Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
*)Tình hình nguồn vốn

*)Tình hình nguồn vốn

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chuyên đề tốt nghiệp



38



rộng quy mô sản xuất kinh doanh và làm giảm chi phí sử dụng vốn. Cơng ty

bố sung nguồn vốn của mình bằng lợi nhuận giữ lại và sự đóng góp của 2 bên

Tổng Cơng ty Xi măng Việt Nam và 2 tập đoàn của Nhật Bản. Công ty chủ

yếu sử dụng vốn chủ sở hữu và một khoản nhỏ các khoản nợ ngắn hạn để

trang trải cho việc trả các khoản nợ đối với ngân hàng,tăng chi phí xây dựng

cơ bản dở dang và mua nguyên vật liệu dự trữ. Điều này không được tôt lắm

bởi nó khơng làm tăng đòn bẩy tài chính.

Để có thể xem xét một cách cụ thể tình hình tài chính của Cơng ty ta có

thể xem xét qua một số chỉ tiêu tài chính sau:

Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu tài chính trong 3 năm qua



Chỉ tiêu



2,006

1.214532



2,007



2,008



Hệ số khả năng thanh toán hiện hành



9

0.649315



1.6598379

1.1098552



1.86500399



hệ số khả năng thanh toán nhanh



8

0.668421



8



1.2106133



Hệ số nợ



3

0.331578



0.3985332



0.32919727



Hệ số VCSH



7

3.192597



0.6014668



0.67080273



Vòng quay hàng tồn kho



6

0.843744



3.4476288

0.7835532



3.54136353



Tỷ lệ đầu tư vào TSDH %



9

0.156255



6

0.2164467



0.7985786



Tỷ lệ đầu tư vào TSNH%



1



4



0.2014214



Thông qua các chỉ tiêu tài chính ta thấy hầu hết các khoản nợ phải ngắn

hạn của công ty đều được đảm bảo bằng tài sản ngắn hạn. Chỉ riêng năm 2006

hệ số khả năng thanh toán nhanh nhỏ hơn 1 , điều này là khơng tốt vì nó cho



Lê Thị Nhung



Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C



Chuyên đề tốt nghiệp



39



thấy rằng việc hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn phụ thuộc khá lớn vào việc bán

tài sản dự trữ. Nhưng tỷ số này đã nhanh chóng được cải thiện vào những năm

tiếp theo nhưng khả năng thanh toán nợ ngắn hạn vẫn còn phụ thuộc nhiều

vào việc bán dự trữ. Tỷ lệ đầu tư vào tài sản dài hạn của công ty tương đối lớn

bởi vì Xi măng Nghi Sơn là cơng ty sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng

nên việc đầu tư vào tài sản dài hạn lớn là hợp lí.Hệ số VCSH lớn cho thấy

cơng ty đã có sự tự chủ về tài chính, đảm bảo mực độ an tồn nhưng hệ số này

cao làm cho đòn bẩy tài chính khơng được hiệu quả.

Tóm tắt, trên đây là những đánh giá sơ bộ về tình hình tài chính của cơng

ty Xi măng Nghi sơn, qua đó ta có thể nắm bắt và hiểu về hoạt động sản xuất

kinh doanh cũng như tình hình tài chính hiện tại của cơng ty. Để có thể hiểu

rõ hơn ta đi sâu vào phân tích tình hình thực hiện lợi nhuận của công ty .

2.1.4.2.Khái quát về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

Với hệ thống dây chuyền công nghệ tiến tiến và hiện đại của Nhật Bản,

Công ty Xi măng Nghi Sơn đã ngày càng tạo dựng được chỗ đứng của mình

trên thị trường và đạt được những thành tựu đáng kể trong những năm qua.

Dưới đây là một vài số liệu thể hiện tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh

của công ty

Bảng 2.3.Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty 2006-2008



STT

Chỉ tiêu

1

Tổng doanh thu

2

3

4



2006

93,878,003



2007

107,454,29



2,008

129,317,743



Lợi nhuận trước thuế



15,677,06



7

16,666,966



19,433,624



Lợi nhuận sau thuế



7

15,293,54



15,416,944



17,976,102



3

250



295



320



Thu nhập bq/người/tháng



Lê Thị Nhung



Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C



Chuyên đề tốt nghiệp



40



Với sự nỗ lực cố gắng của tồn thể cơng nhân viên cộng với sự điều

hành hợp lí của ban quản trị, doanh thu của công ty trong năm 2006 chỉ đạt

93,878,003$ đã tăng lên 129,317,743$ trong năm 2008 với tốc độ tăng là

37.75%. Điều này chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh của cơng ty có

chiều hướng phát triển, sản phẩm được người tiêu dùng tín nhiệm, thị trường

tiêu thụ xi măng Nghi Sơn ngày càng được mở rộng. Với sự chú trọng nâng

cao chất lượng sản phẩm cũng như năng lực sản xuất, Xi măng Nghi Sơn

đang cố gắng trở thành nhà phân phối xi măng hàng đầu Việt Nam.

Cùng với sự tăng lên của chỉ tiêu doanh thu, chỉ tiêu lợi nhuận cũng tăng

lên trong những năm qua nhưng tốc độ tăng lợi nhuận thấp hơn so với tốc độ

tăng của doanh thu. Cụ thể năm 2007 so với năm 2006, tốc độ tăng của lợi

nhuận thấp hơn rất nhiều so với tốc độ tăng của doanh thu. Điều này một phần

là do năm 2006 công ty được chuyển lỗ của năm 2001 làm giảm thuế thu

nhập doanh nghiệp. Còn năm 2008 mặc dù tốc độ tăng doanh thu cao nhưng

do chi phí tăng lên cao nên tốc độ lợi nhuận vẫn thấp hơn so với tôc độ tăng

doanh thu. Tuy vậy lợi nhuận tăng qua các năm giúp cho doanh nghiệp tích

lũy vốn, mở rộng sản xuất và thị trường. Đến tháng 10-2009, dây chuyền 2

của công ty sẽ đưa vào sử dụng, điều này sé làm tăng năng suất và sản lượng

cho công ty đáp ứng nhu cầu còn thiếu của thị trường.

Với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng được tăng lên,

đời sống của người lao động không ngừng được cải thiện. Với việc thường

xuyên đảm bảo hệ thống dây chuyền công nghệ hiện đại tiên tiến nhất, số

người lao động của công ty xi măng Nghi Sơn chỉ là 508 người (tính đến

năm 2008), nhiều công đoạn SX, công ty thuê các đơn vị khác đảm nhiệm

như khai thác mỏ bảo dưỡng sửa chữa lớn, vận tải, bảo vệ, phục vụ, bán

Lê Thị Nhung



Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C



Chun đề tốt nghiệp



41



hàng thơng qua đại lý….Với cơ chế quản lý như vậy ,xi măng Nghi Sơn đảm

bảo được tính cộng đồng trách nhiệm và hiệu quả cao trong sản xuất, thu

nhập bình quân đầu người đạt khoảng 5 triệu /người/tháng. Mức thu nhập

này được xem là khá cao trong các doanh nghiệp sản xuất, phù hợp với nhu

cầu tiêu dùng ngày càng tăng của người lao động .

2.2.Tình hình thực hiện lợi nhuận của Cơng ty giai đoạn 2006-2008

Lợi nhuận giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong sản xuất kinh doanh vì

trong điều kiện cơ chế thị trường hiện nay, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát

triển cần phải tạo ra lợi nhuận. Vì thế lợi nhuận được coi là đòn bẩy kinh kế

quan trọng đồng thời là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp nói nên kết quả hoạt

động sản xuất kinh doanh.

Mặc dù công ty mới chỉ đưa sản phẩm ra thị trường vào năm 2001 và

còn gặp nhiều khó khăn xong công ty luôn cố gắng phấn đấu không ngừng

vươn lên để được đạt kết quả tốt. Hiện nay cơng ty đã và đang chiếm lĩnh

được tín nhiệm của người tiêu dùng.

Qua bảng số liệu 2.4 ta thấy tổng lợi nhuận trước thuế của công ty qua 3

năm đã tăng lên. Năm 2007 tôc độ tăng của lợi nhuận chỉ đạt 6,31% nhưng

sang năm 2008 tốc độ này đã tăng lên đến 16,6% nhưng đây không phải là

con số cao. Trong tổng lợi nhuận thì lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh

doanh và lợi nhuận khác có xu hướng tăng lên còn lợi nhuận từ hoạt động tài

chính tuy có tăng nhưng khơng đáng kể .Cụ thể:

 Lợi nhuận từ hoạt động tài chính.

Lợi nhuận từ hoạt động tài chính cả 3 năm đều âm: năm 2006:

-5216131$, năm 2007: -3776161, năm 2008: -3342397$, bởi cơng ty khơng

có các hoạt động đầu tư tài chính ngắn hạn mà doanh thu hoạt động tài chính

chủ yếu là lãi tiền gửi ngân hàng từ tài khoản tiền gửi thanh toán và khoản



Lê Thị Nhung



Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C



Chuyên đề tốt nghiệp



42



tiền gửi có kỳ hạn ngắn. Song hàng năm cơng ty phải trả một khoản lớn lãi

tiền vay cho các ngân hàng trong nước, ngân hàng Nhật Bản, ADB, IFC...do

đó mà lợi nhuận thuần từ hoạt động tài chính là số âm. Doanh thu hoạt động

tài chính tăng làm lỗ từ hoạt động tài chính giảm xuống, tỷ trọng LN từ hoạt

động tài chính tăng lên. Cơng ty cần phải chú trọng tới cơng tác quản lí tài

chính để tăng thu nhập từ hoạt động tài chính mà vẫn đảm bảo được hoạt

động kinh doanh ở mức cao nhất.

 Lợi nhuận khác

Đây là khoản thu nhập bất thường, không ổn định.. Năm 2007 khoản lợi

nhuận này tăng 918,18% so với năm 2006,còn năm 2008 tỷ lệ tăng so với

2007 là 26,6%, đây là tỷ lệ tăng rất lớn. Qua đó thể hiện sự nỗ lực vượt bậc

của công ty trong năm qua, với việc mở rộng quy mô sản xuất thì cơng ty tiến

hành thanh lý một số máy móc, thiết bị cũ thay vào đó là những máy móc mới

hiện đại hơn có thể sản xuất sản phẩm có chất lượng tốt đáp ứng được nhu

cầu thị trường. Mặc dù tỷ trọng của lợi nhuận khác chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng

nó cũng đã góp phần làm tăng lợi nhuận..

 Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Đây là khoản lợi nhuận chiểm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lợi nhuận

trước thuế. Hầu hết lợi nhuận của công ty thu được là nhờ vào hoạt động sản

xuất kinh doanh. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm 2007

có giảm sút ngun nhân là do chi phí tăng quá lớn, tốc độ tăng chi phí lớn

hơn nhiều so với tốc độ tăng doanh thu. Năm 2008, công ty đã làm ăn có hiệu

quả hơn, hàng bán dược nhiều hơn, lợi nhuận tăng so với năm 2007 là

2.179.194$ đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 11.03%. Tỷ lệ này được xem là

bình thường, đảm bảo hoạt động sản xuất của công ty nhưng chưa được xem

là phù hợp với tốc độ tăng của doanh thu. Trong thời gian tới cơng ty cần phải



Lê Thị Nhung



Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C



Chun đề tốt nghiệp



43



có biện pháp thích hợp để gia tăng thêm lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh

doanh.

Để có thể hiểu rõ được tình hình hoạt đơng sản xuất kinh doanh cũng

như gia tăng thêm lợi nhuận cho cơng ty, ta đi sâu vào phân tích các nhân tố

ảnh hưởng tới lợi nhuận.

2.2.1.Tình hình thực hiện doanh thu tiêu thụ sản phẩm của Công ty

giai đoạn 2006-2008

*) Tình hình thưc hiện sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của Cơng ty trong 3

năm 2006-2008

Về tình hình thưc hiện sản xuất

Bảng 2.4 Tình hình sản lượng clinker và xi măng

Chỉ tiêu

sản lượng clinker(tấn)

sản lượng sản xuất xi măng



2006



2007



2008



1,737,968



1,876,250



1,927,557



2,040,196



2,146,357



2,304,126



Biểu 2.1:Sản lượng clanke và sản lượng sản xuất xi măng



Lê Thị Nhung



Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C



Chuyên đề tốt nghiệp



44



Bảng 2.5: Bảng báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh



Chỉ tiêu

1. Doanh thu bán hàng

2. Giảm trừ doanh thu

3. Doanh thu thuần

4. Giá vốn hàng bán

5. Lãi gộp

6. Chi phí bán hàng

7. Chi phí QLDN

8. Lợi nhuận thuần từ hoạt động SXKD

9. Doanh thu hoạt động tài chính

10. Chi phí tài chính

Trong đó: Lãi vay

11. Lợi nhuận thuần từ hoạt động tài chính

12. Thu nhập khác

13.Chi phí khác

14. Lợi nhuận khác

17. Lợi nhuận trước thuế

16. Chi phí thuế TNDN

17. Lợi nhuận sau thuế TNDN



Lê Thị Nhung



2008

129,731,743



2007

107,454,297



2006

93,878,003



Chênh lệch 2008 so với

2007

Số tiền

Tỷ lệ

22,277,447

20.73%



129,731,743 107,454,297 93,878,003

22,277,447

(81,085,287) (65,244,071) (53,544,697) (15,841,216)

48,646,456

42,210,226

40,333,306

6,436,230

(21,456,375) (17,760,370) (15,310,067) (3,696,005)

(5,247,893) (4,686,862) (4,196,840)

(561,031)

21,942,188

19,762,994

20,826,399

2,179,194

1,819,716

1,234,755

791,537

584,961

(5,162,113) (5,010,916) (6,007,667)

(151,197)

(4,983,452) (4,882,527) (5,743,780)

(100,925)

(3,342,397) (3,776,161) (5,216,131)

433,764

836,701

682,015

154,208

154,687

(2,869)

(1,882)

(87,409)

(987)

833,832

680,133

66,799

153,699

19,433,624

16,666,966

15,677,067

2,766,658

(1,457,522) (1,250,022)

(383,523)

(207,500)

17,976,102

15,416,944

15,293,543

2,559,158



Chênh lệch 2007-2006

Số tiền

13,576,294



Tỷ lệ

14.46%



20.73% 13,576,294

14.46%

24.28% (11,699,373)

21.85%

15.25%

1,876,921

4.65%

20.81% (2,450,302)

16.00%

11.97%

(490,023)

11.68%

11.03% (1,063,404)

-5.11%

47.37%

443,218

55.99%

3.02%

996,752

-16.59%

2.07%

861,253

-14.99%

-11.49%

1,439,970

-27.61%

22.68%

527,807 342.27%

52.45%

85,527

-97.85%

22.60%

613,334 918.18%

16.60%

989,900

6.31%

16.60%

(866,499) 225.93%

16.60%

123,401

0.81%



Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C



Chuyên đề tốt nghiệp



Lê Thị Nhung



45



Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C



Chuyên đề tốt nghiệp



46



Với dây chuyền sản xuất công nghệ Nhật Bản hiện đại vào bậc nhất hiện nay

và nhận thức được tầm quan trọng của máy móc thiết bị, năm vừa qua cơng ty

đã có những cố gắng góp phần nâng cao năng lực sản xuất như đã tập trung

xử lý những tồn tại của thiết bị nhằm duy trì thiết bị hoạt động ổn định, dài

ngày; luôn chủ động và phát huy mọi tiềm năng để thực hiện tốt công tác bảo

dưỡng định kỳ, xử lý các sự cố và sửa chữa lớn máy móc, thiết bị; phát huy

tối đa nội lực để thực hiện công tác sửa chữa lớn. Công ty cũng chủ động ký

kết hợp đồng dài hạn bảo dưỡng, sửa chữa lớn với cơng ty cổ phần Lilama 693. Nhờ đó đã tăng được số ngày vận hành lò quay trong năm lên 310 ngày,

nâng cơng suất lò thêm 10%, đạt 96% công suất thiết kế. Nắm bắt được nhu

cầu tiêu thụ xi măng trong nước đang rất cao, cung chưa cầu (năm 2007 thiếu

9,2 trtấn, năm 2008 thiếu 5,8 trtấn) nên năm 2007 và năm 2008 công ty đã gia

tăng sản xuất clinker và xi măng. Bên cạnh đó, Cơng ty luôn chú trọng làm tốt

công tác Tiêu chuẩn - Đo lường – Chất lượng. Phòng Thí nghiệm – KCS được

trang bị hệ thống lấy mẫu hiện đại có chức năng kiểm tra chất lượng nguyên

nhiên liệu nhập, nguyên liệu tại các mỏ, nguyên liệu trên dây chuyền, chất

lượng bán thành phẩm và thành phẩm trước khi xuất xưởng đảm bảo sản

phẩm đạt yêu cầu kỹ thuật. Áp dụng các tiêu chuẩn ấn định cơ lý ấn định chất

lượng xi măng: TCVN 6016-1995 (tiêu chuẩn xác định độ bền); TCVN

4030:2003 (tiêu chuẩn xác định độ mịn); TCVN 6017-1995 (tiêu chuẩn xác

định thời gian đông kết và độ ổn định). Luôn so sánh các số liệu kiểm tra

trong yêu cầu với thực tế, tăng cường so sánh các mẫu thử nghiệm trong sản

xuất. Tiến hành thực hiện đánh giá nội bộ Hệ thống Quản lý Chất lượng 6

tháng 1 lần, thực hiện biện pháp điều chỉnh và phòng ngừa trong vòng 1 tháng

sau khi phát hiện vấn đề chưa phù hợp. Do đó, sản phẩm xi măng Nghi Sơn

ln đảm bảo chất lượng với những tính năng ưu việt về cường độ chịu lực,

chịu nén, thời gian đông kết đáp ứng được các cơng trình xây dựng lớn, đòi

Lê Thị Nhung



Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C



Chuyên đề tốt nghiệp



47



hỏi yêu cầu cao. Thương hiệu xi măng Nghi Sơn đã được khẳng định và chấp

nhận tại hầu hết các tỉnh thành trong cả nước. Cơng ty cũng khơng có hàng

bán bị trả lại hay các khoản giảm giá hàng bán do không đảm bảo chất lượng.

Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế như: công suất thiết kế của dây chuyền là

2,15 trtấn/năm nhưng sản lượng sản xuất của công ty trong 2 năm 2006, 2007

chưa đạt được như vậy,chỉ riêng có năm 2008 là vượt công suất thiết kế.

Lượng xi măng sản xuất chưa đủ cung cấp cho thị trường, lượng Clinker sản

xuất chưa đủ nên trong năm công ty vẫn phải nhập khẩu clinker để đảm bảo

cho quá trình sản xuất. Trong thời gian tới, công ty cần tăng cường hơn nữa

các biện pháp để nâng công suất hoạt động thực tế của máy móc đạt khoảng

>99%, bảo dưỡng, sửa chữa tránh việc ngừng hoạt động máy móc quá lâu,

tăng số ngày vận hành lò qua đó tăng sản lượng sản xuất. Công ty cũng nên

chú trọng xây dựng các mối quan hệ với các đơn vị cung cấp nguyên liệu đảm

bảo cho quá trình SXKD.

Tuy nhiên sản phẩm sản xuất ra phải được tiêu thụ hết trên thị trường

và mang lại lợi nhuận cho công ty. Để đánh giá được chúng ta sẽ đi vào xem

xét tình hình tiêu thụ sản phẩm của cơng ty.

*) Về tình hình tiêu thụ:

Bảng 2.6: Tình hình tiêu thụ và doanh thu của một số sản phẩm

Sản luợng tiêu thụ(tấn)

ST

T



Chỉ tiêu



2006



2007



2008



1



Xi măng bao



860,987



986,352



1,079,576



2



Xi măng rời



1,212,979



1,290,801



1,282,734



Chênh lệch

2007-



2008-



2006



2007



125,36

5

77,822



93,22

4

-8,067



Doanh thu ($)

2006



2007



2008



43,230,157



51,625,663



65,001,271



50,647,846



55,828,634



64,730,472



Từ bảng số liệu trên ta có thể thấy doanh thu và sản lượng tiêu thụ các

mặt hàng xi măng rời và xi măng bao của công ty trong 3 năm vừa qua đều

gia tăng. Doanh thu và sản lượng đều tăng điều này cho thấy thị trường tiêu

Lê Thị Nhung



Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C



Chuyên đề tốt nghiệp



48



thụ của công ty ngày càng được mở rộng, đây là dấu hiệu tích cưc trong hoạt

động sản xuất kinh doanh. Măt khác trong 3 năm này công ty cũng cố gắng

hoàn thành vượt mức kế hoạch để đáp ứng nhu cầu xi măng của thị trường.

Qua tìm hiểu có thể nói tốc độ xây dựng của Việt Nam trong những năm gần

đấy tăng trưởng ngày càng cao đặc biệt là tại các thành phố lớn như Hà nội,

Hồ Chí Minh…, hàng loạt các dự án , các cơng trình xây dựng được phê

duyệt. Chính vì thế nhu cầu xi măng trong nước không đủ để cung cấp. Sản

lượng xi măng sản xuất ra so với sản lượng yêu cầu của nền kinh tế thì đang

thiếu hụt, năm 2007 thiếu 9,2 triệu tấn, năm 2008 thiếu 5,8 triệu tấn. Nắm bắt

được nhu cầu thị trường, hàng năm công ty đã bỏ ra một khoản tiền không

nhỏ để điều tra nghiên cứu thị trường, quảng bá sản phảm đồng thời để cải

tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm, xây dựng kế hoạch. Mặt khác, công ty đã

thực hiện tốt công tác bán hàng, phân phối, mở rộng được thị trường với các

kênh tiêu thụ qua đại lý, nhà phân phối hay tiêu thụ trực tiếp cho các dự án

lớn. Khắc phục được tình trạng đứt hàng trong mùa mưa bão. Cơng ty cũng có

những chính sách bán hàng hiệu quả nhằm khuyến khích người mua hàng

bằng nhiều hình thức như khuyến mại; tổ chức đưa hàng đến tận công trình

khi khách hàng u cầu; áp dụng chính sách chiết khấu thương mại cho các

khách hàng mua số lượng lớn; chính sách tín dụng thương mại với các khách

hàng thường xun và các khách hàng có tình hình tài chính ổn định. Xi măng

Nghi Sơn đã trở thành thương hiệu có uy tín và là sự lựa chọn của nhiều cơng

trình lớn như cơng trình Keangnam - tòa nhà cao nhất Việt Nam gồm 70

tầng…

Có thể nói việc tăng sản lượng tiêu thụ ảnh hưởng trực tiếp đến doanh

thu bán hàng cơng ty từ đó lại ảnh hưởng đến việc tăng lợi nhuận. Vì vậy

trong những năm tới, cơng ty cần phải tiếp tục duy trì và nâng cao hơn nữa

sản lượng cũng như chất lượng xi măng.

Lê Thị Nhung



Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

*)Tình hình nguồn vốn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×