 30%, như

Nguyễn Xuân Ty và cộng sự 2,7%[14].

1.5.3. Chăm sóc cho người bệnh sau mổ tuyến giáp đơn thuần

Việc chăm sóc và theo dõi người bệnh sau mổ là hết sức cần thiết và quan trong,

những hậu quả ghê gớm mà nó gây ra cho người bệnh như: Chảy máu thứ phát, cơn hạ

calci huyết, nhiễm trùng vết mổ, … Nếu khơng được chăm sóc chu đáo người bệnh sẽ

có nhiều tai biến xẩy ra nguy hiểm đến tính mạng. Là người điều dưỡng điều đầu tiên

không chỉ cần làm tốt cơng tác điều dưỡng - chăm sóc tốt người bệnh giúp phát hiện kịp

thời những biến chứng có thể xẩy ra, mà bên cạnh đó cần có sự chăm sóc một cách tồn

diện cho người bệnh. Đối với bệnh nhân sau phẫu thuật BGĐT thì người điều dưỡng

cần phải quan tâm chăm sóc đến những vấn đề sau:

- Theo dõi (dẫn lưu, vết mổ, cháy máu, khó thở…).

- Thực hiện y lệnh (tiêm thuốc, uống thuốc, thay băng vết thương, …).

- Dinh dưỡng đủ cho người bệnh.

- Động viên, an ủi bệnh nhân giúp họ phát hiện sớm các biến chứng và biết cách

phòng ngừa.



CS TRƯỚC MỔ TUYẾN GIÁP (BASEDOW)

- Tiếp nhận bệnh nhân, xếp giường cho bệnh nhân.

- Hướng dẫn bệnh nhân các thủ tục, quy định cần thiết.

- Dặn bệnh nhân nghỉ ngơi tại giường, không hoạt động mạnh, trách xúc động mạnh,

thực hiện y bệnh, uống thuốc đầy đủ.

- Bệnh nhân ăn uống đủ chất dinh dưỡng, ăn tăng hoa quả và rau xanh.

- 01 ngày trước mổ: (buổi chiều)

+ Thử phản ứng cho bệnh nhân;

+ Bệnh nhân vệ sinh sạch sẽ;

+ Căn dặn trước khi vào mổ tháo đồ trang sức, cắt móng tay, cởi bỏ áo lót;

+ Phổ biến cho bệnh nhân và gia đình bệnh nhân các tai biến có thể xảy ra trước,

trong và sau mổ. Cho bệnh nhân và người nhà ký cam kết.

+ Bệnh nhân ăn uống ... Cho bệnh nhân ngủ sớm và dùng thuốc ngủ theo y

bệnh.



NGÀY MỔ

- Nhịn ăn sáng

- Kiểm tra M, to, HA

CS BỆNH NHÂN SAU MỔ

- Theo dõ chỉ số sinh tồn: M, to, HA, SPO2

- Thực hiện y bệnh và truyền dịch.

- Theo dõi vết mổ: Chảy máu? Dẫn lưu có chảy dịch?

- Nghiêng đầu khạc đờm (nếu có)

- Bệnh nhân tỉnh có thể cho ngồi dậy.

- Sau 6 tiếng bệnh nhân có thể ăn cháo hoặc uống sữa.

- Bệnh nhân nói được có thể nói khơng được kiêng nói.



- Hàng ngày thay băng, rút dẫn lưu theo y bệnh.

- Căn dặn bệnh nhân về chế độ ăn. ăn uống bình thường khơng phải kiêng khem,

ăn đủ chất, dễ tiêu.

- Hướng dẫn bệnh nhân tập vận động cổ: Giữ nguyên vai và quay tròn cổ nhẹ

nhàng tác dụng chống cứng cổ, vết mổ?

- Nếu khâu chỉ tiêu thì ngày ra việncắt 2 đầu chỉ.

- Nếu chỉ khơng tiêu thì 7 ngày cắt chỉ.

- Khi bệnh nhân ra viện hướng dẫn đầy đủ các thủ tục... Căn dặn bệnh nhân khám

lại theo định kỳ hoặc bất cứ lúc nào thấy mệt.



CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại khoa ngoại bệnh viện huyện Phú Lương, bệnh viện

A và C tỉnh Thái Nguyên với sự giúp đỡ của Bác sỹ Bùi Văn Khanh và đồng nghiệp tại

khoa.

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.2.1. Nguồn bệnh nhân - Tiêu chuẩn lựa chọn

Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị bằng phẫu thuật bướu giáp đơn thuần

tại khoa điều dưỡng – Bệnh viện A và C Thái Nguyên từ tháng 3 năm 2018 đến tháng 8

năm 2018.

2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân được chuẩn đoán bướu cổ đơn thuần khơng có chỉ định phẫu thuật

- Trẻ em dưới 16 tuổi

- Phụ nữ có thai

- Bệnh nhân có tiền sử hen phế mãn, lao phổi tiến triển, động kinh, huyết áp tối đa

cao hơn 160 mmHg, bệnh nhân có HIV (+)2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu hồi cứu.

2.3.2. Cỡ mẫu

Tổng số bệnh nhân phẫu thuật tuyến giáp đơn thuần tại Điều dưỡng đa khoa –

Bệnh viện A và C tỉnh Thái Nguyên từ tháng 03/2018 đến tháng 08/2018 số lượng

bệnh nhân lấy được là 120 bệnh nhân sau khi loại trừ còn 98 bệnh nhân là phù hợp.

Như vậy cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu là 98 bệnh nhân.

2.3.3. Chọn mẫu

Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện.

2.3.4. Các bước tiến hành nghiên cứu

2.3.4.1. Chọn hồ sơ người bệnh từ tháng 03/2018 đến tháng 08/2018

- Bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật BGĐT và chăm sóc sau mổ.



2.3.4.2. Thống kê, loại trừ theo tiêu chuẩn loại trừ

Tất cả các bệnh nhân được thống kê, loại trừ theo tiêu chuẩn loại trừ được

trình bày tại mục 2.2.2.

2.3.4.3. Thu thập thông tin

- Thu nhập thông tin qua 98 bệnh nhân được phẫu thuật theo mẫu bệnh án



thống nhất gồm:

+ Tuổi.

+ Giới.

+ Nơi sống.

+ Triệu trứng lâm sàng.

Thu nhập thơng tin qua phiếu theo dõi phiếu chăm sóc của điều dưỡng về các

triệu trứng của bệnh nhân:

+ Chảy máu vết mổ.

+ Nhiễm trùng vết mổ.

+ Chèn ép do băng ép: sưng nề mặt cổ.

+ Tắc tuột ống dẫn lưu.

+ Khàn tiếng.

+ Khó thở.

+ Tê bì ,co giật

+ Tràn khí

- Mơ tả q trình vệ sinh tồn thân và băng vô trùng sau mổ cho bệnh nhân.



2.4. Các chỉ tiêu nghiên cứu

Các chỉ tiêu nghiên cứu được trình bày tại bảng 2.1 dưới đây.

Bảng 2.1 : Các biến số, chỉ số nghiên cứu

Khan tiếng sau mổ

Có/khơng

Biến số nghiên cứu Các chỉ số nghiên cứu



STT



Ghi chép

Phương pháp

thu thập



Bệnh án

Công cụ thu

thập



1



Tuổi (năm)



16- 40, 41- 65, > 65



Ghi chép



Bệnh án



2



Giới



Nam/Nữ



Ghi chép



Bệnh án



3



Địa danh



Nông thôn, thành thị



Ghi chép



Bệnh án



4



Thời gian mắc bệnh



1 - 5,5 - 10, >10



Ghi chép



Bệnh án



5



Triệu chứng lâm sàng



có/khơng (nuốt vướng,khó

thở, nói khàn)



Ghi chép



Bệnh án



6

7

8

9

10

11



Cơn tetani



Có/khơng



Thời gian cho



trước 12h, từ 12h -



bệnhnhân ăn



24h, sau 24h



Chảy máu sau mổ



Có /khơng



Tình trạng vết mổkhi Mềm mại, liền sẹotốt, ứ

ra viện

Thời gian nằm

việnsau mổ



dịnh, nhiễm trùng

trước/sau 7 ngày



Ghi chép



Bệnh án



Ghi chép



Bệnh án



Ghi chép



Bệnh án



Ghi chép



Bệnh án



Ghi chép



Bệnh án



2.5. Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu sau khi thu thập được xử lý bằng toán thống kê y học



CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.1.1. Tổng số đối tượng được nghiên cứu

Gồm 98 bệnh nhân bị BGĐT to độ III - IV, đáp ứng đủ tiêu chuẩn nghiên cứu,

được phẫu thuật tại Khoa điều dưỡng đa khoa – Bệnh viện A và C Thái Nguyên, trong

thời gian từ tháng 03/2018 đến tháng 08/2018.

3.1.2. Tuổi

Bảng 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi

Lứa tuổi (năm)

16 - 40



41 - 65



39



56



39,8



57,1



> 65



Tổng



Chỉ số thống kê

n

thấp



Tỷ lệ %



3



98



Tuổi



3,7



100



nhất



là 20 tuổi và cao nhất là 70 tuổi.

60

50



Lứa tuổi (năm) 40



40



n



30

20

10

0



39,8



57,1



3,1



Tỷ lệ %

Hình 3.1: Biểu đồ phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.1: Giải phẫu Tuyến giáp nhìn từ phía trước [13]

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×