Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đánh giá hiện trạng tài nguyên đất

Đánh giá hiện trạng tài nguyên đất

Tải bản đầy đủ - 0trang

b. Nhóm kim loại màu:

Mỏ Barit có ở xã Nghi Văn trữ lượng khoảng 1,81 ngàn tấn, sắt có ở xã Nghi

Yên trữ lượng khoảng 841,8 ngàn tấn.

3.1.1.4. Về tài ngun biển

Huyện Nghi Lộc có 14km bờ biển, diện tích khoảng 12.000 km2 mặt biển

tạo nên vùng bãi triều tương đối rộng, tập trung ở 7 xã: Nghi Yên, Nghi Tiến, Nghi

Thái, Nghi Xuân, Nghi Quang, Nghi Thiết, Phúc Thọ.

Biển Nghi Lộc có tiềm năng lớn để phát triển ni trồng các loại thuỷ sản

như tôm, cua và các loại cá có giá trị kinh tế cao, khai thác phục vụ chế biến thuỷ

sản, phát triển du lịch biển.

3.1.1.5. Tiềm năng du lịch

Nghi Lộc có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển, du lịch sinh

thái, lịch sử văn hoá và du lịch nghỉ dưỡng. Bờ biển có nhiều bãi tắm đẹp và hấp

dẫn như bãi Lữ, Bãi Tiền Phong ( Nghi Tiến ), Cửa Hiền, Núi Rồng (Nghi Thiết)

nước và cát sạch, sóng khơng lớn, độ sâu thoải, độ mặn thích hợp và có vị trí thuận

lợi về giao thông, môi trường thiên nhiên trong lành. Hiện tại khu du lịch Bãi Lữ đã

hoàn thành đưa vào khai thác và bước đầu phát huy hiệu quả. Di tích lịch sử văn

hố như Đền thờ Quốc Cơng Nguyễn Xí ( Nghi Hợp ), nhà thờ Phạm Nguyễn Du

( Nghi Xn ) và các di tích văn hố quốc gia khác...

Dọc theo sông Cấm và các xã vùng bán sơn địa như Nghi Quang, Nghi Hưng,

Nghi Lâm, Nghi Mỹ có cảnh quan thiên nhiên phù hợp cho việc phát triển du lịch

sinh thái.

3.1.1.6. Dân số và nguồn nhân lực

a. Dân số

Nghi Lộc là một huyện có dân số đơng, tính đến 31/12/2007 là 225.841

người Cơ cấu theo giới tính gồm nam 111.182 người, chiếm 49,23% và nữ có

114.659 người, chiếm 50,77% tổng dân số.



Sau khi sáp nhập 4 xã Nghi Kim, Nghi Liên, Nghi Ân, Nghi Đức về Thành

phố Vinh, dân số của Nghi Lộc còn lại 196.138 người. Cơ cấu theo giới tính gồm

nam 95.556 người, chiếm 48,7% và nữ 100.582 người, chiếm 51,3% tổng dân số.

Quy mơ dân số giai đoạn 2001-2007 bình qn mỗi năm dân số tăng gần

2000 người, dân số trong độ tuổi lao lao động tăng bình quân hơn 3000 người/năm.

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 1%.

Cơ cấu theo đô thị và nơng thơn gồm dân số thành thị có người 5.395 chiếm

2,7% và khu vực nông thôn người 170.743, chiếm 97,3%.

Mật độ dân số bình qn trong tồn huyện năm 2007 là 570 người/km2. Dân

số phân bố không đều giữa các vùng cụ thể như vùng bán sơn địa mật độ dân số

bình quân của vùng khoảng 380 người/km2.

Chất lượng dân số ngày càng được nâng lên, tuổi thọ bình quân được tăng

dần. Các chỉ số về thể lực như chiều cao, cân nặng có nhiều tiến bộ qua các năm.

b. Lao động và sử dụng lao động.

Dân số trong độ tuổi lao động tính đến 31/12/2007 là 112.800 người, chiếm

57,5% tổng dân số toàn huyện. Nguồn nhân lực tập trung ở khu vực nông thôn, chất

lượng được thể hiện qua trình độ học vấn và đặc biệt là trình độ chun mơn kỹ

thuật hiện tại của huyện đang ở mức thấp.

Tổng số lao động làm việc trong các ngành kinh tế khoảng 94.730 người,

trong đó ngành Nơng - lâm - ngư là 64.550 người, chiếm 68,14%; Công nghiệp xây

dựng là 11.400 người, chiếm 12,03%; Dịch vụ là 18.780 người, chiếm 19,83%.

Lực lượng lao động của huyện khá dồi dào và có nhiều kinh nghiệm trong

lao động sản xuất. Lao động chủ yếu là lao động thuần nơng, trình độ tay nghề thấp,

trình độ chun mơn kỹ thuật cao còn thấp, nên số người thất nghiệp chiếm tỷ lệ

nhỏ nhưng số người thiếu việc làm khá lớn. Tỷ lệ lao động trong độ tuổi qua đào tạo

đạt 40%. Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn là 80,3%.

c. Đánh giá tổng quát về tiềm năng và khả năng phát huy lợi thế vào mục tiêu

phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

*Thuận lợi



- Nằm trong khu vực có hệ thống giao thơng thuận lợi ( đường QL1A, đường sắt Bắc Nam, gần sân bay Vinh và cảng Cửa Lò.

- Diện tích đất tự nhiên rộng, vùng canh tác đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ tương đối lớn,

là điều kiện thuận lợi để chuyển mục đích sử dụng đất sang xây dựng các Khu công

nghiệp, khu đô thị,...

- Cảnh quan thiên nhiên đẹp, phong phú nên có khả năng phát triển đa dạng các loại

hình du lịch như biển, sinh thái, văn hoá,...

- Gần Thành phố Vinh Đô thị loại I - trung tâm kinh tế - văn hoá của vùng Bắc Trung

Bộ, là nơi cung cấp các loại dịch vụ và chuyển giao khoa học, cơng nghệ.

* Khó khăn

- Nằm trong vùng có khí hậu khắc nghiệt chịu ảnh hưởng của gió Lào và các cơn bão

đổ bộ trực tiếp vào Miền trung. Vì vậy, gây rất nhiều khó khăn cho sinh hoạt và phát

triển kinh tế - xã hội.

- Mạng lưới hạ tầng kỹ thuật đã và đang được đầu tư nhưng chưa đồng bộ, lực lượng

lao động dồi dào nhưng chỉ là lao động thuần nông số lao động qua đào tạo chiếm tỷ

lệ còn thấp.

3.1.2. Tình hình kinh tế của tỉnh Nghệ An nói chung và ở huyện Nghi Lộc, tỉnh

Nghệ An

Nghệ An có rất nhiều lợi thế về mặt kinh tế do có vị trí thuận lợi trong giao

thương, bn bán, nhưng do năng lực cạnh tranh của tỉnh đạt thấp (xếp ở vị trí thứ

49/63 tỉnh thành), thu hút đầu tư của tỉnh đạt thấp, hiệu quả đầu tư chưa cao. Mức

tăng trưởng của tỉnh chưa vững chắc, chưa có những dự án lớn mang tính chất đột

phá. Trong các năm trở lại đây tình hình kinh tế trên cả nước diễn ra khơng thuận

lợi: lạm phát, suy thối; thời tiết, dịch bệnh... diễn biến phức tạp.



Bảng 3.2: Tổng giá trị sản phẩm trong tỉnh theo giá thực tế

Đơn vị tính: tỷ đồng.



Chỉ

tiêu



Giá trị

tổng sản

phẩm



Nơng, lâm



Cơng nghiệp



nghiệp, thủy sản



Xây dựng



Dịch vụ



Giá trị Tỷ lệ % Giá trị Tỷ lệ % Giá trị Tỷ lệ %



Thuế nhập

khẩu

Giá

trị



Tỷ lệ %



2011



84748 24.543



28,96 25.331



29,89 33.518



39,55 1.356



1,60



2012



94150 28.405



30,17 30.533



32,43 34.092



36,21 1.120



1,19



2013



100201 28.086



28,03 31.924



31,86 39.199



39,12



992



0,99



2014



106998 26.837



25,08 32.388



30,27 46.501



43,46 1.273



1,19



Nguồn: Niên giám thống kê năm 2014 - Cục thống kê Nghệ An

Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của tỉnh trong 4 năm đạt 8,34%. Thu

nhập bình quân đầu người năm 2014 đạt 18,859 triệu đồng/người/năm. Cơ cấu kinh

tế có bước chuyển dịch theo hướng tích cực, nhưng chưa đạt được như mong muốn:

Nông, lâm nghiệp và thủy sản:

Chịu ảnh hưởng rất lớn của thiên tai, dịch bệnh, nhưng vẫn có bước phát

triển khá, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nông, lâm, ngư nghiệp bình qn

4 năm đạt 3,39%;

Cơng nghiệp và xây dựng:

Tập trung đầu tư phát triển các ngành cơng nghiệp có lợi thế như công

nghiệp chế biến nông - lâm - thuỷ sản và đồ uống, cơng nghiệp chế biến khống sản

và sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp điện, dệt may... xây dựng các khu công

nghiệp, cụm công nghiệp vừa và nhỏ; xây dựng.

Dịch vụ:

Phát triển nhanh, đa dạng, rộng khắp trên các lĩnh vực, vùng miền, một số

ngành có tốc độ phát triển cao. Giá trị sản xuất dịch vụ tăng khá nhanh. Giá trị kim

ngạch xuất khẩu trên địa bàn tăng bình quân hàng năm trên 19%. Số lượng khách

du lịch tăng bình quân 16%/năm.

Nền kinh tế của tỉnh có mức tăng trưởng khá, tốc độ tăng trưởng GDP phát



triển qua các thời kì. Cơ cấu kinh tế trong thời gian qua đã có sự chuyển dịch theo

hướng giảm dần tỉ trọng của khu vực nông - lâm - ngư nghiệp, tăng dần tỉ trọng khu

vực dịch vụ. Tuy nhiên sự chuyển dịch này còn chậm, cơ sở vật chất kĩ thuật còn

lạc hậu.

3.1.3. Tình hình quy hoạch xây dựng

Ngày 28/12/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số

197/2007/QĐ.TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Nghệ

An đến năm 2020. Trên cơ sở quy hoạch của tỉnh, UBND các huyện, thị xã và thành

phố Vinh đã lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội địa phương mình.

Trong các quyết định phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, đã thể

hiện rõ quy hoạch về xây dựng, kiến trúc và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng.

Về kiến trúc đô thị: Tất cả các đơ thị đều được lập quy hoạch, hình thành bộ

mặt kiến trúc, góp phần tạo nên hình ảnh đơ thị hiện đại, văn minh, xứng với tầm

vóc của thời kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ, tơn tạo, giữ gìn các di tích

lịch sử, văn hóa và các cơng trình kiến trúc có giá trị, đồng thời phát triển nền văn

hóa kiến trúc đơ thị mới, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc.

Về cung cấp năng lượng: xây dựng chiến lược nguồn cấp năng lượng bao

gồm các nhà máy thủy điện và các nguồn năng lượng khác, đáp ứng yêu cầu phục

vụ ổn định cho sản xuất, sinh hoạt tại các đô thị, đặc biệt là cho vùng kinh tế trọng

điểm. Chỉ tiêu cấp điện sinh hoạt tại thành phố Vinh là 800 KW/người/năm, tại các

thị xã là 600 KW/người/năm, các đô thị nhỏ là 250 KW/người/năm.

Về giao thông: Chủ trương quy hoạch xây dựng và hiện đại hóa cơ sở hạ

tầng giao thơng vận tải của tỉnh và các vùng kinh tế trọng điểm, liên kết giữa các đô

thị với nhau.

Nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông vận tải tại các đô thị, các vùng và địa

phương, tạo điều kiện đơ thị hóa các vùng nơng thơn và điều hòa q trình tăng

trưởng các đô thị lớn.

Tăng cường đầu tư phát triển giao thông công cộng: đối với thành phố Vinh

– Nghi Lộc, Nghi Lộc – Cửa Lò, ... tỷ lệ giao thơng công cộng phải đạt từ 25%-



35% vào năm 2020.

Cấp nước: xây dựng chiến lược về nguồn cung cấp nước cho các đô thị và

nông thôn, 90% dân số nông thôn được cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh.

Cấp nước tưới cho 15.550 ha, trong đó tưới cho lúa nước 10.971 ha (đạt

100% diện tích quy hoạch), tưới màu 4600 ha (đạt 80% diện tích canh tác ổn định);

ni trồng thủy sản 3.700 ha; tiêu nước cho 21.354 ha vùng thấp.

3.1.4. Đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước ở huyện Nghi Lộc, tỉnh

Nghệ An

3.1.4.1. Về phân cấp quản lý đầu tư

UBND huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An được phân cấp quyết định và quản lý

đầu tư chủ yếu các dự án, cơng trình có quy mơ, giá trị nhỏ và vừa (nhóm C, B).

Theo Quyết định số 109/2009/QĐ/UBND ngày 09/12/2009 của UBND tỉnh Nghệ An

về việc quy định quản lý đầu tư, xây dựng cơng trình và đấu thầu trên địa bàn tỉnh

Nghệ An việc phân cấp trong công tác quản lý đầu tư của cấp huyện được thực hiện

như sau:

+ Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định chủ trương lập dự án sử dụng vốn

ngân sách huyện; được Chủ tịch UBND tỉnh uỷ quyền quyết định chủ trương lập

các dự án đầu tư phù hợp các quy hoạch đã được UBND tỉnh phê duyệt và phân bổ

hạn mức vốn ngân sách tỉnh hỗ trợ theo chính sách hiện hành trong kế hoạch hàng

năm (giao thơng nơng thơn, kiên cố hố kênh mương, trường học, trạm y tế, …)

trên địa bàn huyện;

+ Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định đầu tư các dự án nhóm B và C sử

dụng vốn ngân sách cấp huyện trong phạm vi và khả năng cân đối ngân sách huyện;

Ngoài ra, đối với các dự án sử dụng nguồn vốn từ ngân sách tỉnh đầu tư hoặc

hỗ trợ trực tiếp, Chủ tịch UBND tỉnh ủy quyền cho Chủ tịch UBND thành phố Vinh

và quyết định đầu tư có mức vốn < 7 tỷ đồng; Chủ tịch UBND thị xã Cửa Lò quyết

định đầu tư có mức vốn <5 tỷ đồng và chủ tịch UBND các huyện, thị xã còn lại

quyết định đầu tư có mức vốn <3 tỷ đồng.



Việc thực hiện tốt phân cấp quản lý đầu tư và xây dựng đã giành quyền tự quyết

và tự chịu trách nhiệm cho các cấp ở cơ sở. Tạo điều kiện cho cấp huyện, cấp xã chủ

động quyết định đầu tư các dự án. Nâng cao trách nhiệm của các cấp trong quản lý

đầu tư và xây dựng.

Tuy nhiên việc phân cấp đồng loạt, đại trà cho chính quyền cấp dưới bất chấp

sự khác nhau về quy mơ, khơng gian tài khóa, nguồn lực, năng lực... của từng địa

phương làm hạn chế hiệu quả của chính sách phân cấp, đưa đến hiện tượng cấp dưới

ln cảm thấy bị gò bó và cấp trên ln ở trong trạng thái q tải và khơng kiểm

sốt được. Mơ hình phân cấp hiệu quả sẽ điều chỉnh mức độ tự quyết của từng địa

phương sao cho phù hợp nhất với năng lực của họ.



Chủ tịch

UBND

tỉnh

Sở KH-ĐT



Các cơ quan quản lý chuyên ngành



(1)

Chủ tịch

UBND

huyện



Chủ đầu tư



(2)

Phòng TC-KH



Chủ tịch UBND xã



Các phòng

chức năng



(3)

Bộ phận tài chính xã, phường



: Chỉ đạo trực tiếp

: Trình duyệt

: Quan hệ phối hợp



Hình 3.2 Phân cấp quyết định đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà

nước ở Nghệ An

(Nguồn: tác giả tổng hợp)



(1): Các dự án Nhóm A, Nhóm B và C thuộc ngân sách tỉnh và Thủ tướng

Chính phủ ủy quyền;

(2): Các dự án Nhóm B, C thuộc ngân sách cấp huyện và Chủ tịch UBND

tỉnh ủy quyền;

(3): Các dự án thuộc ngân sách cấp xã và huy động đóng góp của nhân dân.

Trong thời gian qua, UBND tỉnh Nghệ An đã phân cấp giao UBND cấp

huyện trực tiếp quản lý từ nguồn vốn ngân sách tập trung (ngân sách địa phương)

khoảng từ 65 - 70% tổng giá trị đầu tư trên địa bàn.

Bảng 3.3 Tổng hợp giá trị đầu tư trên địa bàn do cấp huyện quản lý

(nguồn ngân sách nhà nước đầu tư tập trung)

Đơn vị tính: triệu đồng

Tổng giá trị đầu



Cấp huyện







quản lý



2011



1.175.210



868.757



72,92



2012



1.299.124



897.577



69,09



2013



1.404.644



1.011743



73,03



2014



1.822.365



1.169.951



63,81



Năm



Tỷ lệ (%)



Nguồn: Sở Kế hoạch và đầu tư Nghệ An

3.1.4.2. Kết quả đầu tư xây dựng cơ bản

Đầu tư xây dựng cơ bản trong những năm qua đã làm thay đổi kết cấu hạ

tầng kinh tế- xã hội của tỉnh Nghệ An nói chung và ở huyện Nghi Lộc nói riêng. Cụ

thể:

Về giao thơng: đã và đang thực hiện đầu tư, thi công một số tuyến đường

trong điểm và 19 tuyến vào các xã chưa có đường ơ tơ vào trung tâm. Tiếp tục nâng

cấp và làm mới hơn 500 km tỉnh lộ. Huy động sức dân cùng nhiều nguồn vốn xây

dựng được 1.245 km đường nhựa và 1.580 km đường bê tông.

Về thuỷ lợi: nhiều cơng trình thuỷ lợi lớn được đầu tư xây dựng và cải tạo,

nâng cấp các cụm hồ đập lớn Kiên cố hoá 4.420 km kênh mương, đưa tổng diện tích



tưới lên 225.000 ha, trong đó diện tích tưới ổn định 175.000 ha.

Về nước sạch: xây dựng 10 nhà máy nước ở các huyện. Xây dựng các hệ

thống nước sạch ở các huyện miền núi; Tỷ lệ số dân nông thôn được dùng nước hợp

vệ sinh chiếm hơn 85%; trong đó, các huyện miền núi hơn 78%.

Về điện: tập trung đầu tư xây dựng một số cơng trình lớn, như trạm 110 KV

Thanh Chương, Diễn Châu, cải tạo lưới điện Thành phố Vinh, xây dựng thêm 78

cơng trình, trong đó đưa điện về xã 16 cơng trình, 642 km đường dây hạ thế và trạm

biến áp... Đến nay có 21/21 huyện, thành, thị và 460 xã có điện lưới quốc gia.

Các cơng trình văn hố, xã hội: đang được triển khai xây dựng hoặc đang lập

thủ tục triển khai, như: Xây mới và kiên cố hố trên 5.000 phòng học, nâng cấp 24

bệnh viện tuyến tỉnh huyện, hệ thống trụ sở làm việc từ cấp tỉnh đến cấp xã, các

cơng trình quốc phòng – an ninh được củng cố... .

Những cơng trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội đã góp phần đẩy nhanh tốc độ

tăng trưởng kinh tế của tỉnh, thu nhập bình quân đầu người được tăng lên, đời sống

nhân dân ngày càng được cải thiện cả về vật chất và tinh thần.

3.2. Thực trạng quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước trên địa

bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An những năm qua

3.2.1. Thực trạng công cụ quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà

nước trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

3.2.1.1. Hệ thống văn bản pháp luật

Thứ nhất, về áp dụng văn bản pháp luật trong quá trình quản lý đầu tư xây

dựng cơ bản

Các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản đã được phổ biến rộng rãi

trên địa bàn tỉnh, tuy vậy, việc áp dụng trên địa bàn huyện Nghi Lộc và các xã trong

huyện còn chưa thực sự nghiêm túc như: đầu tư sai quy hoạch, quyết định đầu tư

không dựa vào nguồn vốn, áp dụng định mức, đơn giá xây dựng cơ bản còn chưa

chính xác, không tuân thủ các quy định về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản như:

khơng có báo cáo kết quả đầu tư, các hồ sơ hồn cơng của cơng trình đều được hợp

lý hóa sau khi thi cơng xong, trong khi yêu cầu phải thực hiện ngay trong q trình



đầu tư như: Nhật ký thi cơng, giám sát...

Thứ hai, về chất lượng văn bản quy phạm pháp luật

Chất lượng các văn bản quản lý còn thấp, trong quá trình áp dụng văn bản để

thực hiện còn nhiều bất cập, đa nghĩa dẫn đến việc áp dụng để quản lý gặp khó

khăn, kể cả văn bản có tính quy phạm pháp luật cao như Nghị định số 58/2008/NĐCP ngày 05/5/2008 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn

nhà thầu theo Luật Xây dựng đã đưa cả chi phí dự phòng 10% vào giá gói thầu để

xét thầu, làm thất thoát vốn ngân sách nhà nước.

Ban hành văn bản chậm; thiếu đồng bộ, chặt chẽ; không theo kịp các chủ

trương của Trung ương, của Tỉnh và tình hình thực tế tại địa phương: Quyết định số

109/2009/QĐ-UBND ngày 09/12/2009 của UBND tỉnh Nghệ An quy định về quản

lý đầu tư xây dựng cơng trình và đấu thầu trên địa bàn tỉnh Nghệ An có một số điểm

khơng còn phù hợp với Chỉ thị 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính

phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước, nhưng chưa được sửa

đổi, bổ sung. Từ đó, huyện Nghi Lộc vừa phải thực hiện theo quy định của tỉnh, vừa

phải thực hiện theo quy định của Trung ương, gây khó khăn cho công tác quản lý.

3.2.1.2. Quy hoạch, kế hoạch xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

Thứ nhất, về công tác quy hoạch, kế hoạch

Việc quản lý quy hoạch xây dựng được thực hiện theo Quyết định số

28/2013/QĐ-UBND ngày 20/5/2013 của UBND tỉnh Nghệ An về quy định chi tiết

việc phân công, phân cấp cho UBND các huyện, thành phố, thị xã quản lý quy

hoạch vùng, quy hoạch chung đô thị và quy hoạch phân khu, quy hoạch xây dựng tỷ

lệ 1/2.000, 1/5.000 trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Lập, thẩm định và phê duyệt quy

hoạch tuân thủ đúng các thủ tục theo quy định pháp luật, có chất lượng, phù hợp với

tình hình thực tế. Các Chủ đầu tư trên địa bàn huyện đã bám vào quy hoạch đã được

phê duyệt để quyết định đầu tư.



Xây dựng kế hoạch đầu tư trên cơ sở quy hoạch, các quy định của pháp luật,

các văn bản chỉ đạo của cấp trên và thực tế tại địa phương. Về cơ bản việc thực hiện

kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản của huyện đảm bảo cơ cấu đầu tư và đúng mục

tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Tuy nhiên, tại huyện Nghi Lộc, quy hoạch sau khi được duyệt chưa công bố,

công khai kịp thời trên các phương tiện truyền thông theo quy định. Việc xây dựng

kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm: chưa làm tốt công tác dự báo, xác định

chính xác quy mơ đầu tư, cũng như phương án huy động nguồn vốn, nên kế hoạch

hàng năm đều phải điều chỉnh .

- Việc xây dựng kế hoạch vốn chưa sát đúng với thực tế; vì vậy, tỷ lệ thực hiện

kế hoạch còn thấp; một số dự án, cơng trình được lập kế hoạch, nhưng khơng huy

động được nguồn vốn để thực hiện. Việc triển khai thực hiện đầu tư của một số dự án

còn chậm và thực hiện kéo dài, dẫn đến tăng giá trị cơng trình. Chất lượng hồ sơ trình

thẩm định, phê duyệt chưa cao, nên phải chỉnh sửa mất nhiều thời gian.

Bảng 3.4. Tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân

sách

Huyện Nghi Lộc

Năm



Giá trị



tỷ lệ % so kế hoạch



thực hiện

2011



223.001



79,03



2012



251.786



81,20



2013



199.567



77,89



2014



211.234



78,22

Nguồn: Chi cục thống kê huyện Nghi Lộc



Thứ hai, xác định danh mục các dự án đầu tư

Công tác chuẩn bị, xác định danh mục đầu tư tập trung vào các dự án trọng

điểm, cần thiết. Chỉ được quyết định đầu tư khi đã xác định rõ nguồn vốn và khả

năng cân đối vốn ở từng cấp ngân sách, phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt.

Tuy vậy, vẫn còn nhiều trường hợp quyết định đầu tư sai quy hoạch hoặc không cân



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đánh giá hiện trạng tài nguyên đất

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×