Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền: Nhà nước cần kết hợp tuyên truyền trên mọi phương tiện như báo viết, truyền hình, mạng internet, đài phát thanh, poster… Nhà nước cũng cần dành riêng một hoặc một số kênh truyền hình, truyền thanh miễn phí quảng cáo thương

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền: Nhà nước cần kết hợp tuyên truyền trên mọi phương tiện như báo viết, truyền hình, mạng internet, đài phát thanh, poster… Nhà nước cũng cần dành riêng một hoặc một số kênh truyền hình, truyền thanh miễn phí quảng cáo thương

Tải bản đầy đủ - 0trang

131



3.4.1.9 Thúc đẩy công tác nghiên cứu và phát triển

Khoa học và cơng tác nghiên cứu khoa học có vai trò quan trọng và mang

tính sống còn đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Đầu tư cho khoa học và

nghiên cứu khoa học là đầu tư dài hạn và khơng phải lúc nào cũng có thể đo

lường hiệu quả bằng các phép tính kinh tế hay tài chính. Với trường hợp của

Việt Nam, Chính phủ cần có chính sách, cơ chế đủ mạnh để thay đổi hoạt động

nghiên cứu phát triển đang trì trệ hiện nay.

Việt Nam cần học tập kinh nghiệm của các nước châu Á trong việc đầu tư mạnh

cho hoạt động R&D vì chỉ có đầu tư và phát triển mới có thể nhanh chóng nâng cấp

được hàm lượng khoa học công nghệ trong sản phẩm xuất khẩu, tham gia được vào

chuỗi giá trị toàn cầu với Trung Quốc cũng như các thị trường khác.

Tăng tỷ lệ đầu tư cho hoạt động R&D trong GDP: Để hoạt động R&D phát

triển đột phá, Nhà nước cần có chính sách ưu đãi thuế nhập khẩu máy móc thiết bị

và thuế thu nhập cho các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài hoạt động trong

lĩnh vực R&D tại Việt Nam. Chỉnh phủ cũng cần đầu tư một tỷ lệ hợp lý trong GDP

cho hoạt động R&D trong nước để có thêm nhiều bằng phát minh sáng chế trong

các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp và chế tạo máy móc thiết bị và đồ

điện tử. Như vậy, Việt Nam mới có cơ hội tham gia sâu hơn nữa vào mạng lưới sản

xuất toàn cầu trong lĩnh vực thiết bị điện và điện tử, từ đó gia tăng giá trị xuất khẩu

sang Trung Quốc và cân bằng cán cân thương mại.

Ngoài ra, phải xây dựng và hoàn thiện chính sách đa dạng hóa nguồn vốn đầu

tư từ xã hội cho khoa học cơng nghệ. Xây dựng chính sách khuyến khích tư nhân

thành lập hoặc liên kết với nhà nước để thành lập các quỹ đầu tư phát triển công

nghệ mới, công nghệ cao trong lĩnh vực công nghiệp.

Đầu tư xây dựng phòng thí nghiệm hiện đại: Nhà nước cần đầu tư kinh phí

cho các trường đại học, học viện, viện nghiên cứu để xây dựng các phòng thí

nghiệm hiện đại, đạt chuẩn quốc tế để sinh viên có thể dễ dàng thực hiện các cơng

trình nghiên cứu. Cần đầu tư phát triển có trọng tâm, trọng điểm một số phòng thí

nghiệm chun ngành thuộc các lĩnh vực công nghiệp chủ chốt với cơ sở vật chất,

trang thiết bị hiện đại đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, đặc biệt trong lĩnh vực thiết kế,



132



chế tạo sản phẩm mới, phân tích, kiểm tra, chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn sản

phẩm...Dự kiến, đến năm 2025, Việt Nam xây dựng khoảng 8-10 phòng thí nghiệm

chun ngành có cơ sở vật chất, thiết bị nghiên cứu hiện đại đạt trình độ khu vực và

thế giới thuộc các lĩnh vực: Điện tử, cơ khí, thiết bị điện, dệt may, da giày, cơng

nghệ thực phẩm, hóa dầu, giấy, cơng nghiệp mơi trường…(Thanh Tâm, 2017)

3.4.2 Giải pháp của chủ thể Doanh nghiệp

3.4.2.1 Đổi mới quan điểm và chiến lược kinh doanh với thị trường Trung Quốc

Để đổi mới căn bản cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu với Trung Quốc hiện tại

hướng đến mục tiêu giảm nhập siêu, ngoài những nỗ lực của Nhà nước, doanh

nghiệp sản xuất và xuất khẩu Việt Nam cũng cần có sự đổi mới căn bản trong quan

điểm và chiến lược kinh doanh với thị trường Trung Quốc.

(1)Doanh nghiệp sản xuất đổi mới công nghệ sản xuất, thiết kế, bao bì sản

phẩm

Đổi mới tiêu chuẩn sản xuất, ni trồng: Với nhóm hàng rau củ quả, doanh

nghiệp hoặc các hộ nơng dân cần nâng cao chất lượng nhóm hàng này thơng qua

cách áp dụng các tiêu chuẩn GAP, VietGAP, GlobalGAP, trong nuôi trồng và thu

hoặch. Cần đặc biệt tuân thủ các quy tắc về nguồn gốc xuất xứ, đảm bảo đảm vệ

sinh an toàn thực phẩm, tránh sử dụng quá liều thuốc bảo vệ thực vật trong khâu

nuôi trồng và bảo quản. Để bắt kịp và hội nhập với thế giới, nhà sản xuất Việt Nam

cần tuân thủ các quy trình sản xuất, thực hành nơng nghiệp sạch trong tồn bộ chuỗi

cung ứng cho đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng.

Đổi mới công nghệ chế biến, gia tăng chủng loại hàng hóa: Doanh nghiệp cần

chú trọng đầu tư đổi mới cơng nghệ sản xuất, nhập khẩu máy móc thiết bị hiện đại

để nâng cao hàm lượng chế biến và chất lượng sản phẩm. Cần đẩy mạnh khâu chế

biến nhóm hàng nông thủy sản theo hướng tiện lợi cho người tiêu dùng Trung Quốc

nhưng vẫn đảm bảo chất lượng, dinh dưỡng sản phẩm. Cần nghiên cứu sâu về khẩu

vị vùng miền của người tiêu dùng Trung Quốc để có phương pháp chế biến thích

hợp. Với chè và cà phê, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng

thành thị Trung Quốc, doanh nghiệp Việt cần cải thiện năng lực chế biến, tiến tới



133



chế biến sâu. Cần tăng cường chủng loại chè và cà phê chế biến với nhiều hương vị,

quy cách đóng gói, cách pha chế tiện lợi… để phù hợp với khẩu vị khác nhau của

người tiêu dùng.

Đổi mới thiết kế và bao bì: Để hàng Việt Nam tiếp cận và đáp ứng tốt được

nhu cầu của người tiêu dùng thu nhập cao tại Trung Quốc, bên cạnh việc chú trọng

vấn đề chất lượng, doanh nghiệp sản xuất còn rất cần chú trọng đổi mới thiết kế sản

phẩm quan tâm đến khâu thiết kế bao bì sản phẩm. Cần kết hợp giữa đặc tính của

sản phẩm với nghiên cứu quan điểm thẩm mỹ của người tiêu dùng Trung Quốc để

thiết kế ra các mẫu bao bì riêng cho hàng xuất khẩu vào thị trường này. Cần đảm

bảo bao bì có tính mỹ thuật, nổi bật, đặc sắc và giúp nâng cao giá trị của sản phẩm.

(2)Doanh nghiệp thương mại đổi mới chiến lược kinh doanh với thị trường Trung

Quốc

Trước một thị trường láng giềng lớn và tiềm năng như Trung Quốc, mọi

doanh nghiệp Việt Nam đều cần có một chiến chiến lược kinh doanh dài hạn và đạt

mục tiêu thâm nhập sâu hơn vào thị trường này.

Các doanh nghiệp chưa xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, cần đặt mục

tiêu xuất khẩu được hàng hóa vào thị trường này để tận dụng triệt để các ưu đãi của

ACFTA cũng như ưu thế về mặt địa lý, tạo nguồn thu nhập xuất khẩu lâu dài.

Các doanh nghiệp đã có quan hệ xuất nhập khẩu với thị trường Trung Quốc,

cần khơng ngừng tìm kiếm thêm cơ hội xuất khẩu chính ngạch với giá trị hợp đồng

lớn cho các đối tác là các cơng ty, tập đồn lớn của Trung Quốc. Doanh nghiệp Việt

cần nhanh chóng từ bỏ quan điểm chỉ xuất khẩu sang Trung Quốc những hàng hóa

mình có sẵn vì thị trường Trung Quốc ngày càng trở nên khó tính, người tiêu dùng

Trung Quốc ngày càng ưa chuộng các loại hàng hóa nhập khẩu có chất lượng cao và

an toàn cho sức khỏe. Doanh nghiệp thương mại cần liên hệ chặt chẽ với các doanh

nghiệp sản xuất để đặt hàng theo đúng nhu cầu thị hiếu của khách hàng.

Với các doanh nghiệp xuất khẩu thực phẩm, nông sản, thuỷ sản chịu sự kiểm

dịch gắt gao từ phía Trung Quốc, cần có chiến lược xuất khẩu lâu dài, tìm kiếm

khách hàng là các doanh nghiệp Trung Quốc và xây dựng mối quan hệ bền vững.



134



Doanh nghiệp cần cố gắng ký kết hợp đồng cung cấp nông sản ổn định trung và dài

hạn, thực hiện đúng giao kèo cũng như tuân thủ luật Hợp đồng và pháp luật của hai

nước. Chỉ như vậy, hợp tác kinh doanh mới bền vững, kim ngạch xuất nhập khẩu

mới ổn định.

3.4.2.2 Đẩy mạnh xúc tiến thương mại tầm vi mô

(1) Xúc tiến thương mại nói chung

Doanh nghiệp Việt cần chủ động hơn trong việc khai thác các thị trường mới

để tránh rủi ro khi phụ thuộc quá nhiều vào thị trường như Trung Quốc.

Khai thác thị trường xuất khẩu mới: Doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm

thơng tin và nghiên cứu nhu cầu các thị trường nhập khẩu tiềm năng, đặc biệt là các

thị trường có FTA với Việt Nam. Doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu thơng tin về

các thị trường tiềm năng, nắm vững được kết cấu, hiểu rõ sức mua cũng như kênh

tiêu thụ của từng thị trường. Các thị trường mới nổi ở khu vực Trung Đông, châu

Phi với nhu cầu nhập khẩu nông sản rất lớn là cơ hội cho các doanh nghiệp xuất

khẩu. Các thị trường châu Á khác cũng rất tiềm năng trong xuất khẩu nông thủy sản

Việt Nam như Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN, Ấn Độ…cũng cần được doanh nghiệp

tích cực khai thác hơn.

Khai thác thị trường nhập khẩu nguyên liệu và công nghệ mới: Để giảm nhập

siêu từ Trung Quốc, doanh nghiệp Việt cần tiếp tục tìm kiếm các thị trường cung

cấp nguyên phụ liệu dệt may, da giày cùng như máy móc cơng nghệ nguồn hiện đại

khác. Cần tận dụng ưu đãi từ các thị trường có ký FTA với Việt Nam để nhập khẩu

với mức thuế ưu đãi. Với nguyên phụ liệu dệt may và da giày, bên cạnh việc nỗ lực

phát triển công nghiệp phụ trợ trong nước để tự cung cấp, doanh nghiệp cần tiếp tục

chuyển hướng nhập khẩu từ thị trường ASEAN, Hàn Quốc, Ấn Độ, Achentina,

Pháp, Áo…Về máy móc cơng nghệ sản xuất, doanh nghiệp Việt cần tăng cường

nhập khẩu từ các nước Âu, Mỹ hoặc Hàn Quốc, Nhật Bản.

Nắm bắt thông tin về ưu đãi trong các FTA đã ký kết: Doanh nghiệp cần tìm

hiểu, nắm vững thông tin về các ưu đãi thuế quan, ưu đãi về hạn ngạch cũng như

quy tắc xuất xứ trong các FTA song phương và đa phương Việt Nam đã ký kết. Đây



135



là thông tin liên quan đến quyền lợi của doanh nghiệp nên doanh nghiệp cần chủ

động cập nhật thông tin, khơng chờ đợi sự hỗ trợ của chính phủ. Doanh nghiệp cũng

cần có chiến lược dài hạn, phù hợp để thâm nhập thị trường. Cần đầu tư kinh phí

thuê tư vấn, tiếp cận thị trường từ nhiều kênh để xác định mức giá hợp lý cho từng

thị trường, tránh bị thua thiệt do giá quá thấp hoặc không thiêu thụ được hàng vì giá

quá cao.

(2) Xúc tiến thương mại với thị trường Trung Quốc

Lựa chọn và tìm hiểu thơng tin về đối tác Trung Quốc: Để kinh doanh lâu

dài và thành công trên thị trường này, doanh nghiệp Việt cần nắm rõ cách thức thẩm

tra lý lịch thương nhân Trung Quốc nhằm xác định đúng đối tác. Có thể liên hệ với

một số doanh nghiệp đặc biệt do Bộ Thương mại Trung Quốc chỉ định và cấp giấy

phép hoạt động trong lĩnh vực thẩm tra lý lịch thương nhân hay năng lực kinh

doanh, tài chính của doanh nghiệp Trung Quốc. Với các đối tác giao dịch gián tiếp

qua mạng, đối tác được giới thiệu qua trung gian hoặc đối tác lớn, cần kiểm tra kỹ

lý lịch thương nhân để quyết định hợp tác lâu dài hay trước khi ký những hợp đồng

giá trị lớn.

Doanh nghiệp Việt cũng có thể lựa chọn đối tác thông qua danh sách các doanh

nghiệp Trung Quốc được Bộ Thương mại Trung Quốc, Ủy ban Xúc tiến mậu d ịch

Trung Quốc thẩm định và công bố hàng năm. Bên cạnh đó, cũng có thể thơng qua

sự giới thiệu của hệ thống các Hiệp hội ngành hàng Trung Quốc. Thương vụ Việt

Nam tại Bắc Kinh, Phòng Xúc tiến thương mại Việt Nam tại Trùng Khánh, các chi

nhánh thương vụ Việt Nam tại Côn Minh, Quảng Châu, Nam Ninh và Phòng Trung

Quốc-Vụ thị trường Châu Á- Thái Bình Dương thuộc bộ Cơng thương là những địa

chỉ doanh nghiệp có thể tìm kiếm sự hỗ trợ về thơng tin.

Tích cực tham dự các Hội chợ quốc tế tại Trung Quốc

Các hội chợ quốc tế tổ chức tại Trung Quốc cũng là nơi lý tưởng để doanh

nghiệp Việt tiếp cận thị trường, xây dựng mối quan hệ bạn hàng tại thị trường Trung

Quốc. Hội chợ Canton Fair Quảng Châu, Hội chợ Trung Quốc-ASEAN là hai hội

chợ thường niên quy mơ rất lớn với nhiều ngành nghề tham dự. Ngồi ra các doanh

nghiệp cũng có thể tham gia các hội chợ đa ngành khác như Hội chợ Phúc Kiến,



136



Hội chợ Côn Minh hoặc Hội chợ nhập khẩu quốc tế Trung Quốc-CIIE từ 2018 sẽ

trở được tổ chức định kỳ hàng năm. Doanh nghiệp ngành dệt may có thể tham dự

Triển lãm quốc tế phụ kiện và máy móc ngành may thêu Trung Quốc, Hội chợ quốc

tế nguyên phụ liệu dệt may Thượng Hải mùa xuân, Triển lãm quốc tế ngành dệt may

Thượng Hải. Doanh nghiệp hàng máy móc thiết bị có thể tham gia Hội chợ quốc tế

trang thiết bị y tế, dụng cụ y khoa Trung Quốc, Triển lãm quốc tế ngành sản xuất

thiết bị y tế Medtec China, Triển lãm quốc tế Bắc Kinh về máy xây dựng, Triển lãm

thiết bị điện Thượng Hải, Triển lãm thiết bị nguyên phụ liệu ngành chế biễn gỗ

Trung Quốc, Triển lãm quốc tế ngành giấy Trung Quốc. Các doanh nghiệp ngành

mỹ phẩm làm đẹp Việt Nam có thể tham gia Hội chợ mỹ phẩm và sắc đẹp Trung

Quốc.

3.4.2.3 Doanh nghiệp phụ trợ nỗ lực tự phát triển

Doanh nghiệp thuộc các ngành cơng nghiệp phụ trợ cũng cần nỗ lực hết mình

để phát triển, cung cấp hiệu quả nguyên phụ liệu và thiết bị linh kiện cho các doanh

nghiệp tại Việt Nam. Nếu không làm được điều này, công nghiệp chế biến của Việt

Nam sẽ khơng có cơ hội phát triển, nhập siêu từ Trung Quốc rất khó cải thiện.

Tăng cường liên kết giữa với các doanh nghiệp phụ trợ Việt Nam: Các doanh

nghiệp phụ trợ Việt Nam muốn trở nên mạnh hơn, hoạt động hiệu quả hơn thì điều

đầu tiên cần làm là phải có sự liên kết chặt chẽ hiệu quả với nhau. Thông qua các

Hiệp hội doanh nghiệp hay Hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp phụ trợ Việt cần

hỗ trợ và thúc đẩy nhau, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của nhau. Các doanh nghiệp

cần nhiệt tình chủ động tham gia vào các chuỗi liên kết ngành trong lĩnh vực và khu

vực mình hoạt động. Liên kết dọc trong chuỗi giá trị dệt may được thể hiện từ khâu

nguyên liệu, kéo sợi, dệt vải, nhuộm, in, thiết kế, may, phân phối và cuối cùng là

marketing sản phẩm. Các doanh nghiệp ngành dệt và sản xuất phụ kiện ngành may

cần liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp ngành may. Tương tự, các doanh nghiệp

thuộc da và phụ kiện cho ngành da giày cần tạo dựng liên kết chặt chẽ với các công

ty sản xuất giày dép để tạo thành liên kết hàng ngang hiệu quả.

Tăng cường liên kết với các doanh nghiệp FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là

kênh quan trọng nhất tổng hợp được hết các nguồn ngoại lực. Thơng qua sự hỗ trợ



137



của Chính phủ, các doanh nghiệp phụ trợ trong nước cần tích cực đẩy mạnh liên kết

với các doanh nghiệp FDI. Đây chính là một hình thức dùng ngoại lực để tăng nội

lực. Hình thức liên kết phổ biến nhất với cơng ty FDI là liên kết hàng dọc, trong đó

cơng ty trong nước tạo quan hệ ổn định để cung cấp các sản phẩm phụ trợ cho

doanh nghiệp FDI, qua đó được các doanh nghiệp FDI chuyển giao công nghệ và tri

thức quản lý. Tại Việt Nam hiện nay, với thực trạng doanh nghiệp FDI là nhân tố

góp phần gây nhập siêu lớn nhất do nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào sản

xuất phục vụ xuất khẩu, sự liên kết hiệu quả giữa các công ty phụ trợ trong nước với

doanh nghiệp FDI lại càng có ý nghĩa.

Tăng cường liên kết với các công ty đa quốc gia: Các doanh nghiệp Việt Nam

còn có thể đẩy mạnh liên kết hàng ngang với các công ty đa quốc gia. Liên kết hàng

ngang là tiến hành hợp tác với các công ty đa quốc gia về nhiều mặt để sản xuất và

xuất khẩu ra thị trường thế giới; lúc đầu có thể sản xuất và cung cấp dưới thương

hiệu của công ty nước ngồi, xuất khẩu theo mạng lưới của cơng ty nước ngồi (sản

xuất theo hình thức OEM: Original Equipment Manufacturing), tiến tới tự thiết kế

sản phẩm (sản xuất theo hình thức ODM: Own Design Manufacturing), tạo ra

những sản phẩm riêng để bán cho công ty đa quốc gia, cuối cùng tiến đến giai đoạn

xây dựng thương hiệu, làm chủ hoàn toàn sản phẩm cơng nghiệp (sản xuất theo hình

thức OBM: Own Brand Manufacturing). Quá trình chuyển từ OEM sang ODM đến

OBM là quá trình trưởng thành và tự lập của các công ty trong nước, cũng là con

đường tất yếu để đổi mới cơ cấu sản xuất trong nước, từ đó đổi mới cơ cấu hàng hóa

xuất nhập khẩu.

Doanh nghiệp dệt may và da giày Việt Nam cần tăng cường liên kết chuỗi với

các nước có ngành dệt may và da giày phát triển mạnh như Mỹ, Nhật. Hàn Quốc,

Ấn Độ…để học tập kinh nghiệm. Cần tiến tới việc tạo dựng những khối liên kết

trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dệt may, da giày. Với điều kiện hiện tại, doanh

nghiệp dệt, sợi Việt Nam có thể liên doanh với các doanh nghiệp Ấn Độ để tạo ra

chuỗi cung ứng nguyên liệu. Sản phẩm dệt may Ấn Độ như vải, sợi tự nhiên, bông

và nguyên phụ liệu dệt may của Ấn Độ có chất lượng tốt và đa dạng mẫu mã,có khả

năng cạnh tranh cao cả về chất lượng và giá cả. Mở rộng và tăng cường hợp tác



138



trong lĩnh vực dệt may với Ấn Độ là một trong những giải pháp giúp doanh nghiệp

Việt chủ động được nguồn nguyên phụ liệu dệt may phục vụ xuất khẩu.



139



Bảng 3.1: Phương hướng liên kết hàng ngang giữa doanh nghiệp sản xuất Việt

Nam với các công ty đa quốc gia

OEM



Các công ty đa quốc gia



Nhà sản xuất Việt Nam



Nhà sản xuất Việt Nam



giao thiết kế hoàn chỉnh



nhập nguyên liệu về sản



bán lại sản phẩm cho hãng



cho nhà sản xuất Việt Nam



xuất







thương



hiệu



hoặc



người trung gian.

-Hàm lượng R&D thấp

-Giá trị gia tăng thấp

-Phía Việt Nam thu về chủ

yếu là phí gia cơng

ODM



OBM



Nhà sản xuất Việt Nam tự



Nhà sản xuất Việt Nam



Nhà sản xuất Việt Nam



thiết kế sản phẩm



giảm tỷ lệ nhập khẩu



bán lại sản phẩm cho công



Điều kiện:



nguyên liệu, sử dụng



ty đa quốc gia



-Đầu tư mạnh cho hoạt



nguyên phụ liệu trong



-Hàm lượng R&D cao



động



nước để sản xuất.



-Giá trị gia tăng cao hơn



nghiệp



Điều kiện:



-Chưa có thương hiệu



-Chú trọng khâu thiết kế



-Phát triển công nghiệp



riêng



sản phẩm



phụ trợ



Nhà sản xuất Việt Nam tự



Nhà sản xuất Việt Nam



Nhà sản xuất bán Việt



chủ thương hiệu, tự thiết kế



nhập nguyên liệu về sản



Nam lại sản phẩm cho



riêng sản phẩm của mình



xuất, nâng tối đa tỷ lệ sử



công ty đa quốc gia,



Điều kiện:



dụng nguyên phụ liệu



người bán lẻ hoặc người



- Đầu tư cho hoạt động



trong nước sản xuất



tiêu dùng cuối cùng.



R&D cấp doanh nghiệp



Điều kiện:



-Hàm lượng R&D cao



-Đầu



-Phát triển công nghiệp



-Giá trị gia tăng cao



phụ trợ



-Có thương hiệu riêng và



R&D







cấp



cho



doanh



khâu



Marketing

-Chú trọng dịch vụ sau bán



nguồn khách hàng riêng



hàng



-Gia tăng kim ngạch xuất



- Chú trọng khâu xây dựng



khẩu



thương hiệu



Nguồn: Tác giả tự tổng hợp



140



3.4.2.4 Triển khai phát triển thương hiệu và phân phối hàng Việt tại Trung Quốc

Bên cạnh việc sản xuất các sản phẩm phù hợp thị hiếu tiêu dùng của người

Trung Quốc, các doanh nghiệp Việt Nam còn cần quyết tâm chinh phục thị trường

tiềm năng lớn này.

(1) Nghiên cứu sản phẩm phù hợp với từng nhóm tiêu dùng Trung Quốc

Thị trường tiêu dùng Trung Quốc vốn phát triển nhanh nhất thế giới với tầng

lớp trung lưu đơng đảo có sức tiêu dùng lớn. Với địa thế có chung đường biên giới

với Việt Nam, đây phải được coi là một thị trường hấp dẫn không thể bỏ qua đối với

bất kỳ nhà sản xuất Việt Nam nào. Trên cơ sở nghiên cứu xu hướng tiêu dùng của

người dân thành thị Trung Quốc, tương ứng với từng nhóm người tiêu dùng, các

doanh nghiệp Việt có thể cung cấp các sản phẩm sau:

Sản phẩm thiết kế độc đáo, thời thượng và có cá tính riêng cho nhóm tiêu dùng

trẻ: Để chinh phục nhóm khách hàng hậu 9x ở Trung Quốc, các doanh nghiệp Việt

Nam cần tạo ra các sản phẩm tiêu dùng có cá tính riêng. Nhóm khách hàng tiềm

năng này có sức tiêu thụ lớn, sẵn sàng thử cái mới. Các doanh nghiệp sản xuất từ

hàng tiêu dùng thông thường đến mỹ phẩm, thậm chí cả phần mềm máy tính đều có

cơ hội chiếm thị phần ở Trung Quốc nếu có các sản phẩm sáng tạo. Những phần

mềm giải trí trên smartphone như Flappy Birds hay phần mềm học tiếng Anh được

nhiều giải thưởng quốc tế Monkey Junior đều có thể coi là những sáng tạo chắc

chắn thu hút được sự quan tâm và thử nghiệm của những người tiêu dùng hậu 9x

Trung Quốc.

Các doanh nghiệp Việt cần nghiên cứu phát triển các sản phẩm có thiết kế độc

đáo và thời thượng, vì sẽ càng có khả năng được những người trẻ chia sẻ nhiều trên

các phương tiện truyền thông đại chúng. Nó đại diện cho thị hiếu của những người

chia sẻ thơng tin về sản phẩm. Nếu có thể, vào những ngày lễ đặc biệt của Trung

Quốc, doanh nghiệp có thể tung ra các sản phẩm được thiết kế bao bì riêng, mang

đậm bản sắc văn hóa nước này. Điều này sẽ giúp nâng cao doanh số bán hàng vì

đánh trúng tâm lý người tiêu dùng.



141



Sản phẩm chất lượng cao nhưng số lượng ít cho nhóm người tiêu dùng độc

thân: Để đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của nhóm người tiêu dùng độc thân Trung

Quốc, các doanh nghiệp Việt cần nghiên cứu sáng tạo những sản phẩm, dịch vụ nhỏ

gọn, phù hợp cho một người thưởng thức hay sử dụng. Với những sản phẩm trước

đây thường do hai hay nhiều người trải nghiệm, sử dụng khi giải trí hoặc du lịch,

cũng có thể điều chỉnh loại “dành cho một người”.

Sản phẩm chăm sóc sức khỏe nguồn gốc thiên nhiên cho nhóm người tiêu

dùng hưu trí: Với nhóm người tiêu dùng hưu trí, các doanh nghiệp Việt Nam cần

tập trung phát triển các dòng sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Dòng thực phẩm chức

năng có nguồn gốc thiên nhiên được nhóm người tiêu dùng lớn tuổi Trung Quốc

quan tâm tìm kiếm. Tinh bột nghệ, dầu gấc, mật ong, trà xanh, trà thảo dược hay cao

actiso…đều là thế mạnh của Việt Nam. Với nhóm khách hàng này, doanh nghiệp

khơng cần q chú trọng đến vấn đề thiết kế bao bì, nhưng quan trọng phải có giấy

chứng nhận vệ sinh và chất lượng, đồng thời triển khai quảng cáo và dùng thử tại thị

trường Trung Quốc.

(2) Xây dựng chiến lược thâm nhập và phát triển mặt hàng trên thị trường Trung

Quốc.

Triển khai chiến dịch quảng bá thương hiệu phù hợp: Đầu tư mở cơ sở sản

xuất hay chi nhánh cơng ty, văn phòng đại diện nhằm quảng bá thương hiệu là một

bước đi quan trọng và cần thiết với mỗi thương hiệu Việt Nam nếu muốn thâm nhập

và mở rộng thị phần tại thị trường Trung Quốc. Muốn vậy, các chiến dịch quảng bá

thương hiệu tại đây cần được nghiên cứu kỹ nhằm đạt hiệu quả cao.

Với nhóm người tiêu dùng trẻ, giá trị thương hiệu doanh nghiệp Việt muốn

quảng bá tại Trung Quốc cần khớp với giá trị quan mà những người tiêu dùng trẻ

Trung Quốc đang hướng tới. Quảng cáo thương hiệu nên sử dụng những slogan

mang ý nghĩa “một người bạn rất thân thiết của bạn” chứ không phải “một quyền uy

để giáo dục bạn”. Cần thu hút người tiêu dùng thế hệ trẻ tham gia tương tác với

thương hiệu càng nhiều càng tốt.

Trong việc quảng cáo sản phẩm doanh nghiệp cần tận dụng các chủ đề liên

quan đến hưởng thụ cuộc sống. Cần làm nổi bật việc sản phẩm chăm sóc cá nhân và



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền: Nhà nước cần kết hợp tuyên truyền trên mọi phương tiện như báo viết, truyền hình, mạng internet, đài phát thanh, poster… Nhà nước cũng cần dành riêng một hoặc một số kênh truyền hình, truyền thanh miễn phí quảng cáo thương

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×