Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 THƯC TRANG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ TRÊN ĐIA BÀN HUYÊN NGHĨA HƯNG TÌNH NAM ĐINH.

2 THƯC TRANG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ TRÊN ĐIA BÀN HUYÊN NGHĨA HƯNG TÌNH NAM ĐINH.

Tải bản đầy đủ - 0trang

GVHD: Th.S Ngơ Thanh Hồng



Luận văn ci khóa



ngân sách ln đặt ra yêu cầu phải thu đúng, thu đủ với mức động viên

hợp lý vừa có thể huy động tốt



nhất nguồn lực tài chính vào ngân sách mà phải vừa khuyến khích sự phát triển

của các tổ chức, cá nhân thực hiện sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Trong

những năm qua công tác quản lý thu NSX trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng đã

được



thực hiện khá tốt. Tình hình quản lý thu NSX cụ thể

trong



những năm vừa qua được thể hiện thơng qua bảng sau:

Bảng 2.1: Tình hình thu NSX theo xã, thị trấn tại huyện Nghĩa Hưng.



Sinh viên: Ngơ Thanh Huyền



31



Lớp: CQ44/01.03



GVHD: Th.S Ngơ Thanh Hồng



S

T

T



Tên xã, thị trấn



Năm 2007



1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15



Xã Nghĩa Đồng

Xã Nghĩa Thịnh

Xã Nghĩa Minh

Xã Hoàng Nam

Xã Nghĩa Châu

Xã Nghĩa Thái

Xã Nghĩa Trung

TT Liễu Đề

Xã Nghĩa Sơn

Xã Nghĩa Lạc

Xã Nghĩa Hồng

Xã Nghĩa Phong

Xã Nghĩa Phú

Xã Nghĩa Bình

Xã Nghĩa Tân



Thực hiện

1.696.205

2.973.487

2.508.570

2.208.989

3.530.408

2.428.926

1.918.806

2.361.050

4.229.699

3.347.898

2.154.957

3.944.825

1.958.607

1.609.372

2.305.835



16

17

18

19

20

21

22

23



Xã Nghĩa Thành

TT Quỹ Nhất

Xã Nghĩa Lâm

Xã Nghĩa Hùng

Xã Nghĩa Hải

Xã Nghĩa Lợi

Xã Nghĩa Thắng

Xã Nghĩa Phúc



1.548.935

3.409.388

1.980.963

2.363.191

2.703.667

2.067.101

6.348.802

2.137.152



24 TT Rạng Đơng

25 Xã Nam Điền

Cộng



Luận văn ci khóa



2.914.640

2.290.696

66.942.169



Năm 2008

Tỷ

trọng

2,53

4,44

3,75

3,30

5,27

3,63

2,87

3,53

6,32

5,00

3,22

5,89

2,93

2,40

3,44

2,31

5,09

2,96

3,53

4,04

3,09

9,48

3,19

4,35

3,42

100



Thực hiện

1.906.226

1.995.456

2.627.461

3.205.719

4.204.907

2.524.573

1.736.629

3.161.391

4.470.606

3.607.057

2.800.338

6.673.828

2.213.943

1.804.704

2.887.229

3.450.991

3.964.206

2.288.456

2.411.191

3.239.947

2.597.368

4.311.670

2.533.143

3.079.287

2.385.228

76.081.554



Năm 2009

Tỷ

trọng

2,51

2,62

3,45

4,21

5,53

3,32

2,28

4,16

5,88

4,74

3,68

8,77

2,91

2,37

3,79

4,54

5,21

3,01

3,17

4,26

3,41

5,67

3,33

4,05

3,14

100



Nguồn: Phòng TC-KH huyện Nghĩa Hưng.



Thực hiện

2.942.742

3.795.505

4.284.774

3.100.824

5.689.494

3.510.755

3.487.240

4.761.603

6.783.873

3.095.368

2.771.114

6.303.790

2.675.718

3.982.854

2.867.621

4.636.714

2.428.615

2.881.817

2.186.807

4.761.313

3.002.988

3.357.931

2.754.476

3.022.406

2.017.131

91.103.473



Tỷ

trọng

3,23

4,17

4,70

3,40

6,25

3,85

3,83

5,23

7,45

3,40

3,04

6,92

2,94

4,37

3,15

5,09

2,67

3,16

2,40

5,23

3,30

3,69

3,02

3,32

2,21

100



Hồ cùng với sự phát triển chung của toàn huyện trên mọi lĩnh vực: công

nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, xây dựng, dịch vụ, văn hố, giáo dục, y

tế.. .cơng tác quản lý NSX cũng đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Thu

NSX trên địa bàn ngày càng tăng lên. Tổng nguồn thu NSX trong năm 2007

là 66,942169 tỷ đồng, năm 2008 là 76,081,554 tỷ đồng, năm 2009 là

Đơn vị: 1000 đồng



Sinh viên: Ngô Thanh Huyền



32



Lớp: CQ44/01.03



GVHD: Th.S Ngơ Thanh Hồng



Luận văn ci khóa



91,103,373 tỷ đồng. Như vậy chỉ tính trong 3 năm (từ 2007 đến 2009) số thu NSX

tăng 26,52% (tương ứng với số tuyệt đối là trên 24 tỷ đồng) từ gần 67 tỷ đồng năm

2007 đến trên 91 tỷ đồng năm 2009. Mặc dù trong năm 2009, nền kinh tế có nhiều

biến động



do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế



giới, nhưng tổng thu vẫn tăng, điều đó càng chứng tỏ hướng đi đúng đắn của công

tác quản lý NSX. Sự gia tăng đó là minh chứng cho sự phát triển kinh tế xã hội trên

địa bàn đang có dấu hiệu khởi sắc.

Nhìn vào bảng trên ta thấy tỷ trọng thu ngân sách giữa các xã, thị trấn có sự

chênh lệch đáng kể:

+ Xã có số thu cao nhất là Nghĩa Phong, năm 2007 gần 4 tỷ đồng chiếm tỷ

trọng là 5,89%; nhưng năm 2008 tăng lên tận gần 6,7 tỷ đồng chiếm tỷ trọng là

8,77%, nhưng lại giảm vào năm 2009 còn trên 6,3 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 6,92%.

Chỉ có 1 năm từ 2008 đến 2009 mà số thu của xã tăng tới 2,7 tỷ đồng (chiếm

40,89% năm 2008). Có số thu cao thế này là do những năm gần đây Nghĩa Phong

có nhiều doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể đi vào sản xuất, kinh doanh; kéo

theo đó là những hoạt động dịch vụ rất phát triển nên đã tạo nguồn thu đáng kể cho

NSX.

+ Xã Nghĩa Đồng có số thu thấp nhất; thu được gần 1,7 tỷ đồng năm 2007

chiếm tỷ trọng 2,53%; năm 2008 thu được trên 1,9 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 2,51%,

sang đến năm 2009 thu được gần 3 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 3,23%. Sở dĩ như vậy là

do xã có vị trí địa lý khơng thuận lợi, tiềm năng phát triển kinh tế chưa được khai

thác hợp lý, và do công tác quản lý thu Ngân sách trên địa bàn xã chưa thật sự hợp

lý.

+ Bên cạnh đó còn có một số xã số thu ngân sách tăng từ 2007 đến

2008 nhưng lại giảm trong năm 2009 như Hoàng Nam, Nghĩa Lạc, Quỹ

Nhất...Số thu của xã Nghĩa Châu, Liễu Đề, Nghĩa Hải tăng đều giữa các

năm, đặc biệt các xã Nghĩa Sơn, Nghĩa Thành, Nghĩa Trung tăng đáng

kể. Nguyên nhân xuất phát từ đặc điểm của từng vùng. Như xã Nghĩa

Trung là nơi tập trung



Sinh viên: Ngô Thanh Huyền



33



Lớp: CQ44/01.03



đông dân cư, số người hoạt động trong khu vực ngoài quốc doanh nhiều,

UBND huyện đặt trụ sở tại xã nên được quan tâm đặc biêt, có điều kiện thuận

lợi phát triển kinh tế vùng. Thị trấn Liễu Đề là trung tâm thương mại của

huyện với chợ Liễu Đề - nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động mua bán, mặt

khác ở



đây tậptrung số lượng các hộ kinh doanh cá thể tạo nguồn

thu



ngân sách rất dồi dào. Hay như xã Nghĩa Sơn, được đầu tư xây dựng KCN, do

đó số thu NSX tăng đáng kể.

Tuy thu ngân sách có tăng lên nhưng số tăng vẫn chưa tương xứng với khả

năng khai thác các nguồn thu. Một mặt là luật NSNN sửa đổi mới được đưa

vào áp dụng nên không thể tránh khỏi những lúng túng, vướng mắc trong thực

hiện. Mặt khác, trong năm 2009 không chỉ trên địa bàn huyện mà nền kinh tế

của cả nước chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu.

Để nhìn nhận một cách chi tiết những kết quả đạt được và những tồn tại cần

phải khắc phục ta có thể đi vào chi tiết một số khoản thu cấu thành trong cơ

cấu thu NSX nhằm tìm ra nguyên nhân và đưa ra những giải pháp để tiến tới

hồn thiện cơng tác quản lý NSX.

Bảng 2.2: Tình hình thu NSX trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng theo nội

dung nguồn thu.

Đơn vị: 1000 đồng

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

S Nội dung

Ước ƯTH/D

TH/D

TH/D

T

Dự

Thực

Dự

Thực

thực

Dự toán hiện 6 T

T

T

T thu

toán hiện

toán hiện

tháng

(%)

(%)

(%)

đầu

năm

Thu NSX 30.957.6 41.493.7

38.509.0 40.302.3

37.506. 20.913.4

1 hưởng

134 00

105 500

56

10

03

91

36

100%

Thu NSX 13.158.0 11.061.8

23.698.0 26.972.4

25.950. 12.061.8

tỷ lệ 20

2 hưởng

84 00

114 500

46

92

19

92

%

Thu bổ

18.203.1 23.525.9

21.857.5 23.828.6

17.550. 9.950.00

từ NS 00

3 sung

129

109

57

59

00

63

672

0

cấp trên

62.318.7 76.081.5

84.064.5 91.103.4

81.007. 42.925.3

Tổng cộng 30

54

122 00

73

108 672

28

53

Ngn: Phòng TC-KH huyện Nghĩa Hưng.

Nhìn vào bảng số liệu ta thấy cơ cấu nguồn thu của NSX đang có xu

hướng chuyển dịch tăng số thu NSX được hưởng, giảm bớt số thu bổ sung từ



ngân sách cấp trên. Khoản thu NSX hưởng 100% tăng từ gần 32,1 tỷ đồng

(năm 2007) đến gần 41,5 tỷ đồng (năm 2008), nhưng lại giảm xuống chỉ còn

trên 40,3 tỷ đồng (năm 2009), khoản thu NSX phân chia theo tỷ lệ giảm từ trên

13,8 tỷ đồng (năm 2007) xuống dưới 11,1 tỷ đồng (năm 2008), nhưng lại tăng

mạnh vào năm 2009 tới trên 26,9 tỷ đồng. Đây là hướng chuyển dịch tích cực,

đảm bảo NSX dần tiến tới tự cân đối ngân sách cấp mình. Riêng khoản thu bổ

sung từ Ngân sách cấp trên lại giảm; từ trên 31,1% năm 2007 xuống 30,9%

năm 2008 và còn dưới 26,2% năm 2009. Nhưng số thu Ngân sách cấp trên

năm 2009 là gần 24 tỷ đồng. Đó là do huyện chủ động đầu tư về XDCB và

phát triển kết cấu hạ tầng nên cần thêm nguồn vốn bổ sung từ ngân sách cấp

trên.

Ta thấy hầu hết các khoản thu đều đạt vượt kế hoạch (hầu hết đều trên

105%). Điều đó thể hiện công tác thực hiện thu NSX đang đi đúng hướng, các

xã đã khai thác hợp lý nguồn thu trên địa bàn. Tuy nhiên, trong năm 2008 có

khoản thu vượt kế hoạch tới 34%. Nó thể hiện cơng tác lập dự toán chưa hiệu

quả. Cán bộ thực hiện mới chỉ biết dựa trên cơ sở số năm trước để đưa ra dự

tốn mà chưa phân tích đầy đủ tình hình biến động kinh tế - xã hội và các hoạt

động phát sinh trên địa bàn, do đó dự tốn đơi khi chỉ là những con số, khơng

có giá trị trong việc lập kế hoạch thực hiện thu. Hơn nữa đó là một phương

thức để tăng thu bổ sung ngân sách từ cấp trên. Bên cạnh đó có số thu NSX

phân chia theo



tỷ lệ trong năm 2008 là 11,061892 tỷ đồng (chiếm



tỷ



trọng

84%). Nguyên nhân do không biết khai thác triệt để các nguồn thu như thuế

tiêu thụ đặc biệt đối với hàng sản xuất trong nước, thuế VAT, thuế thu nhập

doanh nghiệp...

Dự tốn năm 2010 có xu hướng tăng các khoản thu NSX hưởng lên, giảm

số thu bổ sung từ cấp trên. Đó là hướng đi tích cực mà Phòng TC-KH huyện



Nghĩa Hưng chỉ đạo các xã thực hiện; tiến tới tự cân đối NSX.



Khoản



thu

NSX hưởng 100% chiếm tỷ lệ cao (khoảng 46%), thu NSX hưởng theo tỷ lệ

% chiếm 32%, thu bổ sung từ Ngân sách cấp trên là 22% trong tổng số thu

ngân sách dự kiến năm 2010. Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2010 đạt trên

45% so với dự toán. Con số này chưa phản ánh hết được nội lực của địa

phương. So với số thực hiện của các năm trước đó thì ước số thu 6 tháng đầu

năm 2010 là tương đối thấp; cụ thể: so với cùng kỳ năm 2009 thì khoản thu

NSX hưởng 100% ước tính 6 tháng đầu năm 2010 đạt 102%, khoản thu phân

chia theo tỷ lệ đạt 90%, thu bổ sung từ ngân sách cấp trên đạt 88%. Nguyên

nhân một phần là do trách nhiệm của cán bộ quản lý NSX, đã chưa biết cách

khai thác triệt để các nguồn thu. Thứ nữa là do sự thay đổi trong cơ chế và

thành phần kinh tế của địa phương. Tổng số ước thu 6 tháng đầu năm

2010

đạt 53% dự toán năm, và đạt 47% so với số thực hiện năm 2009. Con số này

chưa thể hiện được mặt tích cực của cơng tác quản lý thu NSX. Để có thể hồn

thành và hồn thành vượt mức kế hoạch đã giao thì cơng tác quản lý NSX cần

phải



thực hiện nghiêm chỉnh, tận thu được tất cả các



khoản



phát

sinh.

2.2.1.1



Các khoản thu Ngân sách xã hưởng 100%.



Khoản thu NSX được hưởng 100% là một khoản thu vô cùng quan trọng

đối với NSX không chỉ bởi lẽ khoản thu này phát sinh ngay trên địa bàn do

UBND xã trực tiếp tổ chức quản lý, xây dựng và khai thác mà còn do yếu tố sở

hữu đối với khoản thu này. Nghĩa là nếu như khoản thu này được khai thác

nhiều thì NSX được



hưởng



nhiều



và ngược



của



chủ



yếu







lại. Nguồn thu



phát sinh dựa vào tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội kết hợp với các nhiệm

vụ về quản lý mà chính quyền cấp xã được phân cơng. Kết quả trong 3 năm

2007, 2008, 2009 đã khẳng định được vị trí và tiềm năng đa dạng về nguồn thu

để đáp ứng các yêu cầu đối với việc phát triển kinh tế - xã hội và quản lý Nhà

nước của chính quyền cấp xã. Cụ thể được phản ánh trong bảng số liệu sau:



Bảng 2.3: Tình hình các khoản thu đơn vị được hưởng 100% trên địa bàn huyện Nghĩa

Hưng.

Đơn vị: 1000 đồng

Tổng số 3 năm

Trong đó

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Tổng

số

% Tổng số % Tổng số %

Tổng số %

4.172.4 3,66 1.370.127 4,27 1.336.762 3,22 1.465.5 3,64

06

57.290. 50,3 16.747. 52,2 22.804. 54,9 17

17.737. 44,0

244

2

950

3

771

6

523

1

62.473 0,05 39.501

0,12 22.972

0,06

16.347. 14,3

21,9 4.424.2 10,6 4.872.1 12,0

7.051.095 9

431

6

15

6

21

9

16.836. 14,7

18,0 6.581.6 16,3

2.774.638 8,65 7.480.437 3

731

9

56

3

19.152. 16,8

12,7

13,0 9.645.5 23,9

6 Thu khác

4.082.447 3

5.424.546 7

567

2

74

3

113.861

32.065.7

41.493.7

40.302.3

Tổng cộng

100 58

100 03

100 91

100

.852

Nguồn: Phòng TC-KH huyện Nghĩa Hưng.

Nội dung các

S khoản thu ngân

T sách xã hưởng

T

100%

1 Phí, lệ phí

Thu từ quỹ đất

2 cơng và hoa lợi

cơngtừsản

Thu

hoạt động

3 kinh tế và sự

nghiệp

Huy

động đóng

4 góp của nhân dân

Thu kết dư năm

5 trước



Có thể thấy số thu NSX được hưởng 100% có xu hướng tăng hàng năm, đó

là dấu hiệu khả quan trong công tác tổ chức thu NSX. Tổng số thu 3 năm là

113,861852 tỷ đồng. Nhìn vào thực tế có thể thấy trong những năm qua khoản

thu này có sự gia tăng đáng kể, từ trên 32 tỷ đồng (năm 2007) lên tới gần 41,5

tỷ đồng (năm 2008) tăng gần 9,5 tỷ đồng (khoảng 22,7%), nhưng lại giảm vào

năm 2009 còn là trên 40,3 tỷ đồng. Sở dĩ các khoản thu này (phí, lệ phí, thu từ

quỹ đất công & hoa lợi công sản, thu từ hoạt động kinh tế sự nghiệp, thu đóng

góp của nhân dân...) được để lại tồn bộ cho NSX là vì chúng đã gắn được

quyền thu và trách nhiệm sử dụng đối với chính quyền xã, thị trấn.

- Đối với các khoản thu từ phí, lệ phí: Đây là nguồn thu mang tính ổn định

cao và quan trọng của NSX. Số thu từ phí, lệ phí bị giảm đi từ năm 2007 đến

năm 2008 nhưng lại tăng ngay trong năm 2009. Cụ thể số phí, lệ phí năm 2007

là gần 1,4 tỷ đồng, sang năm 2008 giảm đi khoảng 33 triệu đồng chỉ còn trên

1,3 tỷ đồng, nhưng trong năm 2009 số thu đã tăng lên gần 129 triệu đồng và

đạt được khoảng 1,5 tỷ đồng (tăng 8,79%). Tổng số phí, lệ phí huyện thu được

trong 3 năm là gần 4,2 tỷ đồng (chiếm 3,66% tổng số thu NSX



hưởng 100%). Tỷ trọng số phí, lệ phí thu được tương đối cao khơng chỉ dựa

vào thế mạnh là các khoản thu từ phí, lệ phí phát sinh ngay trên địa bàn mà

phải nói đến công tác thu được phối hợp thực hiện chặt chẽ, khai thác triệt để

các hoạt động phải đóng phí, lệ phí bằng việc gắn trách nhiệm của người quản

lý thu với các khoản thu.

+ Một khoản thu không nhỏ đối với NSX là lệ phí chợ. Khoản thu này

phát sinh trên các xã, thị trấn như Liễu Đe, Nghĩa Trung, Nghĩa Sơn, Rạng

Đông... Đây là những nơi tập trung buôn bán lớn của huyện. Khoản thu từ lệ

phí chợ là khoản thu phát sinh đều đặn, và được thực hiện theo biện pháp giao

khoán số thu cho các ban quản lý trong thời kỳ ổn định. Hình thức này vừa có

tác dụng khuyến khích cơng tác quản lý, vừa huy động tối đa nguồn tài chính

cho ngân sách. Chính vì vậy cần thực hiện tốt công tác nuôi dưỡng nguồn thu

như: xây dựng, cải tạo chợ, lán giữ xe nhằm tận thu và tăng cường các khoản

trên. Tuy nhiên một điều đáng nói là số giao khốn được thực hiện trong

khoảng từ 3-5 năm, các ban quản lý nộp tiền vào ngân sách một lần, vì vậy dẫn

đến



thu ngân sách trong những năm này thường lớn và được sử

dụng



ngay trong năm đó, nhưng trong những năm tiếp theo nguồn thu này lại khơng

có. Các khoản chi phát sinh hàng năm cần phải có những khoản thu thường

xuyên tương ứng để trang trải trong năm đó. Chính vì vậy cơng tác giao

khoán trong thời gian 3-5 năm và thu ngân sách một lần là không phù hợp.

Để khoản thu này thực hiên tốt nhiệm vụ của mình là góp 1 phần bù đắp chi

phí cần thiết cho việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của xã hoặc tái đầu tư các

công trình phúc lợi trên địa bàn xã quản lý thì yêu cầu chính quyền cấp xã phải

quan tâm hơn nữa để công tác thu thực sự hiệu quả. Cần phải đơn đốc kiểm tra,

quản lý để địa phương có thể khai thác hết thế mạnh của mình.



- Đơi với các khoản thu từ quỹ đất cơng ích và hoa lợi công sản: Khoản

thu này chiếm tỷ trọng lớn trong số các khoản thu NSX được hưởng 100%

(chiếm khoảng 40 - 60%). Nghĩa Hưng là một huyện có đường bờ sơng, bờ

biển nên hầu hết các xã ở ven biển đều khai thác tốt từ việc nuôi dưỡng đánh

bắt thủy hải sản. Nguồn thu của các xã này rất lớn, hình thức phát triển kinh tế

của họ là đấu thầu đầm bãi, ao hồ để nuôi trồng thủy hải sản như: thả vạng,

tôm, cua, cá...cho nên nguồn thu từ hoạt động này đạt được những kết quả nhất

định



(năm 2007 đạt trên 16,7 tỷ (chiếm 52,23% trong tổng thu NSX



hưởng 100%); năm 2008 đạt trên 22,8 tỷ đồng (chiếm 54,96%); năm 2009

giảm xuống còn khoảng 17,7 tỷ đồng (chiếm 44,01%).

+ Nhìn chung, thu từ quỹ ĐC&HLCS trong những năm gần đây thực hiện

khá tốt. Số thu trong 3 năm 2007, 2008, 2009 đều hồn thành vượt dự tốn

được giao. Đặc biệt là năm 2008 số thu từ quỹ ĐC&HLCS cao đáng kể so với

năm 2007, 2009. Đóng góp trong số đó phải kể đến các xã có số thu lớn như:

Năm 2007 xã Nghĩa Thắng có số thu là trên 5 tỷ đồng (chiếm 31,32%), xã

Nghĩa Phong là gần 2,5 tỷ đồng; Năm 2008 số thu nhiều xã tăng đột biến, xã

Nghĩa Phong có số thu cao nhất lên tới gần 5 tỷ đồng (chiếm 21,45%), một số

xã khác cũng có số thu cao như xã Nghĩa Thắng: gần 3,5 tỷ đồng, Nghĩa Sơn:

gần 2,5 tỷ đồng; Năm 2009 số thu nhìn chung giảm, tuy nhiên vẫn có những xã

có số thu cao, điển hình là thị trấn Liễu Đề và xã Nghĩa Sơn có số thu trên 1 tỷ

đồng. Đạt được những kết quả đáng mừng như vậy là do chính quyền cấp xã

đã thực hiện triệt để khoán thu theo mùa vụ thơng qua đấu thầu, khai thác tồn

diện



các khoản thu như quỹ ĐC&HLCS từ trồng cây. Mặt khác trong



những năm qua tốc độ phát triển kinh tế xã hội ở huyện ln đạt mức cao và có

xu hướng ngày càng mở rộng. Đặc biệt là xã Nghĩa Sơn diện tích đất đang

được mở rộng sử dụng, KCN được xây dựng tạo nên một nguồn thu lớn cho

xã, minh chứng là năm 2008 số thu tăng 13,7% so với năm 2007, năm 2009

con số này là 19,7% so với năm 2008.



+ Bên cạnh đó, có một vài xã có số thu thấp như Nghĩa Phúc, thị trấn Rạng

Đông; số thu của năm chưa đến 200 triệu đồng. Nguyên nhân là do việc thực

hiện thu, lập kế hoạch thu chưa được chặt chẽ. Các đơn vị này cần chấn chỉnh

lại công tác thu và quản lý các khoản thu, áp dụng các biện pháp thu phù hợp

để khai thác một cách hiệu quả hơn. Các xã, thị trấn cần xem xét và cơng khai

minh bạch hình thức đấu thầu, khốn thu tránh tạo kẽ hở làm thất thu ngân

sách.

Đây là nguồn thu có tiềm năng lớn của NSX, nên bên cạnh việc thu đúng,

thu đủ thì cần phải ni dưỡng nguồn thu. Vì thế trong những năm tới các địa

phương cần quan tâm đầu tư mở lớp tập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật

trồng trọt và lớp phòng chống dịch cho người dân, đồng thời có kế hoạch đầu

tư chuyển đổi cây trồng vật ni cho năng suất cao, tìm kiếm hướng phát triển

mới như sản xuất lương thực, thực phẩm phục vụ các thành phố lớn và tiến tới

sản xuất hàng xuất khẩu trong tương lai không xa. Tạo đà tăng nguồn thu cho

những năm tới.

- Đôi với các khoản thu từ hoạt động sự nghiệp: Đây là khoản thu khơng

lớn, nhưng nó lại là một nguồn thu đáng kể nếu biết khai thác. Tuy nhiên trên

thực tế ở địa bàn huyện Nghĩa Hưng khoản thu này rất thấp (khoảng 3% tổng

thu NSX hưởng 100%). Hoạt động sự nghiệp ở cấp xã bao gồm các hoạt động

giáo dục mầm non, sự nghiệp y tế, sự nghiệp nông nghiệp, hoạt động sự

nghiệp khác... Khoản thu này hầu hết chỉ phát sinh trên địa bàn xã Nghĩa

Đồng, Nghĩa Lâm, Nghĩa Hùng, Nghĩa Hải. Số thu có xu hướng giảm dần

trong các năm. Tổng số thu của 3 năm là gần 62,5 triệu đồng trong



đó



năm

2007 là hơn 39,5 triệu đồng, sang năm 2008 chỉ còn gần 23 triệu đồng, và đến

năm 2009 thì số thu bằng 0. Số thu có xu hướng giảm là do cơ chế chính sách

trong những năm gần đây có sự thay đổi. Khoản thu này được giao cho các địa

phương tự thực hiện, nó lại là một khoản thu quá nhỏ nên công tác tổ chức thu

không được quan tâm đúng mức, hầu hết các địa phương không đưa khoản thu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 THƯC TRANG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ TRÊN ĐIA BÀN HUYÊN NGHĨA HƯNG TÌNH NAM ĐINH.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×