Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp tự vệ

Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp tự vệ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khác với trường hợp các vụ kiện chống bán phá giá hay chống trợ cấp,

WTO không có nhiều quy định chi tiết về trình tự, thủ tục kiện áp dụng biện

pháp tự vệ. Tuy nhiên, Hiệp định về Biện pháp tự vệ của WTO có đưa ra một số

các nguyên tắc cơ bản ma tất cả các thanh viên phải tuân thủ, ví dụ:

 Đảm bảo tính minh bạch: Quyết định khởi xướng vụ điều tra tự vệ

phải được thông báo công khai; Báo cáo kết luận điều tra phải được

công khai vao cuối cuộc điều tra…

 Đảm bảo quyền tố tụng của các bên: các bên liên quan phải được

đảm bảo cơ hội trình bay các chứng cứ, lập luận của mình va trả lời

các chứng cứ, lập luận của đới phương;

 Đảm bảo bí mật thơng tin: đới với thông tin có bản chất la mật hoặc

được các bên trình với tính chất la thơng tin mật khơng thể được

công khai nếu không có sự đồng ý của bên đã trình thông tin;

 Các điều kiện về biện pháp tạm thời phải la biện pháp tăng thuế, va

nếu kết luận cuối cùng của vụ việc la phủ định thì khoản chênh lệch

do tăng thuế phải được hoan trả lại cho bên đã nộp; không được kéo

dai quá 200 ngay…

Trên thực tế, một vụ điều tra áp dụng biện pháp tự vệ thường theo trình tự

sau đây:

Bước 1: Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ của nganh sản xuất nội địa

nước nhập khẩu.

Bước 2: Khởi xướng vụ điều tra

Bước 3: Điều tra va công bố kết quả điều tra về các yếu tố như: tình hình

nhập khẩu; tình hình thiệt hại; mối quan hệ giữa việc nhập khẩu va thiệt hại.

Bước 4: Ra quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp tự vệ.

Mặc dù việc điều tra va áp dụng các biện pháp tự vệ có nhiều yếu tố giống

trình tự tố tụng tư pháp (một vụ kiện tại toa án), nhưng bản chất thực tế của nó

lại la mợt thủ tục hanh chính, do mợt cơ quan hanh chính nước nhập khẩu tiến

15



hanh để xử lý một tranh chấp thương mại giữa các nha xuất khẩu nước ngoai

(về nguyên tắc la từ tất cả các nước đang xuất khẩu hang hoá liên quan vao nước

nhập khẩu) va nganh sản xuất nội địa liên quan của nước nhập khẩu. Việc nay

được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật nội địa các nước nhập khẩu va về

ngun tắc khơng phải la cơng việc giữa các Chính phủ (Chính phủ các nước

xuất khẩu va chính phủ nước nhập khẩu).

2.2.Thi hanh quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp tự

vệ

Khi kết quả điều tra cho phép nước nhập khẩu được áp dụng biện pháp tự

vệ thì nước nhập khẩu sẽ chính thức được áp dụng biện pháp tự vệ. Các biện

pháp tự vệ nay phải thoả mãn các điều kiện sau đây:

 Về hình thức tự vệ, WTO không có quy định rang buộc về loại biện

pháp tự vệ được áp dụng. Trên thực tế các nước nhập khẩu thường

áp dụng biện pháp hạn chế lượng nhập khẩu (hạn ngạch) hoặc tăng

thuế nhập khẩu đối với hang hoá liên quan.

 Về mức độ tự vệ, các nước chỉ có thể áp dụng biện pháp tự vệ ở

mức cần thiết đủ để ngăn chặn hoặc bù đắp các thiệt hại va tạo điều

kiện để nganh sản xuất nội địa điều chỉnh;

 Về thời hạn tự vệ, biện pháp tự vệ khơng được kéo dai quá 4 năm

(tính cả thời gian áp dụng biện pháp tạm thời) va phải giảm dần

theo định kỳ sau năm đầu tiên áp dụng. Trường hợp biện pháp được

áp dụng trên 3 năm thì phải được xem xét lại vao giữa kỳ để cân

nhắc khả năng chấm dứt hoặc giảm mức áp dụng mạnh hơn nữa;

 Về gia hạn tự vệ, có thể gia hạn biện pháp tự vệ nhưng nước nhập

khẩu phải chứng minh được rằng việc gia hạn la cần thiết để ngăn

chặn thiệt hại va rằng nganh sản xuất liên quan đang tiến hanh tự

điều chỉnh. Tổng cộng thời gian áp dụng va gia hạn không được

quá 8 năm.

Biện pháp tự vệ phải được áp dụng theo cách không phân biệt đối xử về

xuất xứ hang hoá nhập khẩu liên quan. Như vậy, khác với biện pháp chống bán

16



phá giá va biện pháp chống trợ cấp (chỉ áp dụng đối với nha xuất khẩu từ một

hoặc một số nước nhất định bị điều tra) thì biện pháp tự vệ được áp dụng cho tất

cả các nha sản xuất có hang hoá nhập khẩu vao nước áp dụng biện pháp tự vệ.

Trường hợp biện pháp tự vệ la hạn ngạch, nước nhập khẩu cần tiến hanh thoả

thuận với các nước xuất khẩu, chủ yếu về việc phân định hạn ngạch. Nếu không

thoả thuận được thì việc phân bổ hạn ngạch sẽ được thực hiện trên cơ sở thị

phần tương ứng của từng nước xuất khẩu trong giai đoạn trước đó.

Trường hợp kết quả điều tra kết luận nước nhập khẩu không được áp dụng

biện pháp tự vệ trong trường hợp nay thì sẽ nảy sinh vấn đề bồi thường thiệt hại.

WTO quy định nước nhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ phải bồi thường tổn

thất thương mại cho các nước xuất khẩu liên quan (thường la việc nước nhập

khẩu tự nguyện giảm thuế nhập khẩu cho một số nhóm hang hoá khác đến từ

nước xuất khẩu đó). Nước nhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ sẽ phải tiến hanh

thương lượng với các nước xuất khẩu về biện pháp đền bù thương mại thoả

đáng. Trường hợp không đạt được thoả thuận thì nước xuất khẩu liên quan có

thể áp dụng biện pháp trả đũa (thường la rút lại những nghĩa vụ trong WTO, bao

gồm cả việc rút lại những nhượng bộ về thuế quan - tức la từ chối giảm thuế

theo cam kết với WTO đối với nước áp dụng biện pháp tự vệ). Tuy nhiên, việc

trả đũa không thể được thực hiện trong 3 năm đầu kể từ khi biện pháp tự vệ

được áp dụng (nếu biện pháp áp dụng tuân thủ đầy đủ các quy định của WTO va

thiệt hại nghiêm trọng la thiệt hại thực tế).



III. Tác động của biện pháp tự vệ đên nền kinh tê thê giới nói

chung và Việt Nam nói riêng

Tất cả các Hiệp định thương mại ra đời không nằm ngoai mục đích lam

cho thương mại q́c tế tḥn lợi va phát triển hơn. Tự do hóa thương mại với

các ưu đãi va nhượng bộ thuế quan của các bên lam cho các dòng đầu tư va nhập

khẩu ồ ạt tạo lên sự phát triển mạnh mẽ của thương mại toan cầu. Điều nay buộc

các bên phải có các biện pháp tự vệ hạn chế nhập khẩu khi hang hóa nhập khẩu

tăng đột biến. Điều nay tránh khỏi việc các bên rơi vao hoan cảnh tiến thoái

17



lưỡng nan khi vừa phải đối mặt với nguy cơ sụp đổ sản xuất trong nước ma vẫn

phải tận tâm thực hiện cam kết đưa ra.

Được thừa nhận la một công cụ bảo hộ hợp pháp, biện pháp tự vệ khi

được áp dụng sẽ đem lại các tác động đối với nền kinh tế thế giới nói chung va

Việt Nam nói riêng:

1. Tích cực

Thứ nhất, biện pháp tự vệ được xem la “chiếc van an toan” giúp nước

nhập khẩu hạn chế tạm thời luồng nhập khẩu, khắc phục thiệt hại gây ra cho việc

nhập khẩu hang hóa tăng bất thường không lường trước cho nền sản xuất nội

địa. Khi thực hiện cam kết trong khuôn khổ WTO, các quốc gia phải chấp nhận

từ bỏ bảo hộ đối với sản xuất trong nước va hang hóa nhập khẩu từ nước ngoai

sẽ nhận được những ưu đãi va lợi ích bình đẳng với hang hóa trong nước theo

nguyên tắc đối xử quốc gia. Tuy nhiên, trong trường hợp nhất định thì các thanh

viên có thể sử dụng biện pháp tự vệ trong một khoảng thời gian nhất định hạn

chế l̀ng nhập khẩu khơng vì mục đích bảo hợ sản xuất trong nước ma chỉ để

khắc phục thiệt hại cho các doanh nghiệp khi hang hóa nhập khẩu tăng đột biến

không lường trước. Các biện pháp tự vệ sẽ được áp dụng một cách hợp lý va

trong một khoảng thời gian hợp lý sẽ được dỡ bỏ dần.

Thứ hai, các biện pháp tự vệ góp phần tăng cường, kích thích tính cạnh

tranh thơng qua việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất, góp phần đem đến một môi

trường cạnh tranh lanh mạnh, bình đẳng, đem lại những sản phẩm chất lượng tốt

nhất cho thị trường nội địa. Đó la một quy định mang tính ưu đãi đặc biệt đới

với các nước đang phát triển như Việt Nam khi nền công nghiệp chưa đủ mạnh

để cạnh tranh quốc tế. Theo đó, một khoảng thời gian hợp lý danh cho họ để

khắc phục khó khăn, tìm ra những đối sách nâng cao sức hấp dẫn của sản phẩm,

thu hút người tiêu dung bằng cách điều chỉnh cơ cấu sản xuất, cải tiến khoa học

công nghệ… qua đó có thể cạnh tranh được với hang nhập khẩu. Mặt khác, các

quy tắc của GATT cũng thừa nhận rằng, Chính phủ các nước đang phát triển có

thể thấy cần hỗ trợ cho những nganh sản xuất mới hoặc sự phát triển hơn của

các nganh sản xuất đã có có thể áp dụng các biện pháp tự vệ.

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp tự vệ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×