Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Giáo viên hướng dẫn: : TS. Lê Đức Hoàng

Giáo viên hướng dẫn: : TS. Lê Đức Hoàng

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, cùng với xu hướng tồn cầu hố

đã mở ra những cơ hội cùng những thách thức mới cho các doanh nghiệp. Do đó để có

thể tồn tại và phát triển trong môi trường rộng lớn, giàu tiềm năng nhưng cũng đầy rủi ro

mạo hiểm này, các doanh nghiệp luôn phải nắm bắt được những biến động trên thị trường

và có kế sách ứng phó kịp thời. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào mà một doanh nghiệp có thể

giải quyết được vấn đề trên, trong khi đó phải tiếp tục duy trì các hoạt động sản xuất kinh

doanh của mình sao cho có hiệu quả. Nhờ có phân tích tình hình tài chính của doanh

nghiệp, chúng ta sẽ có cái nhìn chung nhất về thực trạng tài chính của doanh nghiệp đó,

giúp các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp xác định được trong điểm trong cơng tác

quản lý tài chính, tìm ra những giải pháp tài chính hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt

động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hơn nữa có rất nhiều chủ thể kinh tế khác

cũng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp dưới nhiều góc độ tuỳ theo mục

đích của mỗi chủ thể. Vì vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp đóng vai trò ngày càng

quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp nói chung và của

CTCP nhựa - bao bì Vinh - VBC nói riêng.

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, nhóm em lựa chọn đề tài: “Đánh giá tình

hình tài chính của CTCP nhựa - bao bì Vinh - VBC”

Bài thảo luận được chia làm 3 phần chính:

Phần 1: Phân tích chung về ngành nhựa – bao bì tại Việt Nam

Phần 2: Khái quát về CTCP nhựa – bao bì Vinh - VBC

Phần 3: Phân tích, đánh giá khái qt tình hình tài chính doanh nghiệp thơng qua các chỉ

số



I.



PHÂN TÍCH CHUNG VỀ NGÀNH NHỰA – BAO BÌ TẠI VIỆT NAM:



Trên thế giới cũng như là ở Việt Nam, Nhựa là ngành cơng nghiệp còn khá non trẻ

so với những ngành công nghiệp khác như cơ khí, điện – điện tử, dệt may… nhưng đây

lại là ngành có tốc độ tăng trưởng rất mạnh mẽ.

Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển của xã hội, ngành công nghiệp

Nhựa ngày càng gia tăng nhanh chóng khơng chỉ về sản lượng sản xuất mà còn nâng cao

cả về chất lượng. Đây là ngành công nghiệp tiêu biểu cho hoạt động sản xuất trong nước,

thu hút một lượng lớn lao động. Tuy nhiên, sự phát triển của ngành nhựa cũng kéo theo

các hệ lụy về ô nhiễm môi trường. Việc thực hiện trách nhiệm xã hội về bảo vệ môi

trường và hướng tới cộng đồng là nhân tố quan trọng đóng góp vào sự phát triển bền

vững của Doanh nghiệp.

Chỉ riêng trong giai đoạn 2010 – 2015, ngành Nhựa đã vươn lên là một trong

những ngành cơng nghiệp có tăng trưởng cao nhất của Việt Nam, với mức tăng hàng năm

từ 16% - 18% (chỉ sau ngành viễn thơng và dệt may), có những mặt hàng tốc độ tăng

trưởng đạt gần 100%/năm. Điều này cũng xuất phát từ chính đặc điểm của thị trường nội

đia nước nhà khi ngành Nhựa mới chỉ ở bước đầu phát triển so với thế giới do đó còn

nhiều tiềm năng chưa khai thác hết cùng với sự thiết yếu của các sản phẩm ngành Nhựa

trong tất cả các lĩnh vực đời sống thường ngày của người dân. Nhằm phát triển một

ngành cơng nghiệp nhựa vững mạnh, năm 2011 Chính phủ Việt Nam đã thông qua kế

hoạch phát triển ngành công nghiệp Nhựa Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2025

đã được sự chấp thuận của Bộ Công nghiệp và Thương mại.

Theo kế hoạch này, mục tiêu ngành Nhựa Việt Nam sẽ đạt giá trị sản xuất công

nghiệp 78.5 nghìn tỷ đồng vào năm 2015 và 181.57 nghìn tỷ đồng vào năm 2020. Tốc độ

tăng trưởng giá trị sản xuất trong giai đoạn 2011 – 2020 theo kế hoạch được duyệt sẽ ở

mứ 17.5%/năm, ngành công nghiệp nhựa sẽ chiếm 5.5% tổng giá trị sản xuất công nghiệp

vào năm 2020. Kế hoạch xuất khẩu sản phẩm nhựa sẽ đạt tốc độ tăng trưởng hàng năm là

15% để đạt 2.15 tỷ USD vào năm 2015 và 4.3 tỷ USD vào năm 2020.

Hiện nay các sản phẩm ngành Nhựa của Việt Nam đang có mặt tại gần 160 nước

với kim ngạch xuất khẩu ngành nhựa tăng khá mạnh qua các năm điển hình là từ 1,2 tỷ

USD vào 2012 tăng gấp đơi lên 2,4 tỷ USD vào 2015. Từ đó đưa sản phẩm ra rộng hơn

với thị trường quốc tế như Nhật Bản, Mỹ, một số quốc gia thuộc khu vực châu Âu và

ASEAN,… Nguồn nguyên liệu đầu vào phụ thuộc chủ yếu vào nhập khẩu từ nước ngồi

do ngành Hóa dầu trong nước chưa phát triển và áp lực đến từ các Hiệp định thương mại

tự do sẽ là các khó khăn chính mà ngành Nhựa trong nước phải đối mặt trong thời gian

tới.



II.



KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA - BAO BÌ VINH – VBC



1. Giới thiệu về cơng ty:

Cơng ty Cổ phần Nhựa - Bao bì Vinh (tên quốc tế: Vinh Plastic And Bags Joint

Stock Company - Viết tắt: VBC) là công ty chuyên sản xuất và cung ứng bao bì xi măng,

bao bì nơng sản và các loại bao bì nhựa uy tín, chất lượng tại Thành phố Vinh.

Được thành lập từ năm 1990, đến nay đơn vị vẫn khẳng định vị trí là một trong

những nhà phân phối lớn sản phẩm bao bì các loại, đảm bảo hàng cung ứng liên tục, giao

hàng đúng hẹn. Với đội ngũ nhân viên không ngừng lớn mạnh (khoảng 1000 người), hệ

thống trang thiết bị máy móc hiện đại tiên tiến, Bao bì Vinh cam kết: Mang tới khách

hàng những sản phẩm chất lượng tốt nhất, giá cả cạnh tranh nhất.

a. Lịch sử hình thành:

Cơng ty Cổ phần Nhựa - Bao bì Vinh tiền thân là Nhà máy Nhựa Bao bì thuộc

Cơng ty Hợp tác kinh tế - Qn khu 4, được thành lập theo quyết định số 1531/QĐ/QP

ngày 31 tháng 8 năm 1996 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Sau một thời gian xây dựng và

ổn định bộ máy, đầu năm 1997 đơn vị chính thức đi vào hoạt động.

Thực hiện chủ trương của Nhà nước về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao

hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, ngày 10/10/2002 Bộ Quốc phòng phê duyệt

phương án thí điểm chuyển Nhà máy Nhựa Bao bì thuộc Công ty Hợp tác kinh tế thành

Công ty Cổ phần Nhựa - Bao bì Vinh theo Quyết định số 144/2002/QĐ-BQP của Bộ

trưởng Bộ Quốc phòng. Cơng ty Cổ phần Nhựa - Bao bì Vinh đi vào hoạt động theo mơ

hình Cơng ty Cổ phần ngày 01/01/2003.

Ngày 04/02/2010 Sở Giao dịch Chứng khốn Hà Nội đã có Quyết định số 66/QĐSGDHN về việc chấp thuận niêm yết cổ phiếu Công ty Cổ phần Nhựa - Bao bì Vinh

(VBC) tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Ngày 17/03/2010 là ngày giao dịch đầu

tiên cổ phiếu VBC. Tháng 8 năm 2011, công ty mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh

bằng việc chính thức đưa vào hoạt động Nhà máy sản xuất bao bì cơ sở II tại Gia lách,

Nghi xuân Hà tĩnh với tổng vốn đầu tư 54 tỷ đồng.

Qua hơn 15 năm hoạt động công ty đã phát triển vững mạnh về mọi mặt và trở

thành Công ty sản xuất bao bì lớn nhất khu vực miền Trung với sản lượng trên 100 triệu

vỏ bao mỗi năm. Sản phẩm của cơng ty có mặt trên thị trường tồn quốc và được khách

hàng tin cậy.

b. Lĩnh vực kinh doanh

- Ngành nghề kinh doanh:



Sản xuất, mua, bán bao bì xi măng, bao bì PP, PE và các sản phẩm bằng nhựa.



Mua, bán vật tư, nguyên liệu, thiết bị sản xuất bao bì các loại (hạt nhựa, giấy

Krapt, máy móc sản xuất bao bì…);

- Địa bàn kinh doanh: Tồn quốc

c. Vị thế cơng ty

Cơng ty đã có trên 10 năm kinh nghiệm sản xuất kinh doanh bao bì và hệ thống

khách hàng đã quan hệ gắn bó nhiều năm. Sản phẩm của công ty được sản xuất trên dây

chuyền công nghệ mới, tiên tiến và đồng bộ được nhập khẩu từ Đức, Áo, Ấn Độ, Đài

Loan và được tiêu thụ trên toàn quốc thông qua kênh phân phối bán hàng của công ty tại

Thành phố Vinh.



d. Chiến lược phát triển

Trong năm tới và những năm tiếp theo Công ty tiếp tục phát huy tốt công suất thiết

bị tại hai cơ sở, giữ vững thị trường hiện có và khai thác, lựa chọn các thị trường mới có

hiệu quả về kinh doanh và khả năng thanh thanh tốn.

Tiếp tục đầu tư hồn thiện dây chuyền máy móc thiết bị phục vụ sản xuất bao

container loại 1,5-2 tấn và bao Jumboo nhằm giảm tối đa lượng vật tư ngun liệu hiện

phải mua ngồi.

Tìm kiếm thị trường và các ngành nghề sản xuất mới liên quan đến ngành nhựa để

đầu tư giai đoạn II Dự án Nhà máy sản xuất bao bì tại Cơ sở II Gia lách, Nghi xuân, Hà

tĩnh.

2. Đánh giá chung tình hình hoạt động của Cơng ty năm 2017:

Năm 2017, Cơng ty Cổ phần Nhựa - Bao bì Vinh hoạt động trong điều kiện nền

kinh tế thế giới phát triển ổn định, kinh tế Việt Nam tham gia hội nhập sâu rộng vào các

tổ chức Thương mại trong khu vực và Quốc tế. Lạm phát tương đối ổn định, lãi vay ngân

hàng vẫn duy trì ở mức tương đối cao; cạnh tranh về lao động giữa các doanh nghiệp

ngày càng lớn. Tiền lương tối thiểu, chi phí BHXH, BHYT do nhà nước quy định tăng

đều hàng năm....các yếu tố trên đó tác động đến giá thành sản phẩm và hiệu quả của công

ty. Giá cả nguyên vật liệu đầu vào của ngành sản xuất bao bì biến động thường xuyên.

Ngành xây lắp xây dựng bị hạn chế về đầu tư công nên mặt hàng xi măng thiêu thụ chậm.

Mặt hàng xi măng xuất khẩu chịu thuế xuất ở mức cao nên hạn chế xuất khẩu. Cạnh tranh

giữa các doanh nghiệp trong ngành sản xuất bao bì để tăng thị phần diễn ra rất gay gắt.

Trong nhiệm kỳ qua Công ty sản xuất tăng trưởng hàng năm với các chỉ số tăng

trưởng năm sau cao hơn năm trước. Công ty đã đầu tư hàng năm để đáp ứng nhu cầu thị

trường, đến nay công ty đã đầu tư sản xuất đồng bộ cho 3 nhà máy (nhà máy 1; nhà máy

2; nhà máy 3) đảm bảo được yêu cầu của khách hàng với năng lực sản xuất đạt trên 765

tỷ đồng/ năm. Công tác thị trường và chất lượng sản phẩm được Công ty đặc biệt quan

tâm, hiện nay công ty tập trung phát triển mở rộng thị trường xuất khẩu đối với các dòng

sản phẩm bao PP, OPP, jambo, sling. Cơng tác kỹ thuật, cơng nghệ, kiểm sốt chất lượng,

quản lý các định mức kinh tế kỹ thuật được duy trì chặt chẽ và hiệu quả do đó chất lượng

sản phẩm về cơ bản đảm ứng được yêu cầu của người dùng; ưu tiên cải tiến công nghệ,

tăng năng suất lao động giảm giá thành sản xuất để sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị

trường.

Thực hiện có hiệu quả việc kiểm soát chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn ISO

9001-2008, Thị phần của công ty ngày càng được mở rộng và phát triển trên thị trường.

Ngồi ra ln đảm bảo việc làm cho người lao động, bố trí sắp xếp lao động hợp lý,

không ngừng nâng cao đời sống cho người lao động; thực hiện đầy đủ các chế độ chính

sách về tiền lương, thưởng, ăn ca, chế độ bồi dưỡng độc hại, BHXH, BHYT, chế độ hợp

đồng…đối với người lao động theo pháp luật quy định và quy chế của cơng ty. Các hoạt

động về cơng tác Đảng, Đồn, thanh niên, phụ nữ được duy trì và hoạt động có hiệu quả

từ đó tạo ra nét văn hóa riêng của công ty. Tổ chức biên chế, nhân sự chủ chốt trong năm

2017 có nhiều thay đổi đã phần nào ảnh hưởng đến công tác quản lý điều hành của cơng

ty. Tuy nhiên nhờ sự đồng lòng từ ban quản trị cho tới cán bộ công nhân viên nên công

tác thị trường và quản lý điều hành sản xuất dần ổn định và phát huy có hiệu quả. Chất



lượng sản phẩm được duy trì, khẳng định được thương hiệu và uy tín đối với khách hàng.

Các chỉ tiêu chính về sản xuất kinh doanh đã đạt và vượt kế hoạch đặt ra. Trong đó

Doanh thu thuần đạt hơn 763 tỷ đồng vượt kế hoạch 8.76% dẫn đến lợi nhuận sau thuế

cũng tăng 8.11% so với kế hoạch và đạt gần 27 tỷ đồng vào cuối năm 2017.



III.



PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ KHÁI QT TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH

NGHIỆP



1. Phân tích tình hình thơng qua Bảng cân đối kế tốn:

Bảng cân đối kế toán là một phương pháp kế toán và là một báo cáo kế toán chủ

yếu phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp theo hai cách phân loại là kết

cấu vốn và nguồn hình thành vốn hiện có của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất

định. Bảng cân đối kế tốn là bức tranh tồn cảnh về tình hình tài chính của doanh nghiệp

tại thời điểm lập báo cáo. Phân tích bảng cân đối kế tốn chúng ta sẽ thấy được khái qt

tình hình tài chính, trình độ quản lý và xử lý vốn, triển vọng kinh tế tài chính của cơng ty

để định hướng cho việc nghiên cứu, phân tích tiếp theo.

a. Đánh giá khái quát sự biến động về vốn và nguồn vốn:

Năm

Năm

Năm

Năm

Chỉ tiêu

2014KT/ĐL

2015KT/ĐL 2016KT/ĐL 2017KT/ĐL

Tài sản ngắn hạn



206,805



235,254



299,053



316,785



Tiền và các khoản tương

đương tiền



1,245



347



7,942



8,092



Các khoản phải thu ngắn hạn



144,720



165,140



189,469



221,266



Hàng tồn kho



59,015



68,331



97,943



85,214



Tài sản ngắn hạn khác



1,826



1,436



3,698



2,213



Tài sản dài hạn



53,311



48,911



81,179



103,124



Tài sản cố định



49,095



40,376



72,409



95,679



Tổng cộng tài sản



260,116



284,165



380,232



419,909



Nợ phải trả



173,079



189,037



282,026



315,460



Nợ ngắn hạn



166,593



189,037



260,725



285,451



Nợ dài hạn



6,485



21,301



30,009



Vốn chủ sở hữu



87,038



95,128



98,206



104,449



Vốn đầu tư của chủ sở hữu



30,000



30,000



30,000



75,000



Thặng dư vốn cổ phần



1,450



1,450



1,450



1,450



Lợi nhuận sau thuế chưa phân

phối



21,456



25,491



26,436



26,811



260,116



284,165



380,232



419,909



Các khoản đầu tư tài chính

ngắn hạn



Bất động sản đầu tư

Các khoản đầu tư tài chính dài

hạn



Lợi ích của cổ đơng thiểu số

Tổng cộng nguồn vốn



CÂN

ĐỐI

KẾ

TỐN

Tổng

cộng tài

sản



Nghiên cứu sự biến động về vốn và nguồn vốn sẽ cho ta biết được sự biến động về

quy mô kinh doanh, năng lực kinh doanh của công ty.



Đánh giá khái quát sự biến động về vốn:

Năm

Năm Năm

2014/2015

2015/2016

2016/2017

Năm

2015

2016

2017

2014

Số

KT/Đ KT/Đ KT/Đ

% Số tiền

%

Số tiền

%

KT/ĐL

tiền

L

L

L

260,116



284,16

5



380,23

2



419,9

09



24,04

9



9.25



96,067



33.81



39,677



110.4

3



Tổng giá trị tài sản năm 2014 là thấp nhất 260,116 triệu đồng. Đến năm 2017, tổng

giá trị tài sản của Công ty đã là 419,909 triệu đồng, tăng 159,793 triệu đồng, tăng 61,43%

so với năm 2014. Mức tăng của năm 2016 so với 2015 là cao nhất, 33,81%. Chứng tỏ,

quy mô kinh doanh của công ty tăng lên đáng kể. Năm 2017 tăng 10,43% so với năm

2016.

→ Như vậy, theo nhận định ban đầu, theo quy mô năm 2014 là thấp nhất trong 4

năm, công ty đã không ngừng mở rộng quy mô kinh doanh trong 3 năm tiếp theo. Quy

mô được mở rộng nhất trong năm 2016. Tuy nhiên, đây mới chỉ là phân tích trên tổng thể,

sự tăng giảm tài sản chỉ nói lên rằng quy mô hoạt động kinh doanh của Công ty trong

năm được mở rộng hay thu hẹp, chưa thấy được nguyên nhân làm gia tăng vốn và hiệu

quả của việc điều tiết quy mô kinh doanh trên là tốt hay xấu. Vì thế, chúng ta sẽ tiếp tục

phân tích sâu hơn.



Đánh giá khái quát sự biến động về nguồn vốn:

Năm

Năm

Năm

Năm

2014/2015

2015/2016

2016/2017

CÂN ĐỐI 2014

2015

2016

2017

Số

Số

KẾ TOÁN KT/Đ KT/Đ KT/Đ KT/Đ Số tiền %

%

%

tiền

tiền

L

L

L

L

Nợ

phải 173,07 189,03 282,02 315,46

92,98 49.19

33,43 11.85

15,958

9.22%

trả

9

7

6

0

9

%

4

%

Vốn chủ

104,44

87,038 95,128 98,206

8,090

9.29% 3,078 3.24% 6,243 6.36%

sở hữu

9

260,11 284,16 380,23 419,90

96,06 33.81

39,67 10.43

Tổng

24,048

9.25%

7

5

2

9

7

%

7

%

Giống như tổng tài sản, nguồn vốn cũng tăng qua các năm đúng bằng giá trị của

tổng tài sản. Mà nguồn vốn thì được hình thành từ vốn chủ sở hữu và nợ phải trả, do đó

chúng ta cần phải biết sự gia tăng này là từ đâu, có hợp pháp khơng?

Qua bảng trên ta thấy được, tổng nguồn vốn tăng lên qua các năm từ 2014 đến

2017 phần lớn là do nợ phải trả tăng. Năm 2016 tăng mạnh nhất, tăng 92,989 triệu đồng

so với năm 2015. Trong khi đó, nguồn vốn chủ sở hữu chỉ tăng nhẹ, nhiều nhất là 8,090



triệu đồng trong năm 2015 so với năm 2014. Tuy vậy, nguồn vốn chủ sở hữu tăng lên qua

các năm cũng là một dấu hiệu đáng mừng, khả quan đối với cơng ty vì cơng ty có xu

hướng tự chủ vì tài chính.

→ Việc vốn chủ sở hữu tăng qua các năm là điều đáng mừng, cho thấy công ty

hoạt động có lãi và có xu hướng tự chủ về mặt tài chính. Tuy nhiên, ta đặc biệt chú ý năm

2016, vì để mở rộng quy mơ kinh doanh, cơng ty đã tăng phần nợ phải trả lên quá cao,

điều này có thể làm cho chí phí tài chính tăng theo. Năm 2017 khả quan hơn, công ty

giảm nợ phải trả xuống còn khoảng 1/3 và tăng vốn chủ sở hữu gấp 2 lần.



Phân tích tính cân đối giữa vốn và nguồn vốn:

Phân tích tính cân đối giữa tài sản và nguồn vốn là xét mối quan hệ giữa tài sản và

nguồn vốn nhằm đánh giá khái quát tình hình phân bổ, huy động sử dụng các loại vốn và

nguồn vốn. Qua đó, chúng ta có thể đánh giá được sự cân bằng tài chính của doanh

nghiệp.

 Tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn:

CÂN ĐỐI

TOÁN



KẾ Năm

2014KT/ĐL



Năm

2015KT/ĐL



Năm

2016KT/ĐL



Năm

2017KT/ĐL



Tài sản ngắn hạn



206,805



235,254



299,053



316,785



Nợ ngắn hạn



166,593



189,037



260,725



285,451



Tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ ngắn hạn là điều hợp lý vì dấu hiệu này thể hiện

doanh nghiệp giữ vững quan hệ cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, sử dụng

đúng mục đích nợ ngắn hạn. Đồng thời, nó cũng chỉ ra một sự hợp lý trong chu chuyển

tài sản ngắn hạn và kỳ thanh toán nợ ngắn hạn. Ngược lại, nếu tài sản ngắn hạn nhỏ hơn

nợ ngắn hạn điều này chứng tỏ doanh nghiệp không giữ vững quan hệ cân đối giữa tài

sản ngắn hạn với nợ ngắn hạn vì xuất hiện dấu hiệu doanh nghiệp đã sử dụng một phần

nguồn vốn ngắn hạn vào tài sản dài hạn. Mặc dù nợ ngắn hạn có khi do chiếm dụng hợp

pháp hoặc có mức lãi thấp hơn lãi nợ dài hạn tuy nhiên chu kỳ luân chuyển tài sản khác

với chu kỳ thanh toán cho nên dễ dẫn đến những vi phạm nguyên tắc tín dụng và có thể

đưa đến một hệ quả tài chính xấu hơn.

 Tài sản dài hạn và nợ dài hạn:

CÂN ĐỐI KẾ TOÁN

Tài sản dài hạn

Nợ dài hạn

Vốn chủ sở hữu



Năm

KT/ĐL

53,311

6,485

87,038



2014 Năm 2015 Năm 2016

KT/ĐL

KT/ĐL

48,911

81,179

21,301

95,128

98,206



Năm 2017

KT/ĐL

103,124

30,009

104,449



Tài sản dài hạn của Cơng ty Cổ phần Nhựa - Bao bì Vinh lớn hơn nợ dài hạn và

phần thiếu hụt được bù đắp từ vốn chủ sở hữu cũng là điều hợp lý. Vì nó thể hiện doanh

nghiệp sử dụng đúng mục đích nợ dài hạn là cả vốn chủ sở hữu, nhưng nếu phần thiếu

hụt được bù đắp từ nợ ngắn hạn là điều bất hợp lý như trình bày ở phần cân đối giữa tài

sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn phía trên. Nếu phần tài sản dài hạn nhỏ hơn nợ dài hạn điều



này chứng tỏ một phần nợ dài hạn đã chuyển vào tài trợ tài sản ngắn hạn. Hiện tượng này

vừa làm lãng phí chi phí lãi vay nợ dài hạn vừa thể hiện sử dụng sai mục đích nợ dài hạn.

Điều này có thể dẫn đến lợi nhuận kinh doanh giảm và những rối loạn tài chính doanh

nghiệp.

 Hệ số tài sản trên vốn chủ sở hữu = Tài sản/Vốn chủ sở hữu

CÂN ĐỐI KẾ TOÁN



Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017

KT/ĐL

KT/ĐL

KT/ĐL

KT/ĐL



Tổng cộng tài sản

Vốn chủ sở hữu

Hệ số tài sản trên vốn chủ sở hữu



260,116

87,038

2.99



284,165

95,128

2.99



380,232

98,206

3.87



419,909

104,449

4.02



Đây là chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư tài sản của doanh nghiệp bằng vốn chủ sở

hữu. Trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1 thì chứng tỏ tài sản của doanh nghiệp được tài

trợ bằng vốn chủ sở hữu càng ít làm cho khả năng độc lập về tài chính của doanh nghiệp

càng kém và ngược lại. Công ty Cổ phần Nhựa - Bao bì Vinh đang có hệ số này khá cao

và tăng theo từng năm.

 Hệ số nợ trên tài sản = Tổng nợ phải trả/Tổng tài sản

CÂN

ĐỐI

Năm

2014 Năm 2015 Năm

2016 Năm

2017

KẾ TOÁN

KT/ĐL

KT/ĐL

KT/ĐL

KT/ĐL

Nợ phải trả

173,079

189,037

282,026

315,460

Tổng cộng tài sản

260,116

284,165

380,232

419,909

Hệ số nợ trên tài sản 0.67

0.67

0.74

0.75

Chỉ tiêu này cho biết mức độ doanh nghiệp dùng các khoản nợ đầu tư cho tài sản

là bao nhiêu. Hệ số nợ cao, mức độ an toàn tài chính giảm đi, mức độ rủi ro cao hơn và

có thể doanh nghiệp sẽ bị lỗ nặng nếu hoạt động sản xuất kinh doanh khơng ổn định,

nhưng doanh nghiệp có khả năng thu lợi nhuận cao khi điều kiện kinh tế thuận lợi. Dù

vậy, nếu hệ số nợ này quá cao thì doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh

tốn và khơng thể kiểm sốt được hoạt động của mình. Cơng ty Cổ phần Nhựa - Bao bì

Vinh đang có hệ số này ở mức tương đối, vẫn trong tình trạng có thể kiểm sốt được các

hoạt động của mình.

2. Phân tích tình hình tài chính thơng qua bảng Báo cáo kết quả hoạt động kinh

doanh

Năm 2016, doanh thu của Công ty chủ yếu đến từ doanh thu bán thành phẩm,

chiếm tới hơn 96% trong cơ cấu doanh thu. Sang năm 2017, doanh thu theo thành phẩm

vẫn tiếp tục ưu thế của mình và chiếm đến 99% trong khi đó doanh thu tiêu dùng nội địa

cũng khẳng định lợi thế với hơn 80% trong cơ cấu doanh thu của doanh nghiệp.

Năm 2017 đánh dấu sự thành công của nền kinh tế với mức GDP cao nhất trong

vòng 6 năm trở lại đây. Cùng với sự phát triển này, trong năm 2017, Cơng ty Cổ phần

Nhựa Bao bì Vinh ghi nhận kết quả tương đối khả quan. Doanh thu thuần đạt hơn 763 tỷ

đồng, tăng 1.09 lần so với năm 2016 và là mức cao nhất từ năm 2014 trở lại đây. Trong

khi đó, Lợi nhuận trước thuế đạt hơn 34 tỷ đồng, tăng 1.3 lần so với 2016 dù sau cùng



Lợi nhuận sau thuế năm 2017 đạt được chỉ gần 27 tỷ đồng, tăng 1.01 lần so với năm

2016. Nhờ kết quả kinh doanh khả quan mà trong năm 2017, Cơng ty đã hồn thành và

vượt tất cả các chỉ tiêu kế hoạch đặt ra tại Đại hội đồng cổ đông.

Trong năm 2017 các chỉ tiêu cơ bản đều đạt và vượt so với kế hoạch năm đặt ra.

Doanh thu thuần và Lợi nhuận sau thuế năm 2017 lần lượt đạt 736 tỷ đồng và 27 tỷ đồng

tương ứng tăng 8.76% và 8.11% so với kế hoạch đề ra năm trước. Các máy móc đã đầu tư

phát huy công suất, nâng doanh thu, lợi nhuận và tạo công ăn việc làm cho người lao

động. So với năm 2016 thị trường xuất khẩu đã được mở rộng góp phần nâng doanh thu

của tồn cơng ty đồng thời bù đắp những thiếu hụt do thị trường bao xi măng bị sụt giảm.

Đạt được thành công này không thể không kể đến sự nỗ lực của Ban lãnh đạo doanh

nghiệp trong điều hành lẫn đội ngũ cán bộ công nhân viên giàu kinh nghiệm đã không

ngừng phấn đấu trong việc cải tiến bộ máy sản xuất, nâng cao trình độ cơng nghệ, giúp

hạn chế chi phí nhân cơng, tối thiểu hóa thời gian sản xuất mà cũng tối đa được sản lượng

sản xuất nhất có thể.

3. Phân tích khả năng thanh tốn của Cơng ty Cổ phần Nhựa - Bao bì Vinh

Về tình hình tài chính: Các chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính của Cơng ty ở mức

an tồn; khả năng thanh tốn nợ ngắn hạn >1 lần, thể hiện khả năng thanh tốn ngắn hạn

của Cơng ty tương đối tốt; khả năng thanh tốn nhanh.

4.Phân tích từng tỷ số:

CHỈ

TIÊU



Năm 2014



Năm 2015



Năm 2016



Năm 2017



1.ROA



0.095249768



0.09714082



0.076734126



0.053630481



LNST



26.811



26.436



25.491



21.456



Skd



281.481



272.141



332.199



400.071



2. ROS



0.141111269



0.118510416



0.14882127



0.112645887



LNST



26.811



26.436



25.491



21.456



LCT



189.999



223.069



171.286



190.473



3. ROE



0.264601386



0.273474919



0.279865617



0.253218935



Svc



101.326



96.667



91.083



84.733



Qua bảng phân tích trên ta có thể thấy, khả năng sinh lời của cơng ty là khơng khả quan

và điều này có thể khơng làm n lòng các chủ thể có lợi ích liên quan.

- Hệ số sinh lời cơ bản cơ bản của vốn kinh doanh (ROA)



+ Hệ số sinh lời cơ bản của vốn kinh doanh ROA năm 2017 là 0.053630481 lần, năm

2016 là 0.076734126 lần, ROA năm 2017 giảm so với năm 2016 là 0,023103645 lần

tương ứng với tỷ lệ giảm 30,1%. Có nghĩa là trong năm 2017, bình quân một đồng vốn

tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra được 0.053630481 đồng lợi nhuận

sau thuế, trong năm 2016, bình quân một đồng vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh

doanh sẽ tạo ra được 0.076734126 đồng lợi nhuận sau thuế. Ở cả hai năm, ROA đều lớn

hơn 0 mà ROA của năm 2017 thấp hơn so với năm 2016 nên việc sử dụng tài sản tham

gia vào quá trình sản xuất kinh doanh là chưa hiệu quả

+ Hệ số sinh lời cơ bản của vốn kinh doanh ROA năm 2016 là 0.076734126 lần, năm

2015 là 0.09714082 lần, ROA năm 2016 giảm so với năm 2015 là 0,020406694 lần tương

ứng với tỷ lệ giảm 21%. Có nghĩa là trong năm 2016, bình qn một đồng vốn tham gia

vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra được 0.076734126 đồng lợi nhuận sau thuế,

trong năm 2015, bình quân một đồng vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ

tạo ra được 0.09714082 đồng lợi nhuận sau thuế. Ở cả hai năm, ROA đều lớn hơn 0 mà

ROA của năm 2016 thấp hơn so với năm 2015 nên việc sử dụng tài sản tham gia vào quá

trình sản xuất kinh doanh là chưa hiệu quả

+Hệ số sinh lời cơ bản của vốn kinh doanh ROA năm 2015 là 0.09714082 lần, năm 2014

là 0.095249768 lần, ROA năm 2015 tăng so với năm 2014 là 0,001891052 lần tương ứng

với tỷ lệ tăng 2%. Có nghĩa là trong năm 2015, bình quân một đồng vốn tham gia vào quá

trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra được 0.09714082 đồng lợi nhuận sau thuế, trong năm

2014, bình quân một đồng vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra được

0.095249768 đồng lợi nhuận sau thuế. Ở cả hai năm, ROA đều lớn hơn 0 mà ROA của

năm 2015 cao hơn so với năm 2014 nhưng Lợi nhuận sau thuế và vốn kinh doanh bình

quân năm 2015 so với 2014 thấp hơn nên việc sử dụng tài sản tham gia vào quá trình sản

xuất kinh doanh là có chút hiệu quả.

-



Hệ số sinh lời hoạt đông (ROS)



+ Hệ số sinh lời hoạt đông (ROS) năm 2017 là 0.112645887 lần, năm 2016 là

0.14882127 lần, ROS năm 2017 giảm so với 2016 là 0,036175383 lần tương ứng với tỷ lệ

giảm 24,3%. Điều này cho biết trong năm 2017, bình quân một đồng thu nhập mà doanh

nghiệp thu được 0.112645887 đồng lợi nhuận sau thuế. Trong năm 2016 bình quân một

đồng thu nhập doanh nghiệp thu về được 0.14882127 đồng lợi nhuận sau thuế. Cả 2 năm

có ROS lớn hơn 0 nên doanh nghiệp làm ăn có lãi, nhưng ROS của 2017 so với 2016 lại

giảm hơn. Lợi nhuận sau thuế và Luân chuyển thuần năm 2016 cao hơn năm 2017 nên

chứng tỏ công tác quản trị chi phí năm 2017 của cơng ty khơng hiệu quả bằng năm 2016

nên doanh nghiệp cần phát huy công tác quản trị chi phí hơn.

+ Hệ số sinh lời hoạt đông (ROS) năm 2016 là 0.14882127 lần, năm 2015 là

0.118510416 lần, ROS năm 2016 tăng so với 2015 là 0,030310854 lần tương ứng với tỷ

lệ tăng 25,5%. Điều này cho biết trong năm 2016, bình quân một đồng thu nhập mà

doanh nghiệp thu được 0.14882127 đồng lợi nhuận sau thuế. Trong năm 2015 bình quân

một đồng thu nhập doanh nghiệp thu về được 0.118510416 đồng lợi nhuận sau thuế. Cả 2



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giáo viên hướng dẫn: : TS. Lê Đức Hoàng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×