Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Nền kinh tế thế giới

1 Nền kinh tế thế giới

Tải bản đầy đủ - 0trang

hụt ngân sách. Trên toàn thế giới, những quốc gia có tổng nợ trên GDP cao nhất gồm có Nhật

Bản (219,9%), Hy Lạp (159,3%), Italia (120,5%), Anh (89,2%), Canada (87%), Pháp (88,5%)

và Tây Ban Nha (71,9%). Châu Âu, đặc biệt là eurozone là khu vực có nhiều quốc gia mắc nợ

nhất. Chẳng hạn, Pháp nợ tới 2.316 tỷ USD, Tây Ban Nha nợ 998 tỷ USD và Đức nợ 2.795 tỷ

USD. Châu Âu cũng là nước có tỷ lệ nợ trên GDP cao nhất, trung bình trên 70%. Cá biệt có

những quốc gia trên 100% như Italia và Hy Lạp. Châu Á cũng là khu vực có tổng nợ khá cao,

chỉ đứng sau Bắc Mỹ và eurozone. Trong đó, Nhật Bản là nước mắc nợ nhiều nhất với 12.642

tỷ USD, xếp sau đó là Trung Quốc, Ấn Độ và Australia. Châu Phi là châu lục nghèo và kém

phát triển nhất thế giới, song lại là châu lục có tổng nợ thấp nhất. Ngồi ra, châu Phi cũng là

châu lục có số quốc gia mắc nợ thấp nhất thế giới. Khu vực Bắc Mỹ cũng nằm trong danh sách

những khu vực có tỷ lệ nợ cơng trên GDP cao nhất.

* Tỷ giá diễn biến bất lợi: Tính đến thời điểm này, nguy cơ nợ tài chính khơng chỉ để lại

nhiều “tàn tích” cho kinh tế các nước mà bên cạnh đó còn đang tiếp diễn mạnh mẽ. Đầu tháng

6/2012, hàng loạt ngân hàng lớn trên thế giới từ châu Âu đến châu Á đã cắt giảm mạnh lãi suất

với hy vọng tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp. Ngân hàng trung ương châu Âu

(ECB) thông báo cắt lãi suất cho vay cơ bản xuống 0,75%, lần đầu tiên dưới 1% trong lịch sử.

Đồng thời, lãi suất tiền gửi qua đêm tại ECB cũng giảm từ 0,25% xuống 0%. Mức lãi các công

cụ cho vay thanh khoản hạ từ 1,75% xuống 1,5%. Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc hạ lãi suất

tham chiếu 25 điểm bắt đầu từ ngày 9/6, lãi suất vay một năm hạ xuống còn 6,31% và lãi suất

huy động còn 3,25%. Khơng chỉ diễn ra ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, xu hướng cắt

giảm lãi suất cũng đã lan sang cả các quốc gia châu Phi khi ngày 11/6 vừa qua, Stanbic Bank,

ngân hàng lớn nhất của Uganda đã thông báo giảm lãi suất cho vay xuống còn 27% bắt đầu từ

ngày 29/6.

*Vốn đầu tư dịch chuyển và suy giảm: Lượng kiều hối đổ về các nước nghèo là một con số

khổng lồ và còn tiếp tục tăng lên bất chấp khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tạo nguồn lực phát

triển cho các nước nghèo trong bối cảnh dòng vốn FDI suy giảm. Theo báo cáo mới đây của

UNCTAD, dòng vốn FDI tồn cầu sẽ đạt mức 1.700 tỷ USD vào năm 2012 và mức 1.900 tỷ

USD vào năm 2013, tương đương với mức cao nhất đã đạt được trong năm 2007.



2



*Tỉ lệ thất nghiệp: Trong số những nước Đông Âu, Bulgaria, Croatia, Estonia, Hungary và

Slovakia sẽ có tỷ lệ thất nghiệp ở mức 2 con số do các nhà xuất khẩu gặp khó khăn và họ cố

gắng thực hiện thay đổi cơ cấu. Hậu quả từ Cuộc nổi dậy Nhân dân Ả rập (Arab Spring) sẽ vẫn

giữ con số thất nghiệp ở Ai Cập và Tunisia ở mức cao. Các nước khác như Jordan, Kenya,

Nigeria và Nam Phi đối mặt với hậu quả tương tự vì nhu cầu từ các nước ngồi giảm hoặc

những yếu kém trên các thị trường lao động. Tây Ban Nha sẽ tiếp tục có tỷ lệ thất nghiệp cao

nhất trong số các nước khu vực đồng euro, với mức dự báo là 20% trong tổng số người có hoạt

động tạo ra kinh tế trong năm 2012 do ngành bất động sản và xây dựng bị vỡ nợ và những vấn

đề về cơ cấu trên thị trường lao động.

*Sản xuất toàn cầu suy giảm mạnh: Hoạt động sản xuất trên toàn cầu tiếp tục suy giảm với

15 trong tổng số 23 nước ghi nhận chỉ số PMI sụt giảm. PMI của Mỹ tụt xuống 52,5 điểm –

mức thấp nhất 18 tháng. PMI của Trung Quốc giảm tháng thứ 8 liên tiếp trong khi PMI của

eurozone giảm mạnh nhất 3 năm. Hoạt động sản xuất trên toàn cầu tiếp tục suy giảm với 15

trong tổng số 23 nước ghi nhận chỉ số PMI sụt giảm. PMI của Mỹ tụt xuống 52,5 điểm – mức

thấp nhất 18 tháng. PMI của Trung Quốc giảm tháng thứ 8 liên tiếp trong khi PMI của

eurozone giảm mạnh nhất 3 năm.



3



Bước sang năm 2012, bên cạnh những cơ hội, nền kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt với khơng

ít thách thức trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đầy khó khăn khi kinh tế Mỹ phục hồi chậm

chạp, khủng hoảng nợ công châu Âu lan rộng, biến động địa - chính trị ở Bắc Phi và Trung

Cận Đơng có khả năng gây ảnh hưởng lâu dài đến kinh tế - xã hội thế giới. Là một nền kinh tế

có độ mở lớn, Việt Nam khó tránh khỏi những tác động bất lợi từ kinh tế thế giới.

1.2.Nền kinh Tế Việt Nam

*Lạm Phát: Mặc dù 6 tháng đầu năm 2012, tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã có những tín

hiệu khả quan, GDP tăng 4,38%, song lạm phát, lãi suất vẫn ở mức cao, sản xuất có dấu hiệu

suy giảm do tiêu thụ hàng hóa chậm, hàng tồn kho tăng. mức tăng trưởng của cả 3 khu vực

kinh tế trong 6 tháng đầu năm nay đều thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm 2011. với tốc độ

tăng trưởng GDP quý I chỉ đạt 4% và quý II là 4,66%, trong tình hình hiện nay, mục tiêu tăng

trưởng cả năm đạt từ 6-6,5% đặt ra thì quả là một thách thức lớn. Để tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ

thị trường, sẽ tiếp tục phải nới lỏng tiền tệ và tài khoá, dễ làm cho lạm phát cao trở lại vào năm

sau như đã từng lặp đi lặp lại trong 9 năm qua. Năm 2013, nếu lạm phát kỳ vọng vẫn tiếp tục

4



duy trì mức thấp, việc điều hành giảm thêm nữa mặt bằng lãi suất (cả huy động và cho vay)

nên được cân nhắc nhưng cũng cần phải bám sát xu hướng diễn biến giá hàng hóa thế giới.

*Tỉ trọng GDP: Tốc độ tăng trưởng GDP trong nửa đầu năm đã không đạt được chỉ tiêu 6 6,5%, do đó trong nửa cuối năm nay, sẽ gặp rất nhiều thách thức. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu

tư dự báo, tốc độ tăng trưởng GDP 6 tháng cuối năm có thể đạt cao hơn 6 tháng đầu năm 2012,

nhưng GDP cả năm tăng khoảng 5,4- 5,7%. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, tổng sản phẩm

trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2012 ước đạt 4,38%, thấp hơn tốc độ tăng 6 tháng đầu năm

2011 (5,63%). Trong đó: khu vực nơng, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,81%; khu vực công

nghiệp và xây dựng tăng 3,81%; dịch vụ tăng 5,57%. Mơ hình tăng trưởng chiều rộng đã khiến

tăng trưởng GDP phụ thuộc chủ yếu vào tăng trưởng vốn đầu tư toàn xã hội, trong khi các

kênh dẫn vốn khác chưa phát triển, tín dụng ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng

Năm



2007



2008



2009



2010



2011



62012



Tốc độ

tăng

trưởng

GDP(%)



8.5



6.2



5.3



6.7



5, 89



4.38



Chỉ số

giá

CPI(%)



12.6



19.9



6.5



11.75



18.12



2.52



*Tỉ giá hối đoái: Năm 2012, tỷ giá sẽ ổn định hơn so với năm 2011 do nguồn cung ngoại tệ sẽ

không thiếu hụt nhiều, trong khi cầu ngoại tệ khơng q lớn, tiếp tục theo hướng linh hoạt có

kiểm soát. Tuy nhiên, trong trung hạn, tỷ giá hối đoái nhiều khả năng sẽ chịu nhiều sức ép,

trong đó, chịu ảnh hưởng đáng kể của việc sản xuất - kinh doanh, xuất nhập khẩu vàng. Do

vậy, để kiểm soát tốt tỷ giá, phải có giải pháp để quản lý có hiệu quả thị trường vàng. Bên cạnh

đó, do lạm phát duy trì ở mức cao trong thời gian dài nên nếu chỉ điều chỉnh giảm giá VND ở

mức thấp sẽ tiếp tục duy trì tình trạng VND được định giá cao, từ đó, tạo sức ép lên tỷ giá

trong dài hạn.

5



* Lãi suất và tăng trưởng dư nợ tín dụng ngân hàng: Tái cấu trúc hệ thống tài chính – ngân

hàng được xác định là một trong những trụ cột của tái cơ cấu và chuyển đổi mơ hình kinh tế.

Do đó, việc điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt là cơng cụ lãi suất và dư nợ tín dụng ngân

hàng, sẽ tác động không nhỏ tới chiều hướng và cách thức vận động của toàn bộ “cỗ máy” nền

kinh tế.

Mặc dù hạ tương đối nhanh, tuy nhiên nếu so với lạm phát thì hiện lãi suất tiền gửi và đặc biệt

là lãi suất cho vay còn chênh lệch khá cao. Theo Ngân hàng Nhà nước (2012), hiện nay lãi suất

cho vay nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ phổ biến ở mức 12-13%/năm,

cho vay sản xuất kinh doanh khác 14-17,5%/năm, cho vay lĩnh vực phi sản xuất 16,520%/năm. Lãi suất cao khiến cho vay nền kinh tế hầu như khơng tăng nếu khơng nói là giảm

trong những tháng đầu năm

*Chính sách tài khóa: Mặc dù đã có những hỗ trợ đối với nền kinh tế thông qua các biện

pháp thực hiện Nghị quyết 13/NQ-CP của Chính phủ, tuy nhiên khơng đợi đến khi có Nghị

quyết 13/NQ - CP, chính sách tài khóa đã nới lỏng hơn thông qua cơ chế tự động: thu ngân

sách giảm do lạm phát và tăng trưởng đều giảm. Tính đến hết tháng 6 Thu NSNN đạt 346.125

tỷ đồng, đạt 46,7% dự toán, giảm 1,7% so với cùng kỳ năm 2011. Trong khi đó, chi ngân sách

ước đạt 413.859 tỷ đồng, đạt 45,8% dự toán, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2011. Kết quả, nếu

tính trên GDP 6 tháng thì thâm hụt ngân sách đã đạt sẽ cao hơn mức 4,8%. So với mức thâm

hụt của cùng kỳ năm trước, rõ ràng chính sách tài khóa đã nới lỏng hơn hẳn.

* Chính sách tiền tệ: Động thái của chính sách tiền tệ 6 tháng đầu năm là tương đối thận

trọng. Ngân hàng Nhà nước đề cao tính ổn định, thể hiện qua các chính sách lãi suất và tỷ giá.

Về lãi suất, giai đoạn 6 tháng đầu năm đã có 4 lần hạ các loại lãi suất chỉ đạo. Lãi suất tái cấp

vốn đã hạ từ mức 15% đầu năm xuống còn 10% hiện nay, còn lãi suất tái chiết khấu cũng đã

được hạ xuống 8%, từ mức 13% đầu năm. Trần lãi suất huy động đối với các kỳ hạn trên một

năm cũng đã được loại bỏ. Động thái hạ lãi suất của Ngân hàng Nhà nước là phù hợp với việc

lạm phát hạ nhiệt rất nhanh, kể từ tháng 3/2012. Với mức lạm phát 6,9% hiện nay thì mức lãi

suất huy động khoảng từ 9-11% tùy kỳ hạn tại các ngân hàng thương mại được kỳ vọng sẽ

phải giảm xuống hơn nữa để có thể dọn đường cho việc hạ lãi suất cho vay, kích thích hồi

6



phục kinh tế. 6 tháng cuối năm dư nợ tín dụng tăng bình quân 2% mỗi tháng đạt khoảng 1214% cả năm 2012.

Kết luận: Mặc dù tình hình thế giới và Việt Nam có nhiều biến động, một số ngành vẫn tăng

trưởng khá tốt. Chính vì vậy nhóm chúng tơi xin được chọn 2 ngành Cao su săm lốp và bánh

kẹo – đây là 2 ngành cơng nghiệp có tốc độ tăng trưởng khá ổn định và nhiều tiềm năng.



Phần 2: PHÂN TÍCH NGÀNH

2.1 Phân tích ngành cao su săm lốp

2.1.1. Tổng quan về ngành

Ngành sản xuất săm lốp có 3 doanh nghiệp lớn nhất là: DRC, CSM, SRC đều đang niêm yết

trên sàn. Thị trường tiêu thụ của các doanh nghiệp sản xuất săm lốp chủ yếu là nội địa (tỷ lệ

xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 10-15% doanh thu). Tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại và doanh

số bán ôtô giảm đã ảnh hưởng đến nhu cầu săm lốp. 7tháng đầu năm 2012, sản lượng bán ôtô

của Việt Nam giảm 39% so với 7 tháng đầu năm 2011. Tuy nhiên nhu cầu săm lốp thay thế

chiếm đến 70-75%, còn lại là nhu cầu săm lốp lắp mới nên nhu cầu săm lốp giảm nhưng khơng

nhiều. Điều này có thể thấy khi doanh thu của CSM và DRC vẫn duy trì được sự tăng trưởng.

Sáu tháng đầu năm 2012, hai doanh nghiệp sản xuất săm lốp lớn nhất DRC và CSM vẫn giữ

được mức tăng trưởng doanh thu tốt còn doanh thu của SRC sụt giảm nhẹ. Doanh thu tăng

trưởng trong khi hàng tồn kho giảm, số ngày các khoản phải thu tăng, đồng thời tỷ lệ chi phí

bán hàng trên doanh thu của CSM và SRC đều tăng cho thấy các doanh nghiệp săm lốp đã nới

lỏng chính sách bán hàng để tăng trưởng doanh thu. Do đó, chất lượng tăng trưởng doanh thu

cần có thời gian để kiểm chứng lại. So sánh tổng quan, chúng tôi nhận thấy khả năng tiêu thụ

của DRC, CSM vẫn tốt nhưng khả năng tiêu thụ của SRC giảm sút, trong đó khả năng tiêu thụ

của DRC tốt hơn CSM.

Hàng tồn kho có xu hướng giảm: Hàng tồn kho của các doanh nghiệp sau khi tăng mạnh vào

quý 4.2011 đã giảm xuống. Quý 2.2012 hàng tồn kho chỉ còn tăng nhẹ so với cùng kỳ năm

2011, thậm chí hàng tồn kho của CSM còn giảm. Hiện nay số ngày hàng tồn kho của SRC lớn

nhất, số ngày hàng tồn kho của DRC và CSM giảm.

7



Các khoản phải thu có xu hướng tăng: Các khoản phải thu đều có xu hướng tăng, trong đó

DRC có số ngày các khoản phải thu lớn nhất.



Trong sản xuất săm lốp, chi phí nguyên liệu cao su tự nhiên chiếm tỷ trọng lớn nhất, gần 60%

tổng chi phí, tiếp đó là vải mành (14%), than đen (12%)…Giá cao su tự nhiên giảm mạnh 25%

trong quý 2.2012 so với thời điểm cuối quý 1.2012, đồng thời giá giao dịch bình quân quý

2.2012 giảm 30% so với cùng kỳ năm 2011. Đồng thời giá than đen, vải mành... cũng đã giảm.

Do đó chi phí ngun vật liệu đã giảm đáng kể.

Mặc dù giá nguyên liệu đã giảm nhưng các doanh nghiệp hầu như khơng điều chỉnh giảm giá

bán. Thay vào đó là tăng chính sách hoa hồng khuyến mãi, chiết khấu cho đại lý nên chi phí

bán hàng trên doanh thu tăng. Bên cạnh đó, chi phí quản lý doanh nghiệp trên doanh thu của

các doanh nghiệp cũng tăng. Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp trên doanh thu

của CSM cao nhất, tiếp đến là SRC và cuối cùng là DRC.

2.1.2. Triển vọng ngành:

Chúng tôi cho rằng nhu cầu tiêu thụ săm lốp sẽ vẫn duy trì ổn định mặc dù tình hình

kinh tế trong nước chưa có nhiều điểm sáng. Sản lượng bán ơtơ của thị trường phục hồi trong

tháng 7.2012 tăng 13% so với tháng trước nhưng vẫn giảm 26% so với cùng kỳ năm 2011. Kết

quả bán hàng của tháng 7.2012 dẫn đến dự báo doanh số bán hàng của thị trường năm 2012 sẽ

khoảng 93.000 xe, tăng 16% so với dự báo 80.000 xe vào tháng 6.2012. Đồng thời hoạt động

sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tập trung vào 6 tháng cuối năm làm tăng nhu cầu

vận chuyển, qua đó làm tăng nhu cầu thay thế săm lốp.

8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Nền kinh tế thế giới

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×