Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2- Triết học pháp quyền

2- Triết học pháp quyền

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.2.1- Pháp quyền trìu tượng

Pháp quyền trìu tượng: là giai đoạn đầu của tinh thần khách quan, nó tự

thể hiện mình như là ý chí cá nhân của những người có tài sản, chỉ những

người có tài sản mới có năng lực pháp lý. Còn những người khơng có tài sản

ln chịu thân phận nơ lệ vì họ khơng ý thức được sự tự do của mình.

Pháp quyền trừu tượng trình bày các cơ sở khái niệm và quy phạm của

luật dân sự và hình sự. Chúng là trừu tượng, vì ở đây khơng xét đến các đặc

điểm lịch sử và thường nghiệm của những bộ luật nhất định mà chỉ xét đơn

thuần về mặt khái niệm. “ Pháp quyền trừu tượng ” chính là chủ đề của Pháp

quyền tự nhiên “ thuần tuý ” như là pháp quyền lý tính trước đây, nhưng chính

phương pháp tư biện của Khoa học Lơgíc được triển khai ở đây làm cho việc

theo dõi tiến trình “ tự phát triển ” của quy định khái niệm của pháp quyền

trừu tượng không dễ dàng:

- Trong lĩnh vực này, phương diện chủ thể của ý chí tự do là nhân

thân (Person), tức là con người theo nghĩa hồn tồn trừu tượng với thuộc tính

duy nhất là chủ nhân của những quyền hạn và nghĩa vụ pháp lý trừu tượng. Ở

phương diện này, Hegel tiếp thu gần như trọn vẹn truyền thống Luật La Mã và

pháp quyền tự nhiên thời cận đại, về năng lực pháp lý của tính nhân thân.

- Ở phương diện khách thể của ý chí tự do, khơng phải lúc nào cũng dễ

hiểu và dễ đồng tình với Hegel khi ơng áp dụng “ phương pháp tuyệt đối ”

của Khoa học Lơgíc (sự phủ định nhất định và sự phủ định của phủ định…)

vào lĩnh vực pháp quyền trừu tượng: luận điểm về sdự tự triển khai tất yếu

của các hình thức và định chế pháp lý “ thuần tuý ” như sở hữu và hợp đồng;

sự quá độ tất yếu về mặt khái niệm từ các mối quan hệ hợp đồng sang sự phi

pháp hay sai trái (sự phi pháp ngay tình, sự lừa đảo, sự cưỡng bách và tội ác),

cũng như quan niệm và học thuyết về hình phạt như là sự phủ định của phủ

định (phủ định bằng pháp luật đối với sự vi phạm pháp quyền hay là việc khôi

phục pháp quyền, công lý.



2.2.2 – Luân lý

Luân lý là sự khẳng định bên trong của con người, không cần đến bạo

lực. Nếu pháp luật nói đến những điều cấm đốn thì đạo đức nói đến điều có

lợi cho mọi người. Nhiệm vụ của đạo đức là tìm ra những biện pháp để làm

hòa hợp các hành vi của nhiều chủ thể khác nhau. Những ai có quyền trong

pháp luật (chủ thể pháp luật, pháp nhân) thì những người đó trở thành chủ thể

đạo đức.

Luân lý dễ gây ngộ nhận và thất vọng nếu ta chờ đợi ở đây một “ đạo

đức học ” của Hegel theo nghĩa thông thường và quen thuộc của những quy

phạm luân lý. Hegel hiểu chữ “ luân lý ” theo nghĩa khác. Theo Hegel, ở cấp

độ của luân lý, ý chí phản tư vào trong mình, là ý chí biết chính mình như là ý

chí tự do, qua đó nhân thân trừu tượng (của cấp độ pháp quyền trừu tượng)

phát triển thành chủ thể. Như thế, luân lý nơi Hegel chính là yếu tố chủ quan

của việc quy định ý chí và là “ pháp quyền ” của ý chí chủ quan. Trong chừng

mực đó, ln lý là một hình thái của pháp quyền nói chung, là một “ hiện

tượng ” của Tinh thần khách quan, giống như các hiện tượng khác, nghĩa là,

có thể mơ tả được bằng lý thuyết, và, do đó, về cơ bản, chứa đựng một lý

thuyết về hành động dưới các tiểu mục “ Chủ ý và trách nhiệm ”, “ Ý định và

sự an lạc ” và “ Cái Thiện và Lương tâm ”. Trong khi Kant xem luân lý thuộc

về lĩnh vực triết học thực hành, tuân theo quy luật riêng, khác hẳn với lĩnh

vực triết học và khoa học lý thuyết, thì việc Hegel xố nhoà sự phân biệt ấy sẽ

dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng.

Điểm xuất phát và cũng là luận điểm xuyên suốt của Hegel là phê phán

đạo đức học của Kant: theo Hegel, từ một nguyên tắc luân lý trừu tượng như

“ mệnh lệnh nhất quyết ” (Kant), ta không thể rút ra được điều gì nhất định cả,

ngồi việc phải luôn mong muốn điều Thiện, nhưng lại không thể xác định

được điều Thiện cụ thể là gì. Việc phê phán “ chủ nghĩa hình thức ” ấy càng

được nâng lên đến cao độ khi Hegel khẳng định rằng: dựa vào mệnh lệnh nhất

quyết, ta có thể đề ra bất kỳ nghĩa vụ luân lý nào cũng được. Hegel khẳng



định: “ Vả chăng, chân lý liên quan đến pháp quyền, đời sống đạo đức và Nhà

nước cũng cũ xưa không khác gì việc trình bày và ban bố nó một cách công

khai trong luật pháp, luân lý công cộng và tôn giáo ” (Lời Tựa, 6). Việc Hegel

cho in nghiêng dòng chữ ấy cho thấy lập trường kiên quyết của ông như thế

nào. Điều này có nghĩa: những quyền hạn và nghĩa vụ pháp lý, luân lý và đạo

đức của ta không chỉ đến được với ta bằng kiến thức pháp lý hay sự giáo dục

luân lý và tín ngưỡng mà trực tiếp từ các quan hệ đạo đức sống thật ở trong xã

hội. Vì thế, ơng trả lời câu hỏi “ Tơi phải làm gì ? ” của Kant như sau: “ Con

người phải làm gì, đâu là những nghĩa vụ mà con người phải thực hiện để trở

nên có đức hạnh là điều dễ dàng trả lời ở trong một cộng đồng đạo đức: con

người không phải làm điều gì khác hơn ngồi những gì đã được quy định, đã

được ban bố”. Vậy, khơng phải Hegel khơng có một “ đạo đức học ” theo

nghĩa những quy phạm và nghĩa vụ, chỉ có điều, ơng đặt nó vào trong một nền

đạo đức học định chế. Là đại biểu của một “ đạo đức học định chế ” – theo đó

sự đúng đắn và bổn phận ràng buộc do chính bản thân cấu trúc của các định

chế mang lại mà kỳ cùng là định chế nhà nước – Hegel phải tiền giả định rằng

các định chế là những “ quyền lực đạo đức ”, trong đó có sự hài hồ giữa đời

sống cộng đồng (Aristoteles) và tính chủ thể tự do (Kant).

Sự phê phán của Hegel đối với “ chủ nghĩa hình thức ” của đạo đức học

Kant cũng khơng thực sự thuyết phục, vì bản thân Kant, trong Siêu hình học

về đức lý, đã xuất phát từ mệnh lệnh nhất quyết để xây dựng một học thuyết

về pháp quyền và một học thuyết về đức hạnh không kém phong phú về nội

dung. Học thuyết đạo đức học của Kant có thể còn thiếu sót, nhưng rõ ràng

Hegel khơng thể cho rằng mình đã trả lời trọn vẹn câu hỏi của Kant, bởi hai

người tiếp cận vấn đề từ hai cách khác nhau: những gì với Kant còn là “ vấn

đề ” (phải đi tìm một tiêu chuẩn cho khả thể của một đời sống đạo đức trong

thế giới hiện tại) thì Hegel xem như đã được giải quyết. Khơng thể bảo tất cả

những ai luôn băn khoăn trước câu hỏi “ Tơi phải làm gì ? ” đều là những



người khơng biết… phải làm gì với tư cách là pháp nhân, là chủ thể luân lý và

là người công dân.

2.2.3 – Đạo đức

Đạo đức là mức độ phát triển cao của tinh thần khách quan, nó là sự

thống nhất giữa chủ thể, khách thể và ý niệm về cái thiện. Đạo đức biểu hiện

một cách trực tiếp trong gia đình như là sự thống nhất các cá nhân (gia

phong). Sự phân hóa gia đình tạo nên một tập hợp các gia đình sẽ dẫn đến ra

đời xã hội cơng dân với tư cách là quan hệ giữa các cá nhân độc lập. Và cuối

cùng, sự thống nhất cao độ của các cá nhân nhằm duy trì mọi mâu thuẫn được

đưa lại trong nhà nước.

Với một bước chuyển không kém khó hiểu từ luân lý sang đời sống

đạo đức như trước đây từ pháp quyền trừu tượng sang luân lý, Hegel hiểu đời

sống đạo đức là sự thống nhất của hai cấp độ trước, tức giữa pháp quyền trừu

tượng và luân lý, đồng thời như là cơ sở chung của chúng. Như đã thấy, Hegel

muốn đi tìm một nguyên tắc thống nhất (mà ông cho rằng Kant và Fichte đã

không làm được) giữa học thuyết về pháp quyền và học thuyết về đức hạnh,

giữa tính luân lý và tính hợp pháp, giữa pháp quyền tự nhiên và học thuyết về

Nhà nước. Ông biết rõ sự phân biệt cơ bản của Kant giữa luân lý và pháp

quyền (hay “ cái đạo đức ”), và ơng muốn vượt bỏ nó khi viết: “ Cái đạo

đức là tâm thế chủ quan, nhưng là tâm thế chủ quan của pháp quyền tồn tại tự

mình ”. Chữ nhưng này, một lần nữa, nhằm cơng kích sự vô nội dung của

luân lý đơn thuần kiểu Kant, vì thế, theo Hegel, ý chí chủ quan chỉ trở thành

“đạo đức” khi nó muốn cái pháp quyền hay sự cơng chính tự mình hay khách

quan , tức là muốn những gì được quy định trong các định chế. Mọi tính chủ

thể đi lệch khỏi những quy định ấy là huênh hoang chủ quan, là vô đạo đức.

Một nền đạo đức học định chế được thể hiện rõ ràng khi Hegel tán đồng câu

trả lời của một hiền triết Hy Lạp “trước câu hỏi của một người cha về phương

thức tốt nhất để dạy con trở thành đạo đức, đó là hãy biến nó thành cơng dân

của một Nhà nước có luật pháp tốt đẹp”.



Đời sống đạo đức, theo cách hiểu ấy, cũng được kiến tạo theo công

thức tư biện biện chứng “nhịp ba”, “tam vị nhất thể” : sự đồng nhất của sự

đồng nhất và sự không đồng nhất. Đó là sự đồng nhất nguyên thuỷ của đời

sống đạo đức trong gia đình, rồi sự khơng đồng nhất ở trong xã hội dân sự, và

sau cùng, sự đồng nhất giữa sự đồng nhất và sự không đồng nhất – tức gia

đình và xã hội dân sự – được hiện thân trong Nhà nước, đồng thời, Nhà nước

cũng là cơ sở chung của gia đình và xã hội dân sự.

+ Trong vấn đề gia đình Hegel chú ý đến vấn đề hơn nhân và giáo dục

con cái. Ơng cho rằng giáo dục con cái phải dựa trên sự chỉ giáo của cha mẹ

làm cho con cái tuân thủ.

+ Xã hội công dân được ông hiểu như là mối quan hệ kinh tế giữa tất cả

mọi người. Trong xã hội đó ln ln xuất hiện sự bất bình đẳng và phân hóa

giai cấp, đó là tự nhiên. Vì nó xuất phát từ sự bất bình đẳng về sở hữu và trí

tuệ

+ Học thuyết về nhà nước: Nhà nước được hình thành khơng phải do

mong muốn của một các nhân mà nó là sự phát triển cao nhất của ý niệm

thiện về đạo đức nhằm dung hòa quyền lợi giữa người giàu và người nghèo.

Tinh thần của nhà nước được thể hiện trong mỗi công dân với sự tự ý thức

cao độ của họ.

Nhà nước theo cách hiểu của Hegel không chỉ bao gồm cơ quan hành

pháp mà còn gồm cả tổng thể các quy chế, kỷ cương, chuẩn mực về các lĩnh

vực đạo đức, pháp quyền, chính trị, văn hóa.

Để hiểu toàn bộ nội dung Triết học pháp quyền của Hegel chúng ta phải

hiểu một khái niệm cơ bản là “ý chí tự do”. Vậy ý chí tự do là gì?

Theo Hegel muốn hiểu khái niệm ý chí tự do phải phân biệt được ý chí

tự do với tư cách là khái niệm và ý chí tự do với tư cách là ý niệm.

Ý chí tự do với tư cách là khái niệm là ý chí định hướng vào một cái

xác định, tạo ra một nội dung nhất định cho hoạt động của mình, xác lập cho



mình một giới hạn xác định, là một yếu tố cấu thành của khái niệm về ý chí tự

do.

Ý chí tự do với tư cách là ý niệm được Hegel chia thành 3 giai đoạn

trong q trình phát triển của ý chí:

Ý chí tự niên hay ý chí trực tiếp: loại ý chí này mới hàm chứa khả năng

của tự do, nó có ở trẻ thơ. Trẻ thơ tự do nhưng có thể trở thành con người lý

tính hoặc con người tự do bởi vì nó khơng biết đến và khơng ý thức được sự

tự do này của mình.

Ý chí tùy tiện: là loại ý chí tự do chỉ cho bản thân nó. Được đặc trưng

bởi 2 yếu tố: một là, năng lực trìu tượng khỏi mọi ảnh hưởng đến ý chí của

chúng ta gồm cả ảnh hưởng bên ngoài lẫn ảnh hưởng bên trong; hai là, sự phụ

thuộc thực sự của mục đích, nội dung của ý chí vào ảnh hưởng xa lạ nào đó

nên nội dung này hồn tồn là do ảnh hưởng bên ngồi hay bên trong nó

“Quan niệm quen thuộc nhất khi suy nghĩ về tự do là quan niệm về sự tùy

tiện; Sự phản tư dừng lại ở nửa con đường giữa ý chí chỉ do cái ham thích tự

nhiên quyết định và ý chí tự do tự nó và cho nó. Khi chúng ta nghe thấy rằng

tự do nói chung là khả năng làm tất cả những gì mình muốn thì chúng ta có

thể thừa nhận quan niệm như vậy là sự thiếu vắng hồn văn hóa tư duy; trong

quan niệm này vẫn khơng có một chút hiểu biết gì về ý chí tự do tự nó và cho

nó, pháp luật, đạo đức… là gì”.

Ý chí hợp ly – ý chí đích thực tự do: Đây là loại ý chí tồn tại tự nó và

cho nó “Ý chí tồn tại tự nó và cho nó có đối tượng của mình là bản thân ý chí

như là ý chí, do vậy là mình trong tính thuần túy phổ biến của mình”. Bằng trí

tuệ biết tư duy và mục đích tự giác là cái hợp lý (nghĩa là tuân theo cái tất

yếu) ta đạt được ý chí hợp lý.

Các nguyên lý của triết học pháp quyền của Hegel là một trong vài tác

phẩm kinh điển trong lịch sử của triết học chính trị, bàn luận về hầu hết mọi

chủ đề liên quan đến đời sống thực hành của con người. Chính vì tính chất



“thực hành” đó mà cuốn sách thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà phê bình,

và cũng bị phê phán từ đủ mọi hướng...

Hegel tìm cách chứng minh rằng lĩnh vực thực hành cũng tuân theo

diễn trình của những quy định logic. Nói cách khác, phương pháp tư biện của

khoa học logic của ông được triển khai ở đây.

Theo Hegel, có một trình tự pháp quyền từ thấp lên cao (tương ứng với

phép biện chứng đi lên của ông): “Pháp quyền” của pháp quyền trừu tượng

(tức nhân thân), của luân lý và đời sống đạo đức (gia đình, xã hội dân sự, nhà

nước), và sau cùng, của lịch sử thế giới (được ông gọi là “pháp quyền tối

cao”).

Tiến trình “tự phát triển” này mang hai đặc điểm, đồng thời cũng là hai

hệ quả gây nhiều tranh cãi: (1) Cấp độ phát triển cao hơn, cụ thể hơn ln có

quyền hạn hay lẽ phải cao hơn đối với cấp độ thấp hơn; (2) Khơng có sự xung

đột giữa các cấp độ mà chỉ có sự xung đột bên trong một cấp độ. Pháp quyền

ở cấp độ thấp luôn phải nhường bước cho cấp độ cao hơn. Ví dụ: pháp quyền

hay quyền hạn của nhà nước sẽ không bị luân lý (thuộc cấp độ thấp hơn) giới

hạn, mà phải nhường công việc “phán xử” ấy cho “quyền hạn tuyệt đối” của

“tinh thần thế giới” trong lịch sử thế giới (ở cấp độ cao hơn), hiểu như “tòa án

thế giới”.

Thực ra, những hệ quả này đã có mầm mống nơi “lập trường phê phán

Kant” của Hegel. Trong khi Kant thao thức với câu hỏi: “Tơi phải làm gì?”,

thì với Hegel lại khơng khó khăn như vậy: “Con người phải làm gì, đâu là

những nghĩa vụ mà con người phải thực hiện để trở nên có đức hạnh là điều

dễ dàng trả lời ở trong một cộng đồng đạo đức. Đó là con người khơng phải

làm điều gì khác ngồi những gì đã được quy định, đã được ban bố”.

Rõ ràng Hegel là đại biểu của một nền “đạo đức học định chế", theo đó

sự đúng đắn và bổn phận ràng buộc của con người trong xã hội do bản thân

cấu trúc của các định chế mang lại (các định chế là những quyền lực đạo đức),

mà kỳ cùng là định chế nhà nước.



Theo quan niệm của Hegel, những định chế tồn tại đúng thật đáng cho

hầu hết chúng ta phó mặc sinh mệnh đạo đức của mình mỗi khi chúng ta lâm

vào tình thế xung đột khơng lối thốt. Vì nếu Thánh Augustine thánh thiện

“khắc khoải không yên cho đến khi được yên nghỉ trong tay Thượng Đế”, ta

trần tục nhiều lúc cũng muốn “yên nghỉ” trong tay “những định luật tự nhiên”

III. ĐÁNH GIÁ TRIẾT HỌC LỊCH SỬ VÀ TRIẾT HỌC PHÁP

QUYỀN CỦA HEGEL

3.1- Đánh giá giá trị và hạn chế của Triết học lịch sử.

3.1.1. Giá trị

Hegel đã cố thực hiện một cơng trình nghiên cứu lịch sử xã hội lồi

người như một q trình thống nhất.

Hegel đã nghiên cứu lịch sử dựa trên lý luận về sự phát triển khi ông

cho rằng lịch sử như là quá trình thực hiện cái hợp lý trong xã hội lồi người.

Trong khi nghiên cứu lịch sử Hegel đã gắn lịch sử với sự tiến bộ (gắn

liền với sự tiến bộ của tự do).

3.1.2. Hạn chế

Trong khi nghiên cứu lịch sử Hegel thể hiện là một người sùng bái lý

tính, lấy lý tính làm căn cứ của tồn bộ lịch sử loài người.

Qua sự nghiên cứu lịch sử loài người cho thấy Hegel đề cao dân tộc

Đức một cách thái quá và hạ thấp nhiều giá trị trong lịch sử của các dân tộc

khác.

Lênin dánh giá về Triết học lịch sử của Hegel: “Nói chung Triết học

của lịch sử mang lại rất ít, rất ít – điều đó cũng dễ hiểu bởi vì chính ở đây,

chính trong lĩnh vực này, trong khoa học này, Mác và Ăng-ghen đã tiến một

bước lớn nhất. Ở đây, Hegel đã tỏ ra già cỗi nhất, đã trở thành một đồ cổ”.



3.2- Đánh giá giá trị và hạn chế của Triết học pháp quyền

3.2.1. Giá trị

Nghiên cứu pháp quyền là nghiên cứu về cái đang “hiện tồn”. Tính hợp

lý của nó thể hiện: cần phải nghiên cứu một cách khác quan về cái đang hiện

thực để hiểu sâu sắc về chính bản thân nó, tránh rơi vào chủ quan.

Nó bảo vệ cho chế độ sở hữu của riêng, nghĩa là trong thời kỳ này tư

tưởng pháp quyền của ông manh nha ý tưởng bảo vệ cho lập trường của giai

cấp tư sản, chống giai cấp địa chủ phong kiến.

Triết học pháp quyền của Hegel có ý nghĩa mang tính chất dự báo cho

tương lai “cả Triết học Đức, cái thước đo phức tạp nhất nhưng cũng chuẩn xác

nhất ấy về sự phát triển của tư tưởng Đức cũng đứng về phía tư sản khi Hegel

trong cuốn “Nguyên lý Triết học pháp quyền” của mình, đã tuyên bố rằng chế

độ quân chủ lập hiến là hình thức chính quyền cao nhất và hồn thiện nhất.

Nói cách khác, ông đã báo trước việc giai cấp tư sản Đức sắp lên nắm chính

quyền” – Đây là lời nhận xét của Engel 30 năm sau khi xuất bản cuốn “Triết

học Pháp quyền” của Hegel.

3.2.2. Hạn chế

Dung hòa các mâu thuẫn trong xã hội. Lý luận pháp quyền của Hegel

chủ yếu đi chứng minh cho tính hợp lý của cái đang tồn tại.

Hạn chế về lập trường giai cấp có tính chất bảo thủ, bảo vệ nhà nước

Phổ. Mặc dù, ông có ý tưởng bảo vệ cho quyền sở hữu của gia cấp tư sản

nhưng xét đến cùng lập trường của ông vẫn là để bảo vệ giai cấp địa chủ

phong kiến, quý tộc Phổ. Nó thể hiện sự giao động, tính mâu thuẫn trong triết

học của ơng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2- Triết học pháp quyền

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×