Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nhận xét: Đa số bệnh nhân ở độ tuổi từ 41 - 65, chiếm 57,1 %; tiếp đó là độtuổi từ

16 - 40, chiếm 39,8%; ít gặp bệnh nhân > 65 tuổi, chỉ chiếm 3,1%.

3.1.3. Giới

Bảng 3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới

Chỉ số thống kê

Giới

n

Tỷ lệ %



Nam



Nữ



Tổng



5



93



98



94,9



100



5,1

5 người- 5,1 %



Nam

Nữ



93 người – 94,9%

Hình 3.2: Biểu đồ phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới



Nhận xét: Hầu hết các đối tượng bệnh nhân đều là nữ giới, chiếm 94,9%; chỉ có 5

bệnh nhân là nam giới, chiếm 5,1%. Tỷ lệ phân bố nam : nữ = 1:18,6.



3.1.4. Nơi sống

Bảng 3.3: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nơi sống

Chỉ số thống kê

Thành thị



Nơi sống



n



Nông thôn



37



Tỷ lệ %

70

60

50



61

61

62,2



37,8



Tổng



98

100



37



40



Số người

30

20

10

0



Thành thị



Nơng thơn



Hình 3.3: Biểu đồ phân bố đối tượng nghiên cứu theo nơi sống

Nhận xét: Có 37 đối tượng nghiên cứu sống ở thành thị, chiếm 37,8 %và 61 đối

tượng nghiên cứu sống ở nông thôn, chiếm 62,2 %.



3.1.5. Thời gian mắc bệnh

Bảng 3.4: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo thời gian mắc bệnh

Thời gian mắc bệnh

(năm)



Số lượng



Tỉ lệ %



1-



5



48



49,0



6-



10



37



37,8



>10



13



13,2



Tổng số



100



100,0



Nhận xét: Đa số bệnh nhân mắc BGĐT độ III và IV đều có thời gian mắc bệnh dưới

10 năm, trong đó có 49% bệnh nhân có thời gian mắc bệnh dưới 5 năm.

3.2. Đặc điểm lâm sàng trước mổ

Bảng 3.5: Phân bố bệnh nhân theo độ lớn của bướu

Độ bướu

Độ III



Độ IV



Tổng



Chỉ số thống kê

n



90



Tỷ lệ %



91,8



8



98



8,2



100



[[[ơ



90



70

60

50

Số người

40

8



30

20

10

0

Độ III



Độ IV



Hình 3.4: Biểu đồ phân bố bệnh nhân theo độ lớn của bướu

Nhận xét: Đa số bệnh nhân có bướu giáp to Độ III, chiếm 91,8%; chỉ có 8 bệnh

nhân có bướu giáp Độ IV, chiếm 8,2%.



Bảng 3.6: Bảng phân bố đối tượng nghiên cứu theo đặc điểm lâm sàng

Đặc điểm lâm sàng

Sưng cổ Khó thở

Chỉ số thống kê

n

Tỷ lệ %



Nuốt



Khàn



vướng



tiếng



Tổng



80



10



7



1



98



81,7



10,2



7,1



1,0



100



Nhận xét: Do bướu to ở độ III - IV nên có khả năng chèn ép ra xung quanh, kết

quả cho thấy dấu hiệu khó thở khi nằm ưỡn có 10 ca, chiếm 10,2%; dấu hiệu nuốt vướng

có 7 ca, chiếm 7,1%, trong đó có 3 ca vừa nuốt nghẹn vừa khó thở; khàn tiếng chỉ gặp ở

1 ca. Còn hầu hết các bệnh nhân khác đều có dấu hiệu sưng cổ, chiếm 81,7%.



3.3. Đánh giá kết quả chăm sóc sau phẫu thuật

Bảng 3.7: Biến chứng sớm xảy ra trong thời gian hậu phẫu

Biến chứng



Không



Chảy



Dây



Suy hô hấp

cấp



máu TKQN



Cơn



Nhiễm Tràn



Tetani

(co giật)



trùng khí



Tắc

tuộtdẫ Tổng

n lưu



Chỉ số thống kê

n

Tỷ lệ %



96



1



0,0



97,9



1,0



0,0



0,0

0,0



1



0,0



0,0



0,0



98



1,0



0,0



0,0



0,0



100



Bảng 3.8: Phân bố thời gian điều trị tại phòng hậu phẫu

Điều trị tại phòng hậu phẫu (giờ)

12 - 24

> 24 giờ

Chỉ số thống kê <12 giờ



Tổng số



giờ

n



98



0



0



98



%



100



0



0



100



98



100

90

80

70

Số người 60

50

40



30

0



20



0



10

0

< 12 giờ



12 – 24 giờ



> 24 giờ



Thời gian điều trị hậu phẫu

Hình 3.5: Biểu đồ phân bố thời gian điều trị tại phòng hậu phẫu

Nhận xét: Kết quả tại bảng 3.7, 3.8 và hình 3.5 cho thấy tất cả các bệnh nhân đều có

diễn biến sau mổ rất thuận lợi, với thời gian nằm điều trị tại phòng hậu phẫu < 12h sau đó

ăn uống bình thường, hầu hết khơng có biến chứng sớm (97.9%), chỉ có một ca chảy

máu ở lớp dưới da đã được xử lí bằng băng ép, sau đó ổn định và 1 ca xuất hiện cơn

Tetani vào ngày thứ 2 sau mổ (trên nền một phẫu thuật cắt gần hoàn toàn giáp trạng ở

bệnh nhân mổ lại bướu tái phát), được điều trị bằng canxi đến ngày thứ 5 thì hết. Khơng

có trường hợp nào biểu hiện tổn thương dây TKQN và suy hô hấp cấp sau mổ.



Bảng 3.9: Kết quả chăm sóc vết mổ sau phẫu thuật và thời gian nằm viện

Thời gian nằmviện



Kết quả chăm sóc vết mổ

Chỉ số thống kê



Liền sẹo

tốt



n = 98

%



100



Códịch Có mủ



trung bình (ngày)



Tốc



94



4



0



0



95,9



4,1



0,0



0,0



6,7± 1,2



94



90

80

70

60

Số người

50

40

30



20



4



0



0



10

0



Liền sẹo tốt



Có dịch



Có mủ Tốc



Có mủ



Kết quả chăm sóc vết mổ

Hình 3.6: Biểu đồ phân bố kết quả chăm sóc sau phẫu thuật



Nhận xét: Thời gian cắt chỉ trung bình sau mổ là 6,7 ± 1,2 ngày. Hầu hết



các



bệnh nhân đều được chăm sóc tốt, vết mổ khơ, sẹo liền đẹp khơng rúm ró chiếm 95,9%;

chỉ còn 4 ca vết mổ ướt, có dịch chiếm 4,1% thay băng vài ngày thì hết. Khơng có trường

hợp nào có mủ hoặc tốc vết mổ.

Bảng 3.10: Đánh giá tình trạng vết mổ trước khi ra viện

Kết quả vết mổ trước khi ra viện



Chỉ số thống kê



Tổng số



Tốt



Khá



Kém



n



93



5



0



98



%



94,9



5,1



0



100



93



100

90

80

70

60



Số người

50

40

30

20



5



0



Khá



Kém



10

0

Tốt



Kết quả vết mổ trước khi ra viện

Hình 3.7: Biểu đồ phân bố kết quả tình trạng vết mổ trước khi ra viện



Nhận xét: Qua bảng 3.10 và hình 3.7 cho thấy với việc chăm sóc tốt, đúng chun

mơn, kỹ thuật tỷ lệ bệnh nhân ra viện đạt 94,9% vết mổ đạt loại tốt, loaị khá chiếm 5,1%,

khơng có loại kém.

Hình 3.8: Bướu độ IV sau khi cắt - Bệnh nhân Nguyễn Thị V 44 tuổi - Bệnh ánsố



2868



Hình 3.9: Tình trạng vết mổ trước khi ra viện - Bệnh nhân Nguyễn Thị V 44 tuổi Bệnh án số 2868 chẩn đoán bướu hỗ hợp 2 thuỳ độ IV



CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

BGĐT là bệnh lý phổ biến ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Bên cạnh các phương

pháp điều trị nội khoa, phương pháp điều trị BGĐT bằng phẫu thuật thường đem lại kết

quả cao, có tính triệt để hơn, mặc dù phải chấp nhận một tỉ lệ tai biến và biến chứng nhất

định, liên quan đến cả khâu gây mê - hồi sức, phẫu thuật và quan trọng hơn nữa là khâu

chăm sóc của người điều dưỡng sau khi bệnh nhân đã được phẫu thuật. Mặc dù có nhiều

biến chứng nhưng việc chăm sóc tốt, thực hiện đúng kỹ thuật, chun mơn có vai trò

quan trọng trong việc đem lại cho bệnh nhân vẻ đẹp mỹ quan bên ngoài, làm cho bệnh

nhân quên đi hết những cảm giác khó chịu, chán nản, bi quan, họ thấy yêu đời và u

cuộc sống hơn. Với vai trò là người chăm sóc cho người bệnh, người điều dưỡng không

chỉ giúp người bệnh theo dõi những biến chứng bất thường xẩy ra, hiểu biết thêm về căn

bệnh này, mà còn phải giúp người bệnh hiểu được và áp dụng được chế độ dinh dưỡng

hợp lý, cách chăm sóc vết mổ cho bản thân họ hàng ngày để điều trị và kiểm soát được

những biến chứng giúp họ lạc quan, tin tưởng vào cuộc sống. Dựa vào kết quả thu được

từ nghiên cứu, chúng em có một số bàn luận dưới đây.

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.1.1. Tuổi, giới tính

Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.1 cho thấy bệnh BGĐT mắc nhiều nhất ở lứa tuổi là

41- 65 tuổi (56,7%), tuổi từ 16 - 40 mắc bệnh ít hơn (39,8%) và thấp nhất là bệnh nhân ở

nhóm tuổi cao hơn 65 tuổi (3,1%). Số liệu của chúng em cũng phù hợp với nhận xét của

các tác giả trong và ngoài nước, phần lớn các bệnh nhân mổ đều ở lứa tuổi lao động [4],

[10], [9]. Qua đó cũng thấy tỉ lệ bệnh nhân bị BGĐT ở nhóm nghiên cứu có độ tuổi từ 4165 thì nhiều hơn nghiên cứu của Nguyễn Bá Quang (33.5%) [9] nhưng tương đương với

kết quả nghiên cứu của Đặng Ngọc Hùng và Trần Tử Bình (54,1%) [4].

Kết quả bảng 3.2 cho thấy, bệnh nhân mắc BGĐT chủ yếu là nữ giới, tỉ lệ nữ/nam

là 18,6/1. Tỷ lệ trong nghiên cứu thì cao hơn của Trần Đức Thọ là 10/1, của Nguyễn

Khánh Dư là 5/1 [12], của Trần Tử Bình là 8,5 /1 [16] và của Nguyễn Bá Quang là 12,3/1

[9]. Chúng em cho rằng sự chênh lệch tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ có thể có mối liên

quan với các ảnh hưởng của nội tiết tố nữ, tỷ lệ nữ giới của nghiên cứu lớn hơn các tác giả



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×