Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QLNN ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ XDCB TỪ NSNN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QLNN ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ XDCB TỪ NSNN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

Tải bản đầy đủ - 0trang

số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư

xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước. Luận văn đã phân tích các nội dung

quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng cơng trình ở khía cạnh cơng cụ

pháp luật, và cơng tác thanh tra, kiểm tra công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ

bản từ vốn ngân sách nhà nước.

- Luận văn thạc sĩ kinh tế của Trần Chí Hiền: “Vai trò của nhà nước đối với đầu tư xây

dựng cơ bản từ vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh Nam Định” (2010).

Luận văn đã nêu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác

quản lý nhà nước đối hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách; Đề tài đã

phân tích và đánh giá thực trạng vai trò nhà nước đối với cơng tác đầu tư xây dựng

cơ bản, qua đó đưa ra một số giải pháp với mục đích tăng cường hơn nữa vai trò

quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản ngân sách.

Qua tìm hiểu và nghiên cứu các luận văn nói trên, thấy rằng: các luận văn

đều đã đề cập đến cơ sở lý luận công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản và một số

nội dung về công tác quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân

sách ở cấp tỉnh. Tuy nhiên, các luận văn nói trên chưa đề cập đến phạm vi quản lý

nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước ở cấp

huyện; chưa nghiên cứu sâu về các nội dung của công tác quản lý nhà nước, chưa

phân tích được cụ thể vai trò của quy trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn

ngân sách trong quá trình đầu tư, từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư đến

giai đoạn kết thúc đầu tư; chưa phân tích một số công cụ quan trọng trong công tác

quản lý đầu tư xây dựng cơ bản như: hồ sơ khảo sát, thiết kế kỹ thuật thi công; chưa

đi sâu phân tích và đánh giá thực trạng để từ đó đưa ra giải pháp nhằm tăng cường

vai trò cơng tác thanh tra, kiểm tra, kiểm định, giám sát hoạt động đầu tư xây dựng

cơ bản từ vốn ngân sách. Vì vậy, đề tài này vẫn có tính cấp thiết cả về lý luận và thực

tiễn, đặc biệt là đối với địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

1.2. Những vấn đề lí luận về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà

nước

1.2.1. Khái niệm về đầu tư và đầu tư xây dựng cơ bản



Đầu tư theo nghĩa rộng có nghĩa là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để

tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đem lại cho nhà đầu tư các kết quả nhất định

trong tương lai, mà kết quả này thường phải lớn hơn các chi phí về các nguồn lực đã

bỏ ra. Nguồn lực bỏ ra có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản vật chất

hay sức lao động.

Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực

ở hiện tại nhằm đem lại cho nhà đầu tư hoặc xã hội kết quả trong tương lai lớn hơn

các nguồn lực đã sử dụng để đạt được kết quả đó.

Từ đó, khái niệm về đầu tư như sau: Đầu tư là sự bỏ ra, sự hy sinh những

nguồn lực ở hiện tại (tiền, sức lao động, của cải vật chất, tài nguyên, trí tuệ ...)

nhằm đạt được những kết quả có lợi cho chủ đầu tư hoặc xã hội trong tương lai.

Xây dựng cơ bản là hoạt động cụ thể với chức năng tạo ra các tài sản cố định

(khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị…) thơng qua các hình thức

xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hố hoặc khôi phục, sửa chữa các tài sản cố định.

Kết quả của các hoạt động xây dựng cơ bản là các tài sản cố định, với năng lực sản

xuất phục vụ nhất định.

Đầu tư xây dựng cơ bản là những hoạt động đầu tư, với chức năng tạo ra

TSCĐ cho nền kinh tế thơng qua các hình thức xây dựng mới, mở rộng, hiện đại

hố hoặc sửa chữa, khơi phục các TSCĐ.

Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu

tư phát triển. Đây chính là q trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ

bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các TSCĐ trong nền kinh

tế. Do vậy, đầu tư xây dựng cơ bản là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển

kinh tế - xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói

riêng. Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động chủ yếu tạo ra TSCĐ đưa vào hoạt động

trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhằm thu đựơc lợi ích với nhiều hình thức khác

nhau. Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân được thơng qua nhiều

hình thức: xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hố hay khơi phục TSCĐ.



1.2.2. Đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước: Khái niệm, vai trò và đặc

điểm

1.2.2.1. Khái niệm



Đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước là q trình nhà nước bỏ

vốn từ ngân sách (tồn bộ hoặc một phần giá trị đầu tư) để tiến hành các hoạt động

xây dựng cơ bản, nhằm tạo ra tài sản cố định, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, để

nhằm phát triển kinh tế, xã hội (thông qua các hình thức xây dựng mới, mở rộng,

hiện đại hố hoặc khơi phục các tài sản cố định).



1.2.2.2. Vai trò của đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước đối với phát

triển kinh tế, xã hội

Đầu tư xây dựng cơ bản có vao trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của

tất cả các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam. Hoạt

động đầu tư xây dựng cơ bản có vai trò quan trọng trong việc thực hiện thành công

chiến lược phát triển kinh tế - xã hội theo hướng cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa,

nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả nhất các tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn

và các nguồn lực khác trong xã hội.

Đầu tư xây dựng cơ bản trước hết là hoạt động đầu tư nên có những vai trò

chung của hoạt động đầu tư như: tác động đến tổng cung và tổng cầu, tác động đến

sự ổn định, tăng trưởng và phát triển kinh tế, tăng cường khả năng phát triển khoa

học và cơng nghệ. Bên cạnh đó, đầu tư xây dựng cơ bản có tính chất đặc thù riêng,

là điều kiện trước tiên và cần thiết cho phát triển nền kinh tế, có vai trò ảnh hưởng

riêng đối với nền kinh tế và với từng cơ sở sản xuất kinh doanh.

Thứ nhất, đầu tư xây dựng cơ bản tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh

tế

Khi tăng cường đầu tư xây dựng cơ bản, cơ sở vật chất kỹ thuật của các

ngành tăng, sẽ làm sức sản xuất vật chất và dịch vụ của các ngành phát triển, hình

thành những ngành mới để phục vụ nền kinh tế quốc dân. Như vậy, đầu tư xây dựng

cơ bản đã làm thay đổi cơ cấu và quy mô phát triển của ngành kinh tế, từ đó nâng

cao năng lực sản xuất của toàn bộ nền kinh tế. Đây là điều kiện tăng nhanh giá trị



sản xuất và tổng giá trị sản phẩm trong nước, tăng tích luỹ, đồng thời nâng cao đời

sống vật chất tinh thần của người lao động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cơ bản về

chính trị, kinh tế, xã hội .

Đầu tư xây dựng cơ bản tác động đến sự phát triển của ngành, lãnh thổ,

thành phần kinh tế. Chính sách đầu tư ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế

và đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Do vậy, các ngành, các địa phương

trong nền kinh tế cần phải lập kế hoạch đầu tư dài hạn để phát triển ngành, vùng

đảm bảo sự phát triển cân đối; đồng thời, có kế hoạch ngắn hạn và trung hạn, nhằm

phát triển từng bước và điều chỉnh cho phù hợp với các mục tiêu đặt ra.

Thứ hai, đầu tư xây dựng cơ bản tác động đến sự tăng trưởng và phát triển

kinh tế

Tác động trực tiếp của đầu tư xây dựng cơ bản đã làm cho tổng tài sản của

nền kinh tế quốc dân không ngừng được gia tăng trong nhiều lĩnh vực như: cơ sở hạ

tầng, giao thông vận tải, công nghiệp, thuỷ lợi, các cơng trình cơng cộng khác; nhờ

vậy, mà năng lực sản xuất của các đơn vị, tổ chức kinh tế không ngừng được nâng

cao, sự tác động này có tính dây chuyền của những hoạt động kinh tế nhờ đầu tư

xây dựng cơ bản. Ví dụ, khi đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng giao thơng, điện

nước của một khu cơng nghiệp nào đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần

kinh tế, họ sẽ đầu tư mạnh hơn do đã có hệ thống hạ tầng thuận lợi cho sản xuất,

kinh doanh; vì thế, sẽ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế nhanh hơn.

Đối với nền kinh tế nói chung, tồn bộ việc đầu tư được tiến hành ở một thời

kỳ nhất định là nhân tố cơ bản duy trì và phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền

kinh tế, tạo ra sản phẩm, dịch vụ, giải quyết công ăn việc làm, đáp ứng các nhu cầu

của nền kinh tế - xã hội ở thời kỳ tiếp theo. Xét về lâu dài, khối lượng đầu tư của

ngày hôm nay sẽ quyết định sản lượng sản xuất, tốc độ và chất lượng của tăng

trưởng và phát triển kinh tế - xã hội cũng như mức độ cải thiện đời sống con người

trong tương lai.

Thứ ba, đầu tư xây dựng cơ bản tác động đến sự phát triển khoa học công

nghệ



Thông qua đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, đầu tư xây

dựng cơ bản tạo điều kiện cho nền kinh tế áp dụng nhanh các thành tựu và tiến bộ

khoa học kỹ thuật của các nước tiên tiến thơng qua nhập khẩu máy móc, thiết bị

khoa học cơng nghệ.

Về mặt kỹ thuật các cơng trình được xây dựng lên là thể hiện cụ thể của

đường lối phát triển khoa học kỹ thuật của đất nước, là kết tinh hầu hết các thành

tựu khoa học kỹ thuật đã đạt được ở chu kỳ trước và sẽ góp phần mở ra một chu kỳ

phát triển mới của khoa học và kỹ thuật ở giai đoạn tiếp theo.

Thứ tư, đầu tư xây dựng cơ bản tác động đến sự ổn định kinh tế, tạo công ăn

việc làm, nâng cao đời sống cho người lao động:

Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư, do ảnh hưởng của

tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư dù là tăng

hay giảm cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền

kinh tế, chẳng hạn như khi tăng đầu tư sẽ làm cho các yếu tố liên quan tăng, tăng

sản xuất của các ngành sẽ thu hút thêm lao động nâng cao đời sống.

Đầu tư xây dựng cơ bản có tác động rất lớn đến việc tạo cơng ăn việc làm,

cải thiện và nâng cao mức sống, nâng cao trình độ đội ngũ lao động: nhu cầu lao

động cho cơng tác xây dựng cơng trình; nhu cầu lao động để vận hành khi đưa cơng

trình vào sử dụng, đặc biệt là những dự án sản xuất kinh doanh, sẽ là một cơ hội tìm

cơng ăn việc làm cho người lao động. Khi đó tay nghề của người lao động nâng cao,

cán bộ học hỏi được những kinh nghiệm trong quản lý, đặc biệt là khi có các dự án

đầu tư nước ngoài.



1.2.2.3. Đặc điểm đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước

Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách mang những đặc điểm

của đầu tư xây dựng cơ bản nói chung và có những đặc điểm riêng.

Đặc điểm chung

Thứ nhất, đầu tư xây dựng cơ bản đòi hỏi vốn lớn, thời gian đầu tư dài

Đầu tư xây dựng cơ bản đòi hỏi một số lượng vốn, vật tư lớn, nhiều lao

động, thời gian đầu tư dài và liên quan đến nhiều ngành như: kinh tế, kỹ thuật, xây



dựng... Nguồn vốn đưa vào đầu tư xây dựng cơ bản, thông thường chưa phát huy

hiệu quả trong suốt quá trình đầu tư, nhưng nó sẽ phát huy hiệu quả khi đưa cơng

trình xây dựng vào sử dụng.

Quá trình tạo sản phẩm xây dựng cơ bản từ khi chuẩn bị đầu tư đến khi hồn

thành cơng trình bàn giao đưa vào sử dụng thường kéo dài. Quá trình thực hiện

được chia thành nhiều giai đoạn: từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư cho

đến giai đoạn kết thúc đầu tư, mỗi giai đoạn được chia thành nhiều công việc khác

nhau. Mặt khác, quá trình đầu tư xây dựng cơ bản thường có nhiều cơng đoạn diễn

ra diễn ra ngồi trời, tại địa điểm xây dựng cơng trình, nên chịu tác động lớn của

nhân tố môi trường như mưa nắng, thiên tai…

Thời gian đầu tư xây dựng cơ bản tùy thuộc vào quy mơ, mức độ đầu tư, dự

án nhóm C có thể dưới 2 năm, dự án nhóm A có mức đầu tư lớn có thể lên đến 10 –

15 năm. Vì vậy, q trình đầu tư cần phải có kế hoạch huy động, phân bổ và sử dụng

nguồn vốn hợp lý; đồng thời, có kế hoạch phân bổ vật tư, thiết bị bố trí nguồn lao

động phù hợp, đảm bảo cho cơng trình hồn thành trong thời gian ngắn nhất để bàn

giao đưa vào sử dụng, tránh lãng phí nguồn lực.

Thứ hai, sản phẩm của đầu tư xây dựng cơ bản là tài sản cố định, sử dụng

lâu dài

Sản phẩm của đầu tư xây dựng cơ bản thường cố định tại nơi sản xuất, các

điều kiện để sản xuất phải di chuyển theo địa điểm tạo ra sản phẩm. Các điều kiện

về địa hình, địa lý có tác động lớn đến quá trình đầu tư và việc phát huy kết quả đầu

tư. Do vậy, cần phải lựa chon địa điểm đầu tư xây dựng hợp lý, đảm bảo các yêu

cầu về an ninh quốc phòng, cảnh quan, mơi trường và phải phù hợp với quy hoạch,

kế hoạch. Lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý, sẽ tạo điều kiện thuận lợi để khai thác

lợi thế so sánh của vùng, quốc gia, đồng thời đảm bảo được sự phát triển cân đối

của vùng lãnh thổ, địa phương.

Sản phẩm của quá trình đầu tư xây dựng cơ bản thường có giá trị sử dụng lâu

dài, các sản phẩm đầu tư xây dựng cơ bản thơng thường có thời gian sử dụng từ 5

đến 30 năm, có những cơng trình thời gian sử dụng hàng trăm năm.



Thứ ba, đầu tư xây dựng cơ bản liên quan đến nhiều ngành, nhiều tổ chức

kinh

tế



Một dự án đầu tư xây dựng cơ bản thường do nhiều đơn vị cùng tham gia



thực hiện. Trong một dự án đầu tư xây dựng cơ bản thường có nhiều hạng mục,

nhiều giai đoạn, từ lập dự án, khảo sát, thiết kế, thi công, lắp đặt thiết bị, giám sát,

quản lý, kiểm định chất lượng; mỗi công việc đều mang đặc thù riêng, đòi hỏi phải

có nhiều đơn vị có chức năng, nhiệm vụ phù hợp để tham gia thực hiện. Trên một

cơng trường xây dựng cơng trình có thể có nhiều tổ chức, đơn vị tham gia; các đơn

vị này cùng hoạt động trên một khơng gian, thời gian; vì vậy, trong q trình thực

hiện đầu tư cần có sự phối hợp chặt chẽ với nhau.

Đặc điểm riêng

Thứ nhất, nguồn vốn đầu tư được bố trí từ ngân sách nhà nước

Đặc điểm này được thể hiện rõ ở phần khái niệm. Đầu tư xây dựng cơ bản từ

vốn ngân sách nhà nước là quá trình nhà nước bỏ vốn từ ngân sách, để tiến hành các

hoạt động xây dựng dự án,cơng trình nhằm tạo ra tài sản cố định, xây dựng cơ sở

vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế.

Vốn chi cho hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước chiếm

tỷ trọng lớn trong tổng chi đầu tư xây dựng cơ bản của toàn xã hội, được cấp phát

trực tiếp và khơng hồn lại. Đây là nguồn vốn dễ bị thất thốt, lãng phí, cần phải

được quản lý chặt chẽ. Bên cạnh đó, vốn chi cho đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân

sách được phân bổ theo dự toán hàng năm, đây là một trong những nguyên nhân

dẫn đến việc thi công xây dựng cơng trình kéo dài vì phải mất thời gian chờ bố trí

vốn.

Thứ hai, mục đích đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách chủ yếu để

phục vụ lợi ích công cộng

Lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách chủ yếu tập trung vào xây

dựng kết cấu hạ tầng cơng cộng, các cơng trình phúc lợi xã hội; những dự án, cơng

trình này có tỷ suất lợi nhuận thấp nhưng có tác dụng tạo nền tảng cơ sở hạ tầng, tạo

môi trường đầu tư thuận lợi, thu hút các nguồn vốn khác, tạo điều kiện thúc đẩy



phát triển kinh tế - xã hội. Đây là những lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác

không có khả năng hoặc khơng muốn đầu tư, vì vốn đầu tư lớn, việc thu hồi vốn đầu

tư kéo dài.

1.2.3. Một số vấn đề lí luận về quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản từ

vốn ngân sách nhà nước

1.2.3.1. Khái niệm, phạm vi, đối tượng quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản



từ vốn ngân sách

a.



Khái niệm

“Quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản

lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn

lực để đạt các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật.

quản lý nhà nước là một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể, định hướng

điều hành, chi phối... để đạt được mục tiêu kinh tế xã hội trong những giai đoạn lịch

sử nhất định.

quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức, có mục đích của nhà

nước lên các hoạt động kinh tế (đối tượng và khách thể hoạt động kinh tế) để sử

dụng có hiệu quả tiềm năng, các nguồn lực, các cơ hội nhằm đạt được mục tiêu

trước mắt và lâu dài của nền kinh tế - xã hội” (Phan Huy Đường, quản lý nhà nước

về kinh tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012, tr. 26, 27).

Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước về kinh tế được thực hiện thông qua cả

ba loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản

lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan

hành pháp.

Nhà nước quản lý kinh tế, trong đó có quản lý về đầu tư xây dựng cơ bản.

Quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản là sự tác động có tổ chức, có mục

đích của nhà nước vào các hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản thông qua các biện

pháp kinh tế và tổ chức - kỹ thuật để sử dụng có hiệu quả nhất nguồn lực dành cho

xây dựng cơ bản nhằm đảm bảo chất lượng các dự án, cơng trình xây dựng cơ bản.



Từ sự phân tích trên, luận văn cho rằng, quản lý nhà nước đối với đầu tư xây

dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước là sự tác động có tổ chức, có định hướng

của Nhà nước vào q trình đầu tư xây dựng cơ bản bằng một hệ thống đồng bộ

các biện pháp hành chính, kinh tế, tổ chức, kỹ thuật để sử dụng có hiệu quả nhất

nguồn vốn ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng cơ bản nhằm đảm bảo chất

lượng các cơng trình, dự án.

b.



Phạm vi quản lý đầu tư xây dựng cơ bản tư vốn ngân sách nhà nước đối với nhà

nước

Nhà nước quản lý tồn bộ q trình đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân

sách: từ khi xác định chủ trương đầu tư, lập dự án, quyết định đầu tư, thiết kế, dự

tốn, lựa chọn nhà thầu, thi cơng xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa dự

án, công trình vào khai thác, sử dụng.

Đối với dự án do Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư, chủ

đầu tư là đơn vị quản lý, sử dụng cơng trình, hoặc người quyết định đầu tư có thể

giao cho đơn vị khác có đủ điều kiện làm chủ đầu tư hoặc đồng thời làm chủ đầu tư.

Đơn vị quản lý, sử dụng cơng trình có trách nhiệm cử người tham gia với chủ đầu tư

trong việc tổ chức lập dự án, thiết kế, theo dõi, quản lý, nghiệm thu và tiếp nhận

đưa cơng trình vào khai thác, sử dụng. Quá trình đầu tư xây dựng được chủ đầu tư

thực hiện theo trình tự có kiểm sốt chặt chẽ qua nhiều giai đoạn của quá trình đầu

tư.



c.



Đối tượng quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước đối với nhà

nước

Thứ nhất, Chủ đầu tư:

Chịu trách nhiệm toàn bộ về chất lượng của dự án, cơng trình thuộc dự án

đầu tư do mình quản lý, hoặc được ủy quyền quản lý. Nếu thành lập Ban quản lý dự

án, thì Ban Quản lý dự án phải có đầy đủ điều kiện về năng lực theo quy định. Chủ

đầu tư là đối tượng quản lý của các cơ quan có chức năng quản lý về đầu tư xây

dựng cơ bản và cơ quan nhà nước cấp trên.

Thứ hai, đơn vị tư vấn:



Là đối tượng quản lý của chủ đầu tư, chịu trách nhiệm về đảm bảo dự án,

cơng trình được thực hiện theo đúng nội dung các bước thiết kế đã quy định; phù

hợp với quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng và nhiệm vụ thiết kế, thực

hiện đúng hợp đồng giao nhận thầu thiết kế với chủ đầu tư.

Thứ ba, đơn vị khảo sát xây dựng

Chịu trách nhiệm trước Chủ đầu tư và các cơ quan quản lý nhà nước về xây

dựng theo phân cấp về sự phù hợp với quy mô, quy hoạch, các bước thiết kế, tính

chất cơng trình, điều kiện tự nhiên của địa điểm xây dựng; phù hợp với quy chuẩn,

tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng, tránh lãng phí.

Thứ tư, đơn vị thi công xây dựng dự án, công trình

Thực hiện đúng hợp đồng thi cơng, chịu trách nhiệm thi công đúng thiết kế

được duyệt, đảm bảo chất lượng, an tồn, mơi trường xây dựng, áp dụng đúng các

tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng đã được quy định và chịu sự giám sát, kiểm tra thường

xuyên về chất lượng cơng trình của chủ đầu tư, tổ chức thiết kế và cơ quan giám

định nhà nước theo phân cấp quản lý.

Thứ năm, đơn vị giám sát thi công xây lắp:

Chịu trách nhiệm trước Chủ đầu tư về hệ thống quản lý chất lượng của dự

án, cơng trình; giám sát, quản lý các điều kiện về năng lực các nhà thầu, vật tư, thiết

bị thi công; chất lượng, khối lượng, tiến độ, an tồn lao động, về sinh mơi trường

của cơng trình, hạng mục cơng trình.



1.2.3.2. Sự cần thiết quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước đối

với nhà nước

Thứ nhất, để đảm bảo chất lượng cơng trình, hiệu quả của vốn đầu tư:

Giai đoạn hiện nay, chất lượng các cơng trình xây dựng cơ bản còn rất nhiều

tồn tại, bất cập như: các sự cố, hư hỏng cơng trình cũng như những khoảng trống về

pháp luật; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Một số cơng trình mới bàn giao đưa vào

khai thác, sử dụng đã bộc lộ khiếm khuyết, thiếu sót về chất lượng, gây bức xúc

trong quần chúng nhân dân như: sự kém chất lượng hồn thiện của các cơng trình

nhà ở tái định cư; tình trạng sụt trượt, lún nền trên một số tuyến đường giao thơng,



hư hỏng một số cơng trình trường học, bệnh viện... Vấn đề bảo trì, bảo dưỡng các

cơng trình, dự án trong q trình sử dụng cũng chưa được quan tâm đúng mức.

Đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước được đánh giá là

dàn trải, manh mún, lãng phí, kém hiệu quả, nhiều dự án được phê duyệt chưa đảm

bảo tỉnh hợp lý, quy hoạch tổng thể. Đường giao thông vừa thi công xong đã bị đào

lên để làm hệ thống cấp nước, hệ thống thông tin liên lạc; một cây cầu xây dở dang

mới xong phần hạ bộ, dừng thi công chờ cấp vốn để thi công phần thượng bộ; một

số cơng trình thủy lợi xây dựng xong khơng đem lại hiệu quả ... Đó là một số dẫn

chứng làm giảm hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản.

Thứ hai, do công tác đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách còn nhiều bất

cập:

Đầu tư khơng đúng, đầu tư không đúng trọng tâm, trọng điểm là vấn đề nhức

nhối làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả đầu tư, một số dự án chưa thực sự cần thiết

đầu tư hay chưa đến thời điểm phải đầu tư hoặc không cần thiết phải bố trí vốn nhà

nước để đầu tư nhưng vẫn quyết định đầu tư, vấn đề này đã gây lãng phí khơng nhỏ

ngân sách nhà nước. Quy mơ, địa điểm của một số dự án đầu tư không xác định

đúng, hợp lý, dẫn đến tình trạng phải liên tục phải điều chỉnh, bổ sung vốn; Một số

dự án đầu tư xong thiếu nguyên liệu đầu vào để sản xuất, sản phẩm sản xuất ra

khơng có nơi tiêu thụ, gây lãng phí vốn đầu tư.

Tình trạng dàn trải trong bố trí kế hoạch đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước

của các Bộ, ngành và các tỉnh còn chưa chấp hành đúng quy định về quản lý dự án

đầu tư xây dựng, còn có hiện tượng bố trí vốn cho một số dự án chưa đủ thủ tục về

đầu tư. Qúa trình phân cấp về đầu tư, đã tạo thơng thống và chủ động cho cấp

dưới, song q trình thực hiện và giám sát đầu tư chưa tốt dẫn đến tình trạng đầu tư

dàn trải, gây nợ đọng xây dựng cơ bản. Ngoài ra, các quy định của Nhà nước trong

lĩnh vực xây dựng cơ bản còn bất cập, quy hoạch còn chồng chéo, năng lực của chủ

đầu tư, đơn vị tư vấn còn hạn chế…

Năng lực cán bộ quản lý, cán bộ chun mơn còn nhiều hạn chế, thiếu tính

chun nghiệp, một số cán bộ, cơng chức khơng có chun mơn phù hợp, cán bộ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QLNN ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ XDCB TỪ NSNN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×