Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ VỐN NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ VỐN NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

Tải bản đầy đủ - 0trang

bay Vinh; tỉnh lộ 534 ( dài 28km ); tỉnh lộ 535 ( dài 12km ). Với chiều dài 14 km bờ

biển, có 2 con sơng lớn chảy qua địa bàn là Sông Cấm ( dài 15km ) và Sông Lam

( dài 6km ). Cùng với hệ thống đường liên huyện, liên xã, liên thơn cơ bản đã được

nhựa hố và bê tơng hố tạo thành mạng lưới giao thơng của huyện khá hồn chỉnh.

Thuận lợi cho việc lưu thơng giữa huyện với Thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò và các

huyện trong tỉnh. Là huyện có vị trí quan trọng trong cơng tác đảm bảo an ninh

quốc phòng.

Liền kề với Thành phố Vinh - Đô thị loại I. Trung tâm kinh tế, văn hoá của

vùng Bắc Trung Bộ ( Quyết định số 239/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ).

Đồng thời là nơi cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ và có vị trí tương tác

quan trọng.

Huyện có hệ thống giao thông thuận lợi gần sân bay Vinh, Ga Vinh, cảng

Cửa Lò, có đường quốc lộ 1A, đường sắt đi qua, các tuyến giao thông tỉnh lộ đi các

địa phương phụ cận rất thuận lợi trong việc giao thương phát triển kinh tế. Đặc biệt

huyện có 10 xã nằm trong Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An - Khu kinh tế được ưu

đãi đầu tư đặc biệt theo Quyết định số 85/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ,

thuận lợi trong việc thu hút, vận động đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công

ăn việc làm cho người lao động.

Với vị trí thuận lợi Nghi Lộc có thể khai thác các lợi thế trong chiến lược

phát triển kinh tế - xã hội theo hướng cơng nghiệp hố và hiện đại hố và hồ nhập

với xu thế phát triển của tỉnh và khu vực.

3.1.1.1. Về khí hậu

Nghi Lộc thuộc vùng khí hậu có những đặc điểm chung của khí hậu miền

Trung nhiệt đới ẩm và gió mùa.

Chế độ nhiệt: Có 2 mùa rõ rệt, mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9, nhiệt độ

trung bình từ 23,5 - 34,5oC. Mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ

trung bình từ 19,5 - 20,5 oC.



Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.900mm, lớn nhất khoảng

2.600mm và nhỏ nhất 1.100mm. Lượng mưa phân bổ không đều mà tập trung chủ

yếu vào nửa cuối tháng 8 đến tháng 10, lượng mưa thấp nhất từ tháng 1 đến tháng 4.

Chế độ gió, bão: Có 2 hướng gió chính gồm: Gió mùa Đơng Bắc từ tháng 11

đến tháng 4 năm sau; Gió Đơng Nam từ tháng 5 đến tháng 10 ( tháng 6 và tháng 7

thường có gió Lào khơ nóng ).

Các hiện tượng thời tiết bất thường như bão, lũ trung bình mỗi năm chịu 3

cơn bão, thường tập trung vào các tháng 8,9 và tháng 10. Bão thường kéo theo mưa

lớn gây lũ lụt, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và kinh tế.

3.1.1.2. Về địa hình

Nghi Lộc là huyện đồng bằng ven biển, địa hình đa dạng, có hướng thấp dần

từ Tây sang đơng và có thể chia thành 2 vùng lớn.

Vùng bán sơn địa: Phía Tây và Tây Bắc của huyện có nhiều đồi núi cao, địa

hình có độ dốc chênh lệch nhiều do chia cắt bởi những khe suối; tại những khu vực

này có những vùng đồng bằng phù sa xen kẽ tương đối rộng.

Vùng đồng màu: Khu vực trung tâm và phía Đơng, Đơng Nam của huyện có

địa hình tương đối bằng phẳng, chỉ có ít đồi núi thấp xen kẽ độc lập. Đây là vùng có

địa hình thấp nguồn nước dồi dào là vùng trọng điểm Lúa của huyện.

3.1.1.3. Tài nguyên đất

Theo điều tra thổ nhưỡng tài nguyên đất của Nghi Lộc có các loại chính sau:

- Đất phù sa cũ có nhiều sản phẩm Feralit:

Tập trung hầu hết các xã vùng Lúa, đất có nguồn gốc từ phù sa hệ thống

Sơng Lam có diện tích khoảng 6.540ha chiếm 18,81% tổng diện tích. Đất có các

chất dinh dưỡng trung bình đến nghèo. Địa hình tương đối bằng phẳng là loại đất

trồng Lúa quan trọng của huyện.

- Đất Feralit biến đổi do trồng Lúa:

Phân bố ở các xã Nghi Kiều, Nghi Văn, Nghi Đồng, có diện tích 2.629ha

chiếm 7,56% tổng diện tích. Q trình feralit tầng mặt đã bị hạn chế, tính chất đất

thay đổi, đất được sử dụng để trồng Lúa tương đối ổn định.



- Đất dốc tụ:

Có diện tích khoảng 235ha, chỉ chiếm 0,68% tổng diện tích, nằm rải rác ở

các xã Nghi Công Bắc, Nghi Công Nam, Nghi Kiều. Đất do sản phẩm của dốc tụ

tạo thành, thường được sử dụng để trồng hoa màu như: Lạc, đậu, vừng, khoai, sắn

hoặc trồng cây lâm nghiệp.

- Đất Feralit vàng đỏ vùng đồi:

Có ở các xã vùng bán sơn địa như Nghi Công Bắc, Nghi Công Nam, Nghi

Văn, Nghi Kiều, Nghi Mỹ, Nghi Đồng. Có diện tích khoảng 3.852ha chiếm 11,08%

tổng diện tích. Đây là loại đất quan trọng của huyện dùng để làm vườn, trồng cây ăn

quả, cây lâm nghiệp khá tốt.

- Đất Feralit xói mòn:

Phân bố ở các vùng núi cao, nhiều nhất là vùng bán sơn địa, có diện tích

khoảng 7.177,32 ha chiếm 20,64% tổng diện tích. Hiện tại phần lớn đã được trồng

rừng để bảo vệ đất và bảo vệ môi trường.

- Đất mặn:

Phân bố ở vùng hạ lưu Sông Cấm thuộc các xã Nghi Phương, Nghi Đồng,

Nghi Thuận, Nghi Hoa, Nghi Long, Nghi Xá, Nghi Tiến, Nghi Thiết, Nghi Quang

và rải rác ở một số xã ven biển bị ảnh hưởng của nước mặn thuỷ triều, loại đất này

có diện tích 977,59 ha chiếm 2,87% tổng diện tích. Sau khi xây dựng đập Nghi

Quang ngăn mặn giữ ngọt nên một số diện tích đã cải tạo để trồng Lúa và nuôi

trồng thuỷ sản.

- Đất phù sa không được bồi:

Có ở các xã vùng Lúa dọc theo hai bên Sơng nhà Lê, Sơng Cấm diện tích có

khoảng 3.371,33ha chiếm 9,7% tổng diện tích.

- Đất cát cũ ven biển:

Phân bố hầu hết ở các xã vùng màu, diện tích khoảng 5.911,24 ha chiếm

17,0% tổng diện tích. Đây là loại đất có diện tích lớn nhất của huyện, đất có thành

phần là cát pha, hàm lượng sét thấp. Phù hợp cho các loại rau màu và cây công

nghiệp ngắn ngày.



- Đất cồn cát:

Có ở tất cả các xã ven biển như Nghi Thịnh, Nghi Xá, Nghi Trường, Nghi

Thạch, Nghi Ân, Nghi Xuân, Nghi Phong, Nghi Thái, Phúc Thọ,... diện tích khoảng

1.376,19 ha chiếm 3,96% tổng diện tích. Đây là loại đất được dùng để trồng cây

chắn gió, chắn cát và trồng một số cây chịu hạn như: Lạc, đậu, vừng,...

Theo kết quả kiểm kê diện tích đất theo đơn vị hành chính tại thời điểm

01.01.2008 sau khi trừ 4 xã sáp nhập về Thành phố Vinh cụ thể như sau:

Bảng 3.1. Cơ cấu sử dụng đất của huyện Nghi Lộc



Tổng



TT



Mục đích sử dụng đất



diện tích



Tổng



Tổng



các loại



diện tích diện tích



đất



các loại



các loại



nguyên



đất 4 xã



đất 30 xã,



trạng 34



về TP



Thị trấn



xã, thị



Vinh



sau sáp



trấn



(ha)



nhập (ha)



Chiếm

tỷ lệ

%



(ha)

1



Tổng diện tích tự nhiên



37.883,74 3.116,72 34.767,02 100,00



Đất nơng nghiệp



25.874,68 1.917,83 23.956,85 68,91



1.1 Đất sản xuất nông nghiệp



16.102,35 1.877,93 14.224,42



1.2 Đất lâm nghiệp



9.265,52



1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản



483,01



1.4 Đất nông nghiệp khác



23,80



2



8.293,79



908,02



7.385,77



2.1 Đất ở



1.398,04



181,82



1.216,22



2.2 Đất chuyên dùng



4.207,77



643,42



3.564,35



2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng



52,47



0,71



51,76



Đất phi nơng nghiệp



9.265,52

39,90



443,11

23,80

21,24



2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa

2.5



Đất sông suối và mặt nước

chuyên dùng



650,09



74,79



575,30



1.982,95



7,28



1.975,67



2.6 Đất phi nông nghiệp khác



2,47



2,47



3



Đất chưa sử dụng



3.715,27



290,87



3.424,40



3.1 Đất bằng chưa sử dụng



1.672,75



290,87



1.381,88



3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng



1.340,84



1.340,84



3.3 Núi đá khơng có rừng cây



701,68



701,68



9,85



(nguồn: tác giả tổng hợp)

Đánh giá hiện trạng tài ngun đất

- Thuận lợi: Nghi Lộc có diện tích đất tự nhiên rộng, vùng canh tác đất nông nghiệp

chiếm tỷ lệ tương đối lớn, là điều kiện thuận lợi để chuyển đổi sang các mục tiêu xây

dựng các Khu công nghiệp và đơ thị,... phục vụ việc hình thành các khu kinh tế tổng

hợp.

- Khó khăn: Nghi Lộc chủ yếu là đất trồng lúa và trồng màu nên việc chuyển đổi để

xây dựng Khu công nghiệp, đô thị,... Dân cư phân bổ rải rác thiếu tập trung, nên việc

thu hồi đất sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đời sồng của nhân dân.

3.1.1.4. Về tài ngun khống sản

Nghi Lộc khơng nhiều về tài ngun khống sản, ít chủng loại, chủ yếu chỉ

có nhóm làm vật liệu xây dựng và một ít kim loại màu.

a. Nhóm sản xuất vật liệu xây dựng

Đất sét, cao lanh ở xã Nghi Văn được phát hiện thêm năm 2006, có trữ lượng

khoảng 1,750 triệu m3; đá xây dựng có ở các xã Nghi Yên, Nghi Lâm, Nghi Tiến,

Nghi Thiết, Nghi Vạn,... Với trữ lượng tuy không lớn nhưng cơ bản đáp ứng được

nhu cầu xây dựng trên địa bàn của huyện và cung cấp cho các vùng phụ cận.



b. Nhóm kim loại màu:

Mỏ Barit có ở xã Nghi Văn trữ lượng khoảng 1,81 ngàn tấn, sắt có ở xã Nghi

Yên trữ lượng khoảng 841,8 ngàn tấn.

3.1.1.4. Về tài nguyên biển

Huyện Nghi Lộc có 14km bờ biển, diện tích khoảng 12.000 km2 mặt biển

tạo nên vùng bãi triều tương đối rộng, tập trung ở 7 xã: Nghi Yên, Nghi Tiến, Nghi

Thái, Nghi Xuân, Nghi Quang, Nghi Thiết, Phúc Thọ.

Biển Nghi Lộc có tiềm năng lớn để phát triển nuôi trồng các loại thuỷ sản

như tôm, cua và các loại cá có giá trị kinh tế cao, khai thác phục vụ chế biến thuỷ

sản, phát triển du lịch biển.

3.1.1.5. Tiềm năng du lịch

Nghi Lộc có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển, du lịch sinh

thái, lịch sử văn hoá và du lịch nghỉ dưỡng. Bờ biển có nhiều bãi tắm đẹp và hấp

dẫn như bãi Lữ, Bãi Tiền Phong ( Nghi Tiến ), Cửa Hiền, Núi Rồng (Nghi Thiết)

nước và cát sạch, sóng khơng lớn, độ sâu thoải, độ mặn thích hợp và có vị trí thuận

lợi về giao thơng, mơi trường thiên nhiên trong lành. Hiện tại khu du lịch Bãi Lữ đã

hoàn thành đưa vào khai thác và bước đầu phát huy hiệu quả. Di tích lịch sử văn

hố như Đền thờ Quốc Cơng Nguyễn Xí ( Nghi Hợp ), nhà thờ Phạm Nguyễn Du

( Nghi Xuân ) và các di tích văn hố quốc gia khác...

Dọc theo sơng Cấm và các xã vùng bán sơn địa như Nghi Quang, Nghi Hưng,

Nghi Lâm, Nghi Mỹ có cảnh quan thiên nhiên phù hợp cho việc phát triển du lịch

sinh thái.

3.1.1.6. Dân số và nguồn nhân lực

a. Dân số

Nghi Lộc là một huyện có dân số đơng, tính đến 31/12/2007 là 225.841

người Cơ cấu theo giới tính gồm nam 111.182 người, chiếm 49,23% và nữ có

114.659 người, chiếm 50,77% tổng dân số.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ VỐN NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×