Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Những nghiên cứu về chất lượng đào tạo của ngành Trung Quốc học

Những nghiên cứu về chất lượng đào tạo của ngành Trung Quốc học

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thật vậy, khơng như một số chưong trình đào tạo khác như học ngành y sẽ

làm bác sĩ, y tá, dược sĩ, hay học sư phạm thường làm giáo viên,… ngành Trung

Quốc học đào tạo theo hướng mở: Cung cấp cho sinh viên khơng chỉ ngơn ngữ mà

còn có kiến thức về đất nước học một cách tổng quan và bao gồm nhất, người học

có thể vận dụng vốn kiến thức này để làm nền, sau quá trình học, nếu bản thân u

thích lĩnh vực, cơng việc cụ thể nào và cảm thấy mình chưa đủ kĩ năng, họ có thể

theo học một khóa đào tạo nghiệp vụ ngắn hạn để bổ sung thêm. Do vậy, cử nhân

chuyên ngành Trung Quốc học thuộc khoa Đông phương học sau khi tốt nghiệp có

thể đảm nhận rất nhiều vị trí, chức vụ thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau từ văn hóa,

chính trị, kinh tế, kỹ thuật đến nghiên cứu, giảng dạy. Từ đó nắm chắc trong tay một

vốn tiếng Trung vừa đủ, vốn kiến thức về đất nước Trung Hoa đủ rộng và kĩ năng

nghề đủ chắc để trở thành một ứng viên sáng giá trong con mắt của các nhà tuyển

dụng.

Sau đây là kết quả mà nhóm nghiên cứu có được sau khi khảo sát một số sinh

viên đang theo học ngành Trung Quốc học, khoa Đông phương học, Đại học Khoa

học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia TP.HCM, khi được hỏi về lợi thế của

ngành mà họ đang theo học.

Biểu đồ 3.3 : Đánh giá của sinh viên về lợi thế của ngành Trung Quốc học



Dựa trên biểu đồ, có 56% sinh viên cho rằng, một trong những lợi thế của

ngành Trung Quốc học là có thể phát triển tồn diện về mọi khía cạnh của đất nước



này, cụ thể là “Nắm bắt được mọi phương diện về đất nước học bao gồm cả kinh tế,

xã hội , chính trị, văn hóa Trung Quốc; có những thầy cô ưu tú giảng dạy trên từng

phương diện; được đào tạo về nhân cách, được rèn luyện làm việc với tinh thần

trách nhiệm cao; được tham gia những hoạt động ngoại khóa để nâng cao tinh thần

làm việc nhóm. (Trích câu trả lời từ phiếu khảo sát số 14 của một bạn sinh viên

ngành Trung Quốc học). Thông qua số liệu trên ta thấy, phần lớn sinh viên không

những xem lợi thế của ngành là dạy tốt và học tốt tiếng Trung mà bên cạnh đó còn

cung cấp cho họ những kiến thức, kĩ năng quan trọng trong các lĩnh vực khác, mở ra

nhiều cơ hội nghề nghiệp trong tương lai khi mà phạm vi nghiên cứu khơng chỉ gói

gọn trong ranh giới địa lý Trung Hoa đại lục mà còn bao hàm các khu vực khác có

sử dụng tiếng Hoa.

Với chương trình đào tạo của ngành, sinh viên có thể dễ dàng tìm được việc

làm sau khi tốt nghiệp (68%), cảm thấy hài lòng với chất lượng giảng dạy, cụ thể:

Có 12% sinh viên rất hài lòng, 60% cảm thấy hài lòng, 28% có chút khơng hài lòng.

Để có kết quả chính xác và khách quan hơn, nhóm nghiên cứu đã có câu hỏi dành

cho những sinh viên đã tốt nghiệp: “Nếu được chọn lại chuyên ngành trong khoa

Đông phương học, anh/chị sẽ chọn chuyên ngành nào?” Kết quả nhận được, đa số

sinh viên vẫn muốn giữ lại chuyên ngành Trung Quốc học của mình. Từ đó, có thể

khẳng định chương trình giảng dạy và chất lượng đào tạo của ngành đã đáp ứng

được nguyện vọng nghề nghiệp của sinh viên và yêu cầu ngày một khắt khe của thị

trường lao động hiện nay.

Tuy nhiên, có 10% sinh viên lại cho rằng ngành học của họ chỉ đào tạo tốt

tiếng Trung mà không thấy được khả năng đào tạo toàn diện của ngành. Một điểm

đáng lưu ý là tỷ lệ 10% này đều cho rằng, ngành Trung Quốc học tuy không đào tạo

chuyên sâu về ngữ pháp nhưng người học được đào tạo rất kĩ lưỡng về phần phát

âm sao cho thật chuẩn. Ngành dành ra hẳn một học kì đầu tiên để giảng dạy cách

phát âm, sự tỉ mỉ này nhằm trang bị cho sinh viên yêu thích những cơng việc như

biên tập viên, người dẫn chương trình,… một kĩ năng quan trọng để theo đuổi công

việc này. Điểm đặc sắc trong chương trình cử nhân Đơng phương học chuyên ngành

Trung Quốc học là đa phần các môn chuyên ngành đều được giảng dạy bằng ngoại



ngữ của ngành là tiếng Hoa, do đó sinh viên chẳng những được trang bị lượng kiến

thức chuyên ngành phù hợp mà khả năng ngoại ngữ cũng được tăng lên đáng kể.

2.2 Về kĩ năng

Theo UNESCO, mục đích học tập là: “Học để biết, học để làm, học để chung

sống, học để tự khẳng định mình”. Thế nhưng, quan điểm “học để biết” chỉ dừng lại

ở mức độ cơ bản về các kiến thức tự nhiên - xã hội cần thiết đối với con người. Còn

“học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” lại đòi hỏi con người

phải ln khơng ngừng nâng cao về trình độ, hiểu biết, cũng như trang bị cho bản

thân những kĩ năng thiết yếu nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội. Trong đó, kĩ năng mềm

được xem là một trong những kĩ năng quan trọng mà con người cần phải tự giác

trang bị riêng cho mình trước khi bước vào xã hội.

Dưới đây là những nghiên cứu, phân tích về tình hình tham gia các hoạt

động phát triển kỹ năng mềm của sinh viên năm 3 và năm 4 ngành Trung Quốc học.

2.2.1 Tham gia hoạt động ngoại khóa, CLB và làm việc nhóm

Khi hỏi về vấn đề “Mức độ tham gia các hoạt động ngoại khóa, CLB và làm

việc nhóm” của sinh viên năm 3 và năm 4 ngành Trung Quốc hiện nay, kết quả thu

được như sau:

Bảng 3.4: Mức độ tham gia hoạt động ngoại khóa, CLB, làm việc nhóm của sinh

viên

Mức độ tham gia hoạt

STT



động ngoại khóa, CLB,

làm việc nhóm của sinh



Phần

Tần số



(%)



viên

1

2

3

4

5



Hồn tồn khơng tham gia

Ít tham gia

Có tham gia

Tham gia nhiều

Tích cực tham gia

Tổng cộng



trăm



0

12

25

13

0



0%

24%

50%

26%

0%



50



100%



Phần

trăm

lũy tiến

(%)

0%

24%

74%

100%

100%



Dựa vào số liệu, 100% sinh viên đều tham gia các hoạt động ngoại khóa, CLB,

cũng như làm việc nhóm và khơng có sinh viên nào là không tham gia các hoạt

động.



Điều này cho thấy, thực tế các sinh viên năm 3 và năm 4 ngành Trung Quốc

học mặc dù sắp ra trường, đi thực tập rất nhiều nhưng vẫn rất tích cực tham gia hoạt

động ngoại khóa của trường cũng như khoa bộ môn tổ chức. Điều này đúng với

thực tế của khoa Đông phương học trong những năm gần đây. Khoa luôn đi đầu

trong việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa, tạo cơ hội cho sinh viên tham gia

trong các hoạt động như hội thảo, tình nguyện, cuộc thi học thuật, lễ hội và đặc biệt

là trong lĩnh vực ca, múa, nhạc. Nhờ sự nhiệt tình tham gia đóng góp của sinh viên

về thời gian và sức lực nên các tiết mục của khoa cũng như của ngành luôn diễn ra

đặc sắc và đạt được nhiều giải thưởng cao.

2.2.2. Vấn đề làm thêm của sinh viên

Biểu đồ 3.5 : Tỷ lệ sinh viên làm thêm trong thời gian đi học



Khi được hỏi về vấn đề: “Có nên đi làm thêm trong thời gian đi học hay

khơng? ”, có 96% trả lời nên, 2% trả lời khơng và 2% có câu trả lời khác.

Trong đó có ý kiến cho rằng: “Theo mình nghĩ sinh viên nếu có thể, hãy đi

làm thêm, khi làm thêm các bạn sẽ tích lũy kinh nghiệm thực tế cũng như những

kiến thức mà chúng ta chưa được học, để sau này chúng ta sẽ không bị bỡ ngỡ khi

ra trường. Ngoài ra, làm thêm cũng giúp chúng ta có thêm thu nhập, nhưng quan

trọng là chúng ta phải biết sắp xếp và cân bằng giữa việc học và việc làm” (Trích

câu trả lời của một nữ sinh viên năm 3 ngành Trung Quốc học).



Điều này cho thấy, hầu hết các sinh viên năm 3 và năm 4 ngành Trung Quốc

học đều đồng tình với việc nên đi làm thêm vào thời gian đi học. Bởi vì, làm thêm

là một cách giúp chúng ta trang bị kỹ năng mềm và kiến thức xã hội, bên cạnh đó

còn giúp ta trang trải cuộc sống và nhất là trở nên tự lập.

Cũng có ý kiến cho rằng: “Nên đi làm để trải nghiệm và tích luỹ kinh nghiệm.

Học phải đi đơi với hành. Vì vậy, việc đi làm thêm là nên được khuyến khích. Tuy

nhiên phải cân bằng học và làm” (Trích câu trả lời của một nữ sinh viên năm 4

ngành Trung Quốc học).

Trong số 50 phiếu khảo sát, có một phiếu đưa ra quan điểm khơng đồng tình

với việc đi làm thêm, lý do bạn đưa ra là: “Với sinh viên học ngoại ngữ thì khơng

nên đi làm thêm vì sẽ khơng có thời gian học, nếu trau dồi ngoại ngữ thì sau khi ra

trường sẽ có việc làm tốt hơn” (Trích câu trả lời của một nữ sinh viên năm 3 ngành

Trung Quốc học).

Dựa theo ý kiến trên ta có thể thấy, việc đi làm thêm cũng có ảnh hưởng đến

việc học. Đối sinh viên ngành ngoại ngữ, nếu đi làm thêm ở những nơi có thể sử

dụng được ngoại ngữ thì đây đúng là một lợi thế lớn để các bạn vận dụng ngôn ngữ

và kiến thức đã học. Nhưng nếu đi làm thêm ở những nơi làm việc chân tay, không

cần giao tiếp nhiều thì quả là một bất lợi bởi vừa tốn thời gian vừa khơng có điều

kiện phát triển nhiều kỹ năng cần thiết.

Khi được hỏi về vấn đề thực tế là “Anh/chị có làm thêm trong thời gian đi học

khơng?” thì có 56% trả lời có và 44% trả lời khơng.

Ở đây, ta có thể thấy, số phiếu “có” lớn hơn số phiếu “không”. Như vậy, số

lượng sinh viên ngành Trung quốc học làm thêm trong thời gian đi học lớn hơn số

lượng không đi. Nhưng chênh lệch chỉ khoảng 12%. Có thể suy ra, chỉ hơn một nửa

sinh viên ngành Trung Quốc học đi làm thêm trong thời gian học. Bên cạnh đó, số

liệu xuất hiện một mâu thuẫn là 96% sinh viên trả lời “nên đi làm thêm trong thời

gian đi học” nhưng trên thực tế chỉ có 56% là “có đi làm thêm” trong thời gian này.

Tuy nhiên, điều này so với thực tế đời sống vật chất hiện nay của sinh viên là

hoàn toàn hợp lý. Bởi hiện nay, hầu hết các sinh viên đều lựa chọn sống trong ký

túc xá và dựa vào phương tiện đi lại chủ yếu là xe buýt nên vấn đề làm thêm càng

trở nên khó khăn hơn. Bên cạnh đó, giá làm thêm trong khu vực làng đại học chỉ



được khoảng 7 - 10 nghìn đồng/giờ. Với giá lương ít ỏi như thế này, không đủ để

đáp ứng cho nhu cầu bản thân, nên khơng ít sinh viên đã quyết định đến các quận

khác để làm. Điều này gây khó khăn và mất thời gian hơn. Cho nên mặc dù có 96%

sinh viên trả lời “nên đi làm thêm” nhưng trong thực tế chỉ có 56% trong số đó là

“có đi làm thêm” trong thời gian đi học.

Qua các bản khảo sát mà nhóm nghiên cứu đã thu được, hầu hết sinh viên năm

3 và năm 4 ngành Trung Quốc đều tham gia các hoạt động để phát triển kĩ năng

mềm do khoa và nhà trường tổ chức, cụ thể là trên 50% các bạn đều đi làm thêm và

tham gia hoạt động ngoại khóa. Điều này khẳng định chất lượng của sinh viên

ngành Trung Quốc về kiến thức lẫn khả năng làm việc.

3. Định hướng nghề nghiệp của sinh viên ngành Trung Quốc học

Chọn nghề là một quá trình lâu dài, từ việc chọn ngành lúc thi đại học đến việc

chọn nghề để làm, để thích nghi và đặc biệt là có những cơ hội thăng tiến. Nếu ngay

từ đầu, sinh viên ngành Trung Quốc học đã xác định được nghề nghiệp mà mình

mong muốn, hướng đi trong tương lai và đi đúng hướng thì sẽ giúp họ có lòng đam

mê, cống hiến hết mình và phát triển tốt trong công việc. Ngược lại, nếu không xác

định rõ ngay từ đầu bản thân muốn gì, cần gì thì rất dễ dẫn đến tình trạng mau chán

và nản chí với ngành, thậm chí là mất đi vài năm tuổi trẻ nếu như họ quyết định làm

lại từ đầu. Chính vì vậy, việc định hướng giúp họ đi sao cho phù hợp với bản thân là

rất quan trọng.

3.1. Xu hướng chọn lĩnh vực nghề nghiệp của sinh viên ngành Trung Quốc học

Trong khảo sát của nhóm nghiên cứu, với câu hỏi “Anh/chị dự định làm trong

lĩnh vực gì sau khi tốt nghiệp” đã thu được kết quả như sau:



Biểu đồ 3.6 : Lĩnh vực làm việc của sinh viên ngành Trung Quốc học sau khi

tốt nghiệp



Qua biểu đồ, chúng ta có thể thấy được, sau khi ra trường, sinh viên lựa chọn

làm trong lĩnh vực kinh tế chiếm tỉ lệ cao nhất (chiếm 32%). Điều này có thể hiểu

được vì Trung Quốc là một trong những đối tác thương mại lớn của Việt Nam. Theo

phòng thương mại và cơng nghiệp Việt Nam VIIC trong 4 tháng đầu năm 2013,

tổng vốn thực tế đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam tăng 162%. Hiện

nay, hàng trăm công ty Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Malaysia đã và đang

làm ăn ở Việt Nam với khoản đầu tư dài hạn, đặc biệt là hoạt động nhiều tại Thành

phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đơng Nam Bộ. Do đó, cơ hội việc làm cho sinh

viên ngành Trung Quốc học là rất lớn.

Chiếm tỉ lệ cao thứ hai sau lĩnh vực kinh tế là du lịch (chiếm 28%) .Với lợi

thế tiếp giáp nhau, thuận tiện cho việc đi lại, Việt Nam vẫn luôn là một trong những

điểm du lịch lí tưởng đối với du khách Trung Quốc. “Theo số liệu của Tổng cục

Thống kê, năm 2014 trong hơn 6,6 triệu lượt du khách nước ngồi đến Việt Nam thì

Trung Quốc đứng đầu bảng về số lượng khách sang Việt Nam du lịch với gần 1,7

triệu lượt người”. (trích “Khách du lịch đến Việt Nam đơng nhất”, website:

http://vietbao.vn/Du-lich/Khach-du-lich-Trung-Quoc-den-Viet-Nam-dong

nhat/45143090/254)

Có đến 20% sinh viên lựa chọn làm việc trong lĩnh vực đối ngoại. Sinh viên

ngành Trung Quốc học được trang bị trình độ ngoại ngữ nhất định cùng với vốn

hiểu biết rộng về thể chế chính trị, ngoại giao ở phương Đông nên việc lựa chọn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Những nghiên cứu về chất lượng đào tạo của ngành Trung Quốc học

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×