Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



có vốn. Như đã biết, đặc trưng của hoạt động Ngân hàng: Vốn khơng chỉ là

phương tiện kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của

NHTM. Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị

trường tiền tệ, thị trường chứng khoán. Những Ngân hàng nhiều vốn là Ngân

hàng có nhiều thế mạnh trong kinh doanh.

Từ đặc trưng kinh doanh của Ngân hàng, vốn vừa là phương tiện kinh

doanh vừa là đối tượng kinh doanh “hàng hoá đặc biệt” - tiền tệ trên thị

trường tiền tệ (thị trường vốn ngắn hạn) và thị trường chứng khốn (thị trường

vốn dài hạn). Vì vậy, ngoài vốn ban đầu khi thành lập theo quy định của pháp

luật, các Ngân hàng phải thường xuyên tìm mọi biện pháp để tăng trưởng vốn

trong quá trình hoạt động kinh doanh.

1.1.2.2 Vốn quyết định khả năng thanh toán và năng lực cạnh tranh của

Ngân hàng.

Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mơ

đòi hỏi các Ngân hàng phải có uy tín lớn trên thị trường là điều trọng yếu. Uy

tín đó phải được thể hiện trước hết là khả năng sẵn sàng thanh toán, chi trả

cho khách hàng của Ngân hàng. Chúng ta đã biết, đại bộ phận vốn của Ngân

hàng là vốn tiền gửi và đi vay, do vậy Ngân hàng phải trả cho họ khi có nhu

cầu rút tiền.

1.1.2.3 Vốn quyết định quy mơ hoạt động tín dụng và các hoạt động kinh

doanh khác của ngân hàng.

Vốn của Ngân hàng quyết định việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín

dụng. Thơng thường, các Ngân hàng có phạm vi hoạt động kinh doanh nhỏ,

khoản mục đầu tư khối lượng cho vay ít và kém đa dạng hơn. Do đó ảnh

hưởng đến khả năng thu hút vốn của các tổ chức kinh tế và các tầng lớp dân

cư, thậm chí khơng đáp ứng được nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp. Vì

vậy vốn có vai trò quyết định hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.



5



1.1.2.4 Nguồn vốn quyết định năng lực cạnh tranh của Ngân hàng

Thực tế đã chứng minh quy mơ, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ

thuật của Ngân hàng là tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn. Đồng thời, khả

năng vốn lớn là điều kiện thuận lợi đối với Ngân hàng trong việc mở rộng

quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả về quy mơ, khối lượng tín

dụng, chủ động về thời gian, thời hạn cho vay, thậm chí quyết định mức lãi

suất vừa phải cho khách hàng. Điều đó sẽ thu hút ngày càng nhiều khách

hàng, doanh số hoạt động của Ngân hàng sẽ tăng nhanh chóng và Ngân hàng

sẽ có nhiều thuận lợi trong kinh doanh. Đây cũng là điều kiện bổ sung thêm

vốn tự có của Ngân hàng, tăng cường cơ sở vật chất và quy mô hoạt động của

Ngân hàng trên mọi lĩnh vực.

Đồng thời vốn của Ngân hàng lớn sẽ giúp cho Ngân hàng có đủ khả

năng tài chính để kinh doanh đa năng trên thị trường, khơng chỉ đơn thuần là

cho vay mà còn mở rộng hình thức liên doanh, liên kết, kinh doanh trên thị

trường chứng khốn. Chính các hình thức kinh doanh đa năng này góp phần

phân tán rủi ro và tạo thêm vốn cho Ngân hàng đồng thời tăng sức cạnh tranh

của Ngân hàng trên thị trường.

1.2 Các loại vốn kinh doanh của NHTM:

1.2.1 Vốn tự có của NHTM

- Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng tạo lập,

thuộc sở hữu của Ngân hàng. Nó mang tính ổn định và căn cứ để quyết định

khả năng và khối lượng vốn huy động của Ngân hàng.

- Vốn tự có của NHTM bao gồm những thành phần cơ bản sau:

+ Vốn có bản là vốn pháp định - vốn điều lệ. Trong đó vốn pháp định

là mức vốn tối thiểu để thành lập Ngân hàng do pháp luật quy định. Còn vốn

điều lệ là vốn do các cổ đơng góp và được ghi vào trong điều lệ hoạt động của

Ngân hàng và theo quy định tối thiểu phải bằng vốn pháp định.



6



+ Vốn tự có bổ sung bao gồm: quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự

trữ đặc biệt, lợi nhuận chưa phân phối và các quỹ nghiệp vụ khác.

- Vai trò của nguồn vốn tự có trong NHTM:

+ Vốn tự có coi như tài sản đảm bảo gây lòng tin đối với khách

hàng, duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp Ngân hàng gặp thua lỗ.

Vốn tự có cũng là căn cứ để tính tốn các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt

động Ngân hàng.

+ Trong thực tế vốn tự có khơng ngừng được tăng lên từ kết quả hoạt

động kinh doanh của bản thân NHTM. Bộ phận này góp phần đáng kể vào

vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM, đồng thời nâng cao vị thế của

Ngân hàng trên thương trường.

+ Vốn tự có là nguồn vốn ổn định, Ngân hàng sử dụng một cách chủ

động. Vì vậy vấn đề đặt ra là Ngân hàng phải bảo tồn và khơng ngừng phát

triển vốn tự có.

1.2.2 Vốn đi vay của NHTM:

- Vốn đi vay là phần vốn các Ngân hàng đi vay để bổ sung vào vốn hoạt

động của mình trong trường hợp tạm thiếu vốn khả dụng. Nó có chi phí

tương đối cao nên chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng.

- Các loại vốn vay: Vốn vay ngắn hạn bổ sung, vay để thanh toán và vay

để tái cấp vốn.

1.2.3 Vốn khác

Trong q trình làm trung gian thanh tốn NHTM cũng tạo được một

khoản vốn trong thanh toán, vốn trên tài khoản mở thư tín dụng, tiền gửi séc,

bảo chi, séc định mức. Thông qua nghiệp vụ đại lý Ngân hàng thu được một

lượng vốn đáng kể trong quá trình thu và chi hộ khách hàng, làm đại lý cho

các tổ chức tín dụng khác…nhận và chuyển vốn cho khách hàng hay cho một

dự án đầu tư. Do đó Ngân hàng có thể sử dụng tạm thời những khoản đó vào



7



kinh doanh. Để mở rộng nghiệp vụ này NHTM cần chú trọng phát triển đến

các dịch vụ và không ngừng nâng cao uy tín của mình trên thương trường.

1.2.4 Vốn huy động của NHTM:

1.2.4.1 Khái niệm

- Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động từ các tổ

chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thơng qua q trình thực hiện các

nghiệp vụ tín dụng, thanh tốn các nghiệp vụ kinh doanh khác và được làm

vốn để kinh doanh. Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các sở hữu

khác nhau, Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà khơng có quyền sở hữu và có

trách nhiệm hồn trả cả gốc và lãi khi đến hạn (đối với tiền gửi có kỳ hạn)

hoặc khi họ có nhu cầu rút về (đối với tiền gửi không kỳ hạn) . Vốn huy động

đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của NHTM.

- Vốn huy động luôn luôn biến động nên Ngân hàng không được phép sử

dụng hết số vốn đó vào kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để

đảm bảo khả năng thanh toán.

1.2.4.2 Nội dung của vốn huy động.

 Các loại vốn huy động:

- Tiền gửi: Tiền gửi tại NHTM bao gồm tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi

khơng kỳ hạn.

+ Tiền gửi không kỳ hạn là khoản tiền gửi mà người gửi có thể rút ra

bằng séc hay tiền mặt để sử dùng bất cứ lúc nào. Và Ngân hàng cần phải đáp

ứng được yêu cầu đó của khách hàng. Tiền gửi khơng kỳ hạn có lãi suất thấp

hoặc khơng được trả lãi.

+ Tiền gửi có kỳ hạn bao gồm những loại sau :

Tiền gửi thanh tốn : Đó là các khoản tiền gửi không kỳ hạn trước hết

được sử dụng để tiến hành thanh toán, chi trả bằng vốn trên tài khoản vãng

lai. Thơng thường tiền gửi có kỳ hạn là tiền gửi có thời hạn và có lãi suất cao.



8



Tiền gửi có kỳ hạn giữ vai trò trung gian giữa tiền gửi thanh toán và

tiền gửi tiết kiệm. Đây là nguồn vốn tuơng đối ổn định, Ngân hàng có thể sử

dụng phần lớn loại tiền gửi này vào kinh doanh. Chính vì vậy NHTM ln tìm

cách đa dạng hoá loại tiền gửi này bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn khác nhau

với các mức lãi suất khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi khách hàng.

Tiền gửi tiết kiệm:

Xét về bản chất đây là 1 phần thu nhập cá nhân người lao động chưa sử

dụng vào tiêu dùng. Họ gửi vào Ngân hàng với mục đính tích luỹ 1 cách an

tồn và hưởng lãi từ số tiền đó. Có 2 loại tiền gửi tiết kiệm :

. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là khoản tiền gửi có thể rút ra bất

cứ lúc nào nhưng khơng được sử dụng vào các cơng cụ thanh tốn để chi trả

cho người khác.

. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là khoản tiền gửi có sử thoả thuận về

thời hạn rút tiền, có mức lãi suất cao hơn với tiền gửi không kỳ hạn.

-Các nguồn huy động khác :

Bên cạnh phương pháp nhận tiền gửi các NHTM còn phát hành chứng

chỉ tiền gửi và trái phiếu. Thực chất hoạt động này là Ngân hàng huy động

vốn tiền tệ bằng việc phát hành các chứng từ có giá. Trong đó chứng chỉ tiền

gửi là phiếu nợ NH với mệnh giá quy định; trái phiếu là loại phiếu nợ trung và

dài hạn

Tổng huy động vốn dưới hình thức phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái

phiếu Ngân hàng, các NHTM phải trả lãi suất cao hơn so với lãi suất huy

động. Nghiệp vụ này chỉ được tiến hành khi Ngân hàng thiếu vốn mà vốn tự

có và vốn huy động khơng đủ trang trải.

Ngồi ra NHTM có thể sử dụng thu hút vốn từ các nguồn nhàn rỗi,

từ các hoạt động uỷ thác về các dịch vụ xã hội như dịch vụ: “Câu lạc bộ



9



giáng sinh, nghỉ hè và các kế hoạch khác được mệnh danh là các “Câu lạc

bộ tiết kiệm”.

1.2.4.3. Vai trò của vốn huy động

Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào muốn hoạt động kinh doanh được thì

phải có vốn bởi vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh

doanh. Đối với Ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng hoá

đặc biệt “tiền tệ” với đặc thù hoạt động kinh doanh là “đi vay để cho vay” nên

nguồn vốn đối với Ngân hàng lại càng có vai trò hết sức quan trọng. Vốn là

điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của Ngân hàng lại càng có vai trò hết

sức quan trọng. Ngoài vốn ban đầu cần thiết tức là đủ vốn điều lệ theo luật

định thì để bắt đầu hoạt động kinh doanh của mình việc đầu tiên mà Ngân

hàng phải làm là huy động vốn. Vốn huy động cho phép Ngân hàng cho vay,

đầu tư để thu lợi nhuận. Nói cách khác nguồn vốn mà Ngân hàng huy động

được nhiều hay ít quyết định đến khả năng mở rộng hay thu hẹp tín dụng.

Với chức năng tập trung và phân phối cho các nhu cầu của nền kinh tế,

một nguồn vốn huy động dồi dào sẽ tạo cho Ngân hàng điều kiện để mở rộng

hoạt động kinh doanh, đa dạng hố các loại hình dịch vụ, khơng bỏ lỡ cơ hội

đầu tư, giảm thiểu rủi ro, tạo dựng được uy tín cho Ngân hàng.

Bên cạnh đó nguồn vốn của Ngân hàng quyết định đến khả năng cạnh

tranh. Nếu nguồn vốn huy động lớn sẽ chứng minh rằng quy mơ, trình độ

nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật của Ngân hàng hiện đại.

Các Ngân hàng thực hiện cho vay và nghiệp vụ khác chủ yếu dựa vào

vốn huy động. Còn vốn tự có chỉ sử dụng trong những trường hợp cần thiết.

Vì vậy khả năng huy động vốn tốt sẽ là điều kiện thuận lợi đối với Ngân hàng

trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế cả về quy mơ,

khối lượng tín dụng, chủ động về thời gian, thời hạn cho vay thậm chí quyết

định mức lãi suất vừa phải cho khách hàng. Điều đó sẽ thu hút ngày càng



10



nhiều khách hàng, doanh số hoạt động của Ngân hàng sẽ tăng lên nhanh

chóng và Ngân hàng sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong hoạt động kinh doanh,

đảm bảo uy tín và năng lực trên thị trường.

Với những vai trò hết sức quan trọng đó, Ngân hàng ln tìm cách đưa ra

những chính sách quản lý nguồn vốn từ khâu nhận vốn từ nhưng người gửi

tiền và những người cho vay khác nhau đến việc sử dụng nguồn vốn một cách

hiệu quả. Bên cạnh đó các nhà quản trị Ngân hàng cũng ln tìm cách để đổi

mới, hồn thiện chúng cho phù hợp với tình hình chung của nền kinh tế. Đó là

một trong những điều kiện tiên quyết đưa Ngân hàng đến thành cơng.

 Các hình thức huy động vốn:

- Tiền gửi của khách hàng.

Tiền gửi của khách hàng đó là tiền gửi của các tổ chức kinh tế, doanh

nghiệp cơ quan Nhà nước và các định chế tài chính trung gian cá nhân trong

và ngồi nước có quan hệ gửi tiền tại Ngân hàng.

Tiền gửi của khách hàng đựơc chia làm hai bộ phận: Tiền gửi của doanh

nghiệp, tổ chức kinh tế và tiền gửi tiết kiệm của dân cư.

+ Tiền gửi của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế bao gồm:

.Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là khoản tiền mà khách hàng có thể rút

ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng.

Thực chất đó là khoản tiền gửi dùng để đảm bảo trong thanh toán.

Tiền gửi đảm bảo thanh toán được ký thác vào Ngân hàng để thực hiện

các khoản chi trả phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của khách

hàng một cách thuận tiện và tiết kiệm. Đây là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi

chờ thanh tốn mà khơng phải để dành. Bởi vậy đối với khách hàng đây là

một tài sản mà họ ký thác uỷ nhiệm cho Ngân hàng bảo quản và thực hiện các

nghiệp vụ liên quan theo yêu cầu của khách hàng. Do vậy khách hàng không

mất quyền sở hữu, cũng như quyền sử dụng số tiền đó. Họ có quyền lấy ra



11



hoặc chuyển nhượng cho bất kỳ ai vào bất kỳ thời gian nào. Khách hàng được

sử dụng số tiền của mình bằng phương tiện thanh tốn chi trả như séc, uỷ

nhiệm chi, thư chuyển tiền…

Đối với Ngân hàng đây là một khoản nợ mà Ngân hàng có nghĩa vụ

thực hiện lệnh thanh tốn chi trả cho người thụ hưởng loại tiền gửi này, lãi

suất thường thấp hơn lãi suất trả cho các khoản tiền gửi có lãi khác. Nhưng

khi khách hàng mở và sử dụng các loại tài khoản này thì được Ngân hàng

cung ứng các loại dịch vụ miễn phí hoặc thu với tỷ lệ thấp, lượng tiền vốn ở

tài khoản thanh toán thường chiếm gần 1/3 tiền gửi ngân hàng.

Như vậy các tài khoản này đã đem lại cho khách hàng sự an toàn trong

việc bảo quản vốn và trong q trình thanh tốn trả tiền hàng hố dịch vụ,

ngồi ra khách hàng còn được hưởng một khoản tiền lãi nhỏ và một số dịch

vụ miễn phí. Còn đối với Ngân hàng phải bỏ ra 1 khoản chi phí cho bộ máy

kế tốn theo dõi và ghi chép các nghiệp vụ phát sinh, chi phí phát hành séc và

một số dịch vụ kèm theo. Chi phí này khá lớn nhưng nó được bù đắp lại. Bởi

vì trên thực tế do lượng tiền gửi vào và số lượng tiền rút ra không cùng một

lúc và chủ tài khoản thường không sử dụng hết số tiền của mình trên tài

khoản. Do đó ln tồn tại một số tiền trên tài khoản trong một thời gian dài số

dư ấy được Ngân hàng dùng để đầu tư cho vay đối với một số doanh nghiệp,

cá nhân thiếu vốn sản xuất, kinh doanh để thu lợi nhuận. Như vậy đối với tài

khoản tiền gửi thanh toán số dư trên tài khoản giao dịch khơng những bù đắp

được chi phí mà còn có thể mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng.

Ngày nay do điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển, nhiều công nghệ

mới được ứng dụng vào hoạt động Ngân hàng. Vì vậy có nhiều doanh nghiệp,

cá nhân, mở tài khoản giao dịch tại Ngân hàng làm cho lượng tiền gửi ngày

càng tăng. Đó là nguồn vốn dùng để cho vay hết sức quan trọng của Ngân

hàng, đồng thời lợi nhuận thu về từ nguồn vốn này cũng ngày càng tăng.



12



.Tiền gửi có kỳ hạn.

Tiền gửi có kỳ hạn là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của doanh nghiệp,

chưa sử dụng đến trong một thời gian nhất định, mà khoảng thời gian này

được xác định trước do đó các doanh nghiệp thường gửi vào Ngân hàng dưới

hình thức tiền gửi có kỳ hạn. Phần lớn các nguồn tiền gửi này xuất phát từ

nguồn tích luỹ của doanh nghiệp mà có. Về nguyên tắc khách hàng chỉ được

rút tiền khi đến hạn và được hưởng lãi trên số tiền gửi đó. Nhưng hiện nay để

thu hút vốn nhằm khuyến khích khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng, các

NHTM cho phép khách hàng rút tiền ra trước hạn. Trong trường hợp này

khách hàng không được hưởng lãi hoặc chỉ được hưởng theo lãi suất của tiền

gửi khơng kỳ hạn.

Do tính chất của loại tiền vốn tương đối ổn định, Ngân hàng có thể sử

dụng phần lớn số dư loại nguồn vốin này để cho vay trung và dài hạn. Nếu

nguồn vốn này chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn huy động sẽ tạo điều

kiện thuận lợi, chủ động của Ngân hàng trong quá trình kinh doanh. Các

NHTM thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn nhằm đáp ứng nhu cầu tiền gửi của

khách hàng. Hiện tại các NHTM có các loại tiền gửi có kỳ hạn 1 tháng, 2

tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 1 năm, 2 năm. Với mỗi một kỳ hạn khác

nhau thì Ngân hàng áp dụng một loại lãi suất khác nhau. Thơng thường thì

thời hạn càng dài lãi suất càng cao. Các Ngân hàng thường khuyến khích

khách hàng gửi tiền với thời hạn dài, vì loại tiền này tương đối ổn định, Ngân

hàng sẽ chủ động trong kinh doanh. Để thu hút được nhiều nguồn vốn dài hạn

thì tốc độ phát triển của nền kinh tế phải ổn định, giá trị đồng tiền được đảm

bảo, lạm phát vừa phải và tình hình hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng

có hiệu quả.

. Tiền gửi tiết kiệm dân cư. Bao gồm tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và

tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.



13



Phát hành kỳ phiếu có mục đích và phát hành trái phiếu. Huy động vốn

thông qua việc phát hành các công cụ nợ của các NHTM như kỳ phiếu, trái

phiếu là hình thức mới trong công tác huy động vốn của NHTM ở các nước

phát triển. Vốn được huy động từ hình thức này dùng để đầu tư cho các dự án

trung và dài hạn.

Trên đây là các hình thức huy động vốn huy động chủ yếu của NHTM

tuy nhiên chất lượng hiệu quả của hoạt động này chịu ảnh hưởng tác động của

rất nhiều yếu tố, từ yếu tố mang tính chất vĩ mơ đến các tính chất mang tính

vi mơ của nền kinh tế cũng như các yếu tố liên quan đến NHTM.

1.2.4.4 Nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn huy động của

NHTM.

 Nhân tố khách quan:

Bao gồm: chính trị, pháp luật, kinh tế, mơi trường xã hội và cơng nghệ

- Chính sách đầu tư của Nhà nước hợp lý hay khơng cũng ảnh hưởng đến

chính sách huy động vốn của Ngân hàng.

- Kinh tế phát triển dẫn tới các doanh nghiệp và cá nhân có thu nhập cao

tích luỹ được nhiều nên các giao dịch kinh tế cũng phát triển nhanh. Lạm

phát, tỷ giá hối đoái cũng ảnh hưởng tới việc huy động vốn của Ngân hàng.

- Bên cạnh đó chính sách tài khố và chính sách tiền tệ quốc gia cũng ảnh

hưởng tới việc tạo vốn của Ngân hàng.

- Môi trường xã hội, tâm lý và thói quen tiêu dùng của người dân cũng ảnh

hưởng đến việc huy động vốn của Ngân hàng. Ngoài ra yếu tố công nghệ

cũng tác động đến việc huy động vốn của Ngân hàng.

 Nhân tố khách quan:

- Chính sách lãi suất là một nhân tố quan trọng tác động mạnh đến việc

huy động vốn của NHTM.



14



- Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng cũng ảnh hưởng trực tiếp và gián

tiếp đến cơng tác huy động vốn.

- Uy tín và vị thế của Ngân hàng: có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa

chọn của khách hàng, thể hiện cụ thể ở năng lực tài chính, tình hình hoạt động

kinh doanh, q trình lịch sử, chất lượng marketing…

- Các hình thức huy động và dịch vụ kèm theo:

- Cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ nhân viên:

- Mức độ thâm niên của một Ngân hàng: sẽ tạo lòng tin tốt hơn đối với

khách hàng.

- Chính sách quảng cáo: quảng cáo ln được đề cao và phải có một chi

phí nhất định cho công tác này.

- Mạng lưới phục vụ cho việc huy động vốn.

Trên đây là các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của các

hệ thống NHTM. Với mỗi Ngân hàng trong những giai đoạn khác nhau, mức

độ ảnh hưởng của các nhân tố trên đến hoạt động huy động vốn cũng khác

nhau. Tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể mà các Ngân hàng có thể xây dựng cho

mình một chiến lược huy động vốn thích hợp.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×