Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
c. Đối tượng quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước đối với nhà nước

c. Đối tượng quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước đối với nhà nước

Tải bản đầy đủ - 0trang

Là đối tượng quản lý của chủ đầu tư, chịu trách nhiệm về đảm bảo dự án,

cơng trình được thực hiện theo đúng nội dung các bước thiết kế đã quy định; phù

hợp với quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng và nhiệm vụ thiết kế, thực

hiện đúng hợp đồng giao nhận thầu thiết kế với chủ đầu tư.

Thứ ba, đơn vị khảo sát xây dựng

Chịu trách nhiệm trước Chủ đầu tư và các cơ quan quản lý nhà nước về xây

dựng theo phân cấp về sự phù hợp với quy mô, quy hoạch, các bước thiết kế, tính

chất cơng trình, điều kiện tự nhiên của địa điểm xây dựng; phù hợp với quy chuẩn,

tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng, tránh lãng phí.

Thứ tư, đơn vị thi cơng xây dựng dự án, cơng trình

Thực hiện đúng hợp đồng thi công, chịu trách nhiệm thi công đúng thiết kế

được duyệt, đảm bảo chất lượng, an tồn, mơi trường xây dựng, áp dụng đúng các

tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng đã được quy định và chịu sự giám sát, kiểm tra thường

xun về chất lượng cơng trình của chủ đầu tư, tổ chức thiết kế và cơ quan giám

định nhà nước theo phân cấp quản lý.

Thứ năm, đơn vị giám sát thi công xây lắp:

Chịu trách nhiệm trước Chủ đầu tư về hệ thống quản lý chất lượng của dự

án, cơng trình; giám sát, quản lý các điều kiện về năng lực các nhà thầu, vật tư, thiết

bị thi công; chất lượng, khối lượng, tiến độ, an toàn lao động, về sinh mơi trường

của cơng trình, hạng mục cơng trình.



1.2.3.2. Sự cần thiết quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước đối

với nhà nước

Thứ nhất, để đảm bảo chất lượng cơng trình, hiệu quả của vốn đầu tư:

Giai đoạn hiện nay, chất lượng các cơng trình xây dựng cơ bản còn rất nhiều

tồn tại, bất cập như: các sự cố, hư hỏng cơng trình cũng như những khoảng trống về

pháp luật; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Một số cơng trình mới bàn giao đưa vào

khai thác, sử dụng đã bộc lộ khiếm khuyết, thiếu sót về chất lượng, gây bức xúc

trong quần chúng nhân dân như: sự kém chất lượng hoàn thiện của các cơng trình

nhà ở tái định cư; tình trạng sụt trượt, lún nền trên một số tuyến đường giao thông,



hư hỏng một số cơng trình trường học, bệnh viện... Vấn đề bảo trì, bảo dưỡng các

cơng trình, dự án trong quá trình sử dụng cũng chưa được quan tâm đúng mức.

Đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước được đánh giá là

dàn trải, manh mún, lãng phí, kém hiệu quả, nhiều dự án được phê duyệt chưa đảm

bảo tỉnh hợp lý, quy hoạch tổng thể. Đường giao thông vừa thi công xong đã bị đào

lên để làm hệ thống cấp nước, hệ thống thông tin liên lạc; một cây cầu xây dở dang

mới xong phần hạ bộ, dừng thi công chờ cấp vốn để thi cơng phần thượng bộ; một

số cơng trình thủy lợi xây dựng xong khơng đem lại hiệu quả ... Đó là một số dẫn

chứng làm giảm hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản.

Thứ hai, do công tác đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách còn nhiều bất

cập:

Đầu tư không đúng, đầu tư không đúng trọng tâm, trọng điểm là vấn đề nhức

nhối làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả đầu tư, một số dự án chưa thực sự cần thiết

đầu tư hay chưa đến thời điểm phải đầu tư hoặc khơng cần thiết phải bố trí vốn nhà

nước để đầu tư nhưng vẫn quyết định đầu tư, vấn đề này đã gây lãng phí khơng nhỏ

ngân sách nhà nước. Quy mô, địa điểm của một số dự án đầu tư không xác định

đúng, hợp lý, dẫn đến tình trạng phải liên tục phải điều chỉnh, bổ sung vốn; Một số

dự án đầu tư xong thiếu nguyên liệu đầu vào để sản xuất, sản phẩm sản xuất ra

khơng có nơi tiêu thụ, gây lãng phí vốn đầu tư.

Tình trạng dàn trải trong bố trí kế hoạch đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước

của các Bộ, ngành và các tỉnh còn chưa chấp hành đúng quy định về quản lý dự án

đầu tư xây dựng, còn có hiện tượng bố trí vốn cho một số dự án chưa đủ thủ tục về

đầu tư. Qúa trình phân cấp về đầu tư, đã tạo thơng thống và chủ động cho cấp

dưới, song quá trình thực hiện và giám sát đầu tư chưa tốt dẫn đến tình trạng đầu tư

dàn trải, gây nợ đọng xây dựng cơ bản. Ngoài ra, các quy định của Nhà nước trong

lĩnh vực xây dựng cơ bản còn bất cập, quy hoạch còn chồng chéo, năng lực của chủ

đầu tư, đơn vị tư vấn còn hạn chế…

Năng lực cán bộ quản lý, cán bộ chuyên mơn còn nhiều hạn chế, thiếu tính

chun nghiệp, một số cán bộ, cơng chức khơng có chun mơn phù hợp, cán bộ



quản lý còn có hiện tượng coi nhẹ những hiểu biết về luật pháp, quy luật của cơ chế

thị trường; đạo đức nghề nghiệp chưa được đề cao và coi trọng. Vấn đề này được

thể hiện qua việc bố trí kế hoạch vốn cho một số dự án khơng đủ thủ tục, phát hiện

sai phạm trong quản lý đầu tư nhưng không xử lý, hay xử lý không đúng mức...

Chất lượng hạn chế của cán bộ, công chức là một trong những nguyên nhân chủ yếu

gây lãng phí, thất thoát và tiêu cực trong đầu tư xây dựng cơ bản.

Thứ ba, do u cầu của cơng tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, thất

thốt trong cơng tác đầu tư xây dựng cơ bản

Hiện nay, chưa có tài liệu nào thể hiện tỷ lệ và số liệu chính xác về thất

thốt, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản ở nước ta là bao nhiêu, nhưng vấn nạn

tham nhũng, thất thốt, lãng phí là có thực và đáng báo động. Tiêu cực xảy ra ở tất

cả các khâu và các giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng cơ bản, từ việc xin chủ

trương đầu tư, giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, bố trí kế hoạch vốn, cấp

phát, giải ngân; đến khâu nghiệm thu bàn giao và quyết tốn vốn đầu tư cơng trình,

dự án.

Tình trạng lãng phí, thất thốt trong đầu tư xây dựng cơ bản trong những

năm qua biểu hiện:

+ Thực hiện các công đoạn của giai đoạn chuẩn bị đầu tư không tốt dẫn đến

những quyết định đầu tư sai, không mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội.

+ Thời gian thi công kéo dài do chậm bàn giao mặt bằng (vướng mắc trong

GPMB), bố trí, cấp phát, giải ngân vốn chậm, không đúng kế hoạch, xây dựng

không đồng bộ, chậm nghiệm thu, thanh quyết tốn, chậm đưa cơng trình vào khai

thác sử dụng, phải bù giá, do tăng giá nguyên vật liệu đầu vào, mất cơ hội kinh

doanh, phải trả thêm lãi vay các tổ chức tín dụng….

+ Kết quả khảo sát không đảm bảo chất lượng, nên phải thay đổi lại kết cấu

cơng trình hoặc bổ sung, gia cố thêm kết cấu; thiết kế không đạt tiêu chuẩn hoặc

quá tiêu chuẩn; chất lượng xây dựng không đảm bảo phải làm lại.

+ Cơng trình bị bớt xén khối lượng, thi công sai thiết kế, sử dụng không

đúng chùng loại vật tư, kém chất lượng, chi phí khơng đúng quy định làm ảnh



hưởng đến chất lượng cơng trình.

+ Sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ GPMB khơng đúng mục đích, kê khai

khống khối lượng bồi thường, làm giả hồ sơ để nhận tiền bồi thường… dẫn đến phải

điều chỉnh, bổ sung thêm chi phí. Thực hiện đền bù khơng cơng khai minh bạch,

không công bằng giữa các hộ dân.

+ Áp dụng sai định mức, đơn giá; kê khai, nghiệm thu khống khối lượng

hoặc đánh giá sai chất lượng cơng trình; khi thẩm định, thẩm tra khơng chính xác,

dẫn đến thanh quyết tốn sai làm tăng chi phí xây dựng. Thanh quyết toán khống so

với giá trị thực tế thực hiện; bớt xén hoặc sử dụng chi phí xây dựng cơng trình sai

quy định…

Từ những hạn chế trên, yều cầu phải tăng cường quản lý nhà nước đối với đầu

tư xây dựng cơ bản tư vốn ngân sách.



1.2.3.3. Nội dung quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách

- Công cụ quản lý

Công cụ quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản là tổng thể những

phương tiện hữu hình và vơ hình mà nhà nước sử dụng để tác động lên khách thể

quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản.

Nhà nước xây dựng và chỉ đạo thực hiện các chiến lược, đề án, quy hoạch,

kế hoạch về đầu xây dựng cơ bản; Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy

phạm pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản; Sử dụng các chính sách kinh tế về đầu

tư xây dựng; Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về đầu tư xây

dựng cơ bản; quy chế quản lý đầu tư xây dựng; Nhà nước thành lập, tổ chức hệ

thống các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản và các cơng cụ khác

có liên quan.

Thứ nhất, chính sách, luật pháp về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách

nhà nước:

Thực tế cho thấy tính đồng bộ, chặt chẽ, khoa học của các văn bản pháp quy

của nhà nước là một nhân tố quan trọng trong quản lý nhà nước về kinh tế nói

chung và quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nói riêng.



Hệ thống chính sách pháp luật phải được thể chế hoá. Các văn bản quy phạm

pháp luật tạo ra hành lang pháp lý, điều chỉnh hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản.

Hệ thống các chính sách pháp luật tác động sâu rộng và trực tiếp đến hoạt động đầu

tư xây dựng cơ bản, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động đầu tư. Nếu chính sách

pháp luật vừa thiếu đồng bộ và chặt chẽ sẽ dẫn đến tình trạng có nhiều kẽ hở, tạo

điều kiện cho tiêu cực, tham nhũng, thất thốt, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ

bản. Hệ thống chính pháp pháp luật thiếu tính thực tế, chồng chéo, nhiều thủ tục

phiền hà cũng làm nản lòng các nhà đầu tư, gián tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt

động đầu tư xây dựng cơ bản.

Văn bản quy phạm pháp luật nói chung được xây dựng nhằm điều chỉnh các

lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội và điều chỉnh đối với các dự án đầu tư xây

dựng cơ bản nói riêng. Vì vậy, các chính sách pháp luật cũng được bổ sung sửa đổi

khi khơng còn phù hợp hay đáp ứng được những yêu cầu trong tình hình mới. Để

nâng cao hiệu quả công tác quản lý ầu tư xây dựng cơ bản, nhà nước phải luôn luôn

cập nhật sự thay đổi của tình hình đầu tư xây dựng cơ bản, để từ đó bổ sung sửa đổi

hệ thống chính sách pháp luật cho phù hợp xu thế phát triển.

Thứ hai, quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản

Quy hoạch xây dựng là việc tổ chức hoặc định hướng tổ chức không gian

vùng, không gian đô thị và điểm dân cư, hệ thống cơng trình hạ tầng kỹ thuật, hạ

tầng xã hội, tạo lập mơi trường sống thích hợp cho người dân sống tại các vùng lãnh

thổ đó, đảm bảo kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia và lợi ích cộng đồng, đáp ứng

được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi

trường. (Quy chuẩn xây dựng Việt Nam, phần về Quy hoạch Xây dựng do Bộ Xây

dựng ban hành).

Kế hoạch xây dựng là một tập hợp những hoạt động, công việc liên quan đến

hoạt động xây dựng cơ bản, được sắp xếp theo trình tự nhất định để đạt được mục

tiêu đã đề ra.

Khi thực hiện các chương trình, kế hoạch đầu tư xây dựng, quản lý thực hiện

các dự án đầu tư xây dựng, quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan phải tuân thủ



quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt.

Phê duyệt các dự án xây dựng cơng trình phải tn thủ, phù hợp với quy

hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch sử

dụng đất; bảo đảm quốc phòng, an ninh, khơng ảnh hưởng xấu đến môi trường, tạo

ra động lực phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm công khai, minh bạch và kết hợp hài

hòa giữa lợi ích quốc gia, cộng đồng và cá nhân. Tổ chức, sắp xếp không gian lãnh

thổ trên cơ sở khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đất đai và các

nguồn lực phù hợp với điều kiện tự nhiên, đặc điểm lịch sử, văn hóa, kinh tế - xã

hội, trình độ khoa học và công nghệ theo từng giai đoạn phát triển.

Việc lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng phải tuân thủ những yêu cầu về nhu

cầu sử dụng hạ tầng kỹ thuật, gồm hệ thống giao thơng, cung cấp năng lượng, cấp

nước, thốt nước, xử lý chất thải, thông tin liên lạc; bảo đảm sự kết nối, thống nhất

cơng trình hạ tầng kỹ thuật khu vực, vùng, quốc gia và quốc tế; bảo vệ mơi trường,

phòng ngừa và giảm thiểu hiểm hỏa ảnh hưởng đến cộng đồng, di sản văn hoá, bảo

tồn di tích lịch sử - văn hố, cảnh quan thiên nhiên, giữ gìn và phát triển bản sắc văn

hố dân tộc; bảo đảm tính đồng bộ về khơng gian kiến trúc, hệ thống hạ tầng xã hội,

hạ tầng kỹ thuật. Làm được như vậy, thì việc quản lý đầu tư xây dựng cơ bản theo

đúng quy hoạch đã được phê duyệt, mới thực sự là một cơng cụ quản lý có hiệu

quả, tránh lãng phí.

Thứ ba, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước và đội ngũ cán bộ làm công tác

quản lý đầu tư xây dựng cơ bản

Bộ máy quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản là một công cụ quản lý

quan trọng, tác động rất lớn đến quá trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, từ khâu

hoạch định cơ chế chính sách, quy hoạch, kế hoạch xây dựng, thẩm định và phê

duyệt các dự án đầu tư, đến hoạt động quản lý, giám sát tồn bộ q trình đầu tư.

Hệ thống bộ máy các cơ quan quản lý hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản của

nhà nước tại cấp huyện bao gồm: Ủy ban nhân dân huyện, phòng Cơng thương,

phòng Tài chính - Kế hoạch, Kho bạc Nhà nước huyện và các Chủ đầu tư.

Chất lượng nguồn nhân lực và sự phân cơng, phân cấp trong bộ máy quản lý



có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý đầu tư xây dựng cơ bản. Công tác tổ

chức cán bộ, thể hiện ở việc tổ chức, quản lý, bố trí, sắp xếp, phân công cán bộ thực

thi công vụ và đào tạo, bồi dưỡng về trình độ chun mơn, nhận thức chính trị, đạo

đức nghề nghiệp… nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường hiệu quả

quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản. Yếu tố nguồn nhân lực có tác động

tồn diện, là yếu tố quyết định đến tồn bộ cơng tác quản lý nhà nước cũng như

phát triển kinh tế nói chung và cơng tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ

bản nói riêng.

Ngồi ra một yếu tố khơng thể thiếu trong quản lý đầu tư xây dựng cơ bản,

đó là phương tiện quản lý, bao gồm: hệ thống công nghệ thông tin, bưu chính viễn

thơng, thơng tin liên lạc, các phương tiện máy móc trong q trình điều hành và

kiểm tra hoạt động của các dự án đầu tư.

Thứ tư, hồ sơ khảo sát, thiết kế cơng trình, dự án:

Hồ sơ thiết kế là một công cụ để nhà thầu thi công căn cứ thực hiện xây dựng

cơng trình, dự án; cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng cơ bản và chủ đầu tư quản

lý khối lượng, chất lượng công trình mà đơn vị thi cơng xây lắp đã thực hiện theo

đúng hồ sơ thiết kế đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Đặc thù trong cơng tác đầu tư xây dựng cơ bản là dự án, cơng trình nào cũng

có một bộ hồ sơ thiết kế. Hồ sơ thiết kế được lập cho từng cơng trình, bao gồm: các

bản vẽ thiết kế, thuyết minh thiết kế, bảng tính, các hồ sơ khảo sát xây dựng, dự

toán xây dựng (tổng dự tốn) cơng trình và quy trình bảo trì cơng trình (nếu có)...

Đây là một khâu trong qúa trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, đay cũng là một

công cụ để quản lý việc thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản.



- Quy trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản

Quy trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản là một trình tự có tổ chức, là cách

thức thực hiện một quá trình đầu tư xây dựng cơ bản, với mục đích tạo hiệu quả cao

nhất với một cách thức đơn giản nhất có thể. Quy trình quy định rõ: cơng việc cần

phải làm, kết quả phải đạt được, ai là người thực hiện, thực hiện như thế nào, lúc

nào và ở đâu. Thực hiện cơng việc theo quy trình sẽ dễ thực hiện, bảo đảm chất



lượng, tiến độ, phòng ngừa được rủi ro. Nhờ đó mà những người quản lý sẽ thực

hiện cơng việc một cách thành thạo, theo một logic nhất định, thống nhất với nhau,

đáp ứng được yêu cầu của quản lý.

Khi xây dựng quy trình quản lý xây dựng cơ bản phải hướng đến các đối

tượng quản lý: chủ đầu tư, đơn vị tư vấn, khảo sát thiết kế, đơn vị thi công, giám

sát, kiểm định... mỗi đơn vị thực hiện một hay nhiều cơng đoạn trong suốt q trình

thực hiện đầu tư và theo đúng hợp đồng đã ký kết với chủ đầu tư.

Quy trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản phải thể hiện được chức năng lãnh

đạo, chỉ đạo của chủ đầu tư và đội ngũ cán bộ quản lý đối với từng công việc cụ thể

trong q trình thực hiện đầu tư. Mỗi cơng đoạn của q trình đầu tư phải được cụ

thể hóa cơng việc của người quản lý, người thực hiện, theo một lô gic nhất định. Cụ

thể:

Đối với chủ đầu tư: Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức quản lý chất lượng

cơng trình xây dựng, từ khâu khảo sát, thiết kế; thẩm định, thẩm tra, phê duyệt thiết

kế xây dựng, đến thi cơng cơng trình và nghiệm thu, bảo hành cơng trình và thực

hiện các yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng theo quy định của pháp

luật.

Ban quản lý dự án: Ban quản lý dự án chịu sự chỉ đạo, điều hành kiểm tra

của chủ đầu tư và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn

được chủ đầu tư ủy quyền.

Xây dựng quy trình phải dựa vào các quy định của pháp luật, các chính sách,

quy hoạch xây dựng cơ bản, mục tiêu quản lý đầu tư xây dựng cơ bản và điều kiện

cụ thể của từng địa phương, đơn vị. Thực hiện quản lý theo quy trình, sẽ tạo điều

kiện thuận tiện trong việc quản lý, thực hiện và kiểm tra, giám sát. Cụ thể, nhà quản

lý sẽ tiến hành quản lý 03 giai đoạn như sau:

Bước 1. Giai đoạn chuẩn bị đầu tư

Đây là giai đoạn xác định đến tính cấp thiết của dự án đầu tư, sự phù hợp của

dự án đối quy hoạch tổng thể, chiến lược phát triển và điều kiện kinh tế, xã hội của

địa phương. Quản lý không tốt giai đoạn này sẽ dẫn đến lãng phí đầu tư, có khi là



lãng phí cả một dự án do không phát huy được hiệu quả đầu tư, hay sử dụng hết

công suất, quy mô dự án. Giai đoạn này gồm các bước nhỏ như sau:

Thứ nhất, đề xuất chủ trương đầu tư và phê duyệt chủ trương đầu tư, cần căn

cứ vào quy hoạch, kế hoạch, nguồn vốn, sự cần thiết phải đầu tư, quy mô dự án và

hình thức đầu tư.

Thứ hai, lập dự án đầu tư, bao gồm hồ sơ thiết kế cơ sở và nội dung thuyết

minh của dự án, phê duyệt dự án đầu tư (hay báo cáo kinh tế kỹ thuật đối với các

cơng trình có quy mơ nhỏ).

Thứ ba, lập kế hoạch đấu thầu, chỉ định thầu và phê duyệt.

Giai đoạn chuẩn bị đầu tư kế thúc khi có Quyết định phê duyệt đầu tư dự án,

cơng trình của cấp có thẩm quyền.

Bước 2. Giai đoạn thực hiện đầu tư

Đây là giai đoạn quan trọng, liên quan đến chất lượng đầu tư, nhà quản lý

cần tập trung vào các đối tượng thực hiện thi cơng cơng trình, đơn vị tư vấn giám

sát, chống gian dối, thi công sai chủng loại vật tư, bớt xén vật tư, khối lượng cơng

trình. Giai đoạn nay gồm các khâu sau:

+ Các thủ tục về đất đai, bồi thường, hỗ trợ GPMB: được thực hiện theo các

quy định của Luật Đất đai và các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ

GPMB.

+ Tổ chức lựa chọn nhà thầu tư vấn khảo sát thiết kế, tiến hành khảo sát,

thiết kế kỹ thuật thi công, lập dự tốn cơng trình, trình cấp thẩm quyền thẩm định,

phê duyệt.

+ Tổ chức lựa chọn đơn vị rà phá bom mìn, nhà thầu xây lắp, cung cấp thiết

bị, tư vấn giám sát, tư vấn quản lý dự án (nếu có), bảo hiểm cơng trình...; xin cấp

giấy phép xây dựng và ký kết các hợp đồng.

+ Tiến hành đầu tư xây dựng cơng trình, quản lý theo hợp đồng, quản lý giám

sát, thi cơng... Kiểm định chất lượng cơng trình; tổ chức nghiệm thu cơng trình,

hồn thiện hồ sơ trình quyết toán.



Giai đoạn thực hiện đầu tư kết thúc khi các bên lập và ký Biên bản nghiệm

thu, bàn giao cơng trình đưa vào sử dụng.

Bước 3: Giai đoạn kết thúc đầu tư

Gồm các cơng đoạn sau:

+ Kiểm tốn (nếu có), quyết tốn cơng trình theo hồ sơ được chủ đầu tư lập.

Đây là cơ sở trong việc xác định giá trị cơng trình, dự án.

+ Làm thủ tục bàn giao đơn vị quản lý, làm thủ tục bảo hành cơng trình.

+ Lưu trữ hồ sơ, báo cáo kết quả đầu tư. Kết thúc đầu tư.



Quản lý giai đoạn chuẩn bị đầu

Quản

tư lý giai đoạn thực hiện đầu

Quản

tư lý giai đoạn kết thúc đầu tư



Hình 1.1 Sơ đồ 03 giai đoạn quản lý đầu tư xây dựng cơ bản



- Phương thức quản lý đầu tư xây dựng cơ bản

Phương thức quản lý của nhà nước về kinh tế là tổng thể những cách thức tác

động có chủ đích và có thể có của nhà nước lên nền kinh tế quốc dân và các bộ

phận hợp thành của nó, để thực hiện các mục tiêu quản lý kinh tế quốc dân (như:

tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế ...).

Phương thức quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản là một nội dung

của phương thức quản lý nhà nước về kinh tế; đó là bao gồm tổng thể những cách

thức tác động có chủ đích và có thể có của nhà nước lên các đối tượng quản lý để

thực hiện các mục tiêu quản lý về đầu tư xây dựng cơ bản.

Các phương pháp quản lý nhà nước chủ yếu hiện nay:

Một là, các phương pháp hành chính:

Phương pháp hành chính trong quản lý đầu tư xây dựng cơ bản là cách tác

động trực tiếp bằng các quyết định mang tính bắt buộc của nhà nước lên đối tượng

và khách thể trong quản lý, nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong những tình huống

và hồn cảnh nhất định.

Phương pháp hành chính có hai đặc điểm cơ bản là:



+ Tính bắt buộc: các đối tượng quản lý phải chấp hành nghiêm chỉnh các tác

động hành chính, nếu vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm túc, kịp thời.

+ Tính quyền lực: các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản

trong phạm vi quyền hạn của mình được phép đưa ra các tác động hành chính lên

các đối tượng quản lý.

Phương pháp hành chính có vai trò: xác lập trật tự, kỷ cương làm việc trong

hệ thống; khâu nối các phương pháp khác lại thành một hệ thống; có thể giải quyết

các vấn đề đặt ra trong quản lý nhanh chóng và hiệu quả.

Sử dụng phương pháp hành chính đòi hỏi các nhà quản lý phải nằm vững

những yêu cầu sau:

+ Quyết định hành chính có hiệu quả cao khi quyết định đó có căn cứ khoa

học, có đầy đủ luận chứng về mặt kinh tế và phù hợp với các quy định của pháp

luật.

+ Khi sử dụng phương pháp hành chính, phải gắn chặt quyền hạn và trách

nhiệm của người ra quyết định, chống việc lạm quyền, nhưng không chịu trách

nhiệm, chống hiện tượng trốn tránh trách nhiệm, không sử dụng đầy đủ những

quyền hạn được phép.

Thực hiện có hiệu quả các quyết định hành chính trong quản lý đầu tư xây

dựng cơ bản là yếu tố rất quan trọng để hiện thực hóa, cụ thể hóa ý chí của nhà quản

lý thành những hoạt động thực tiễn.

Hai là, phương pháp kinh tế

Là phương pháp tác động vào đối tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh

tế, để cho đối tượng bị quản lý lựa chọn phương án có hiệu quả nhất trong phạm vi

hoạt động của mình. Phương pháp kinh tế chính là các phương pháp tác động của

nhà nước thông qua sự vận dụng các phạm trù kinh tế, các đòn bẩy kinh tế, các định

mức kinh tế - kỹ thuật; có thể nói phương pháp kinh tế là phương pháp sử dụng các

quy luật kinh tế.

Đặc điểm của các phương pháp kinh tế là nó tác động lên đối tượng quản lý

khơng bằng cưỡng bức hành chính mà bằng lợi ích kinh tế, cụ thể là chỉ đề ra mục

tiêu, nhiệm vụ cần đạt được, đưa ra những điều kiện khuyến khích về kinh tế, những

phương tiện vật chất có thể sử dụng, để đối tượng quản lý tự tổ chức việc thực hiện.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

c. Đối tượng quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước đối với nhà nước

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×