Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cơ cấu của luận văn:

Cơ cấu của luận văn:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chương 1: Cơ sở lí luận của quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở các

trường tiểu học

Chương 2: Thực trạng quản lí ứng dụng cơng nghệ thông tin trong dạy học tại các trường

tiểu học trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Chương 3: Biện pháp quản lí ứng dụng cơng nghệ thơng tin trong dạy học tại các trường

tiểu học trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Phần thứ ba: Kết luận và khuyến nghị

Ngồi ra luận văn còn có các phần tài liệu tham khảo và các phụ lục.



7



Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CĨ ỨNG

DỤNG CƠNG NGHỆ THƠNG TIN Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm quản lí và quản lí hoạt động dạy học tiểu học

1.1.1. L Khái niệm quản lí:

Nguồn gốc phát triển lồi người là lao động của cá nhân và lao động chung. Lao động

chung cần có tổ chức và thống nhất nhằm tạo ra sức mạnh để đạt được mục đích chung. Như

vậy, trong lịch sử phát triển loài người xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là tổ

chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu, mục tiêu nhất định. Dạng lao động đó

được gọi là quản lí. Có thể nói quản lí xuất hiện như một hoạt động tất yếu trong quá trình phát

triển của xã hội lồi người, nó được bắt nguồn và gắn chặt với sự phân công và hợp tác lao

động.

Ngày nay, quản lí trở thành một nhân tố quan trọng của sự phát triển xã hội. Trong hoạt

động quản lí, vai trò của người quản lí là rất cần thiết và quan trọng. C.Mác đã khẳng định

bằng ý tưởng rất độc đáo và đầy sức thuyết phục: “Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy

mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [37, tr. 5].

Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm quản lí, tuỳ theo cách tiếp cận khác nhau:

Theo Từ điển Giáo dục học, “Quản lí là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ

định của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể quản lí (người bị quản lí) trong một tổ

chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức’’ [26, tr 326].

Dựa vào vai trò các nguồn lực trong quản lí, tác giả Trần Kiểm khẳng định:

“Quản lí là những tác động của chủ thể quản lí trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử

dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức

(chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất’

[32, tr. 8].

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí là sự tác động có mục đích, có kế hoạch

của chủ thể quản lí đến tập thể những người lao động (khách thể quản lí) nhằm thực hiện được

những mục tiêu dự kiến. ” [37, tr. 29]

Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn: “Quản lí là q trình tác động của chủ thể quản lí

đến khách thể quản lí thơng qua các cơng cụ, phương tiện để đạt được mục tiêu quản lí.” [45]

Như vậy, có thể khẳng định quản lí là một yêu cầu tất yếu đối với hoạt động của một tổ

chức. Quản lí chính là các hoạt động có mục địch do một hoặc nhiều người thực hện tác động

đến chủ thể khác nhằm thu được kết quả mong muốn.



Từ những định nghĩa nêu trên, có thể dùng định nghĩa sau đây làm cơng cụ cho nghiên

cứu của đề tài này: Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí đến

đối tượng quản lí thơng qua việc thực hiện các nội dung quản lí nhằm đạt được mục tiêu quản

lí trong điều kiện mơi trường kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định.

1.1.1.2 Khái niệm quản lí hoạt động dạy học; Khái niệm quản lí hoạt động dạy học tiểu học

Quản lí hoạt động dạy học là quản lí q trình truyền thụ kiến thức của đội ngũ GV vào

quá trình lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của HS, đặc biệt trong thời kì đổi mới phương pháp

giáo dục hiện nay. Bên cạnh đó, quản lí hoạt động dạy học còn chú trọng đến các điều kiện kĩ

thuật, CSVC, phương tiện phục vụ cho hoạt động dạy và học, “bao gồm mọi thiết bị kĩ thuật từ

đơn giản đến phức tạp được dùng trong quá trình dạy học để làm dễ dàng cho sự truyền đạt và

tiếp thu kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo. ” [38, tr. 25]. Trong các phương tiện dạy học, thì máy tính

và các thiết bị xử lí thơng tin là phương tiện quan trọng nhất. Trong thực tế máy tính vừa là

phương tiện nâng cao tính tích cực trong hoạt động dạy học, đồng thời là đối tượng của hoạt

động dạy học. Do đó nếu quản lí tốt phương tiện dạy học sẽ tác động tích cực đến việc nâng

cao chất lượng hoạt động dạy học.

Quản lí hoạt động dạy học không phải là cái bất biến mà nó phụ thuộc vào nhiều yếu

tố, trong đó sự đổi mới của quá trình dạy học là một yếu tố quan trọng. Theo xu thế phát triển

chung của xã hội thì việc đổi mới quá trình dạy học trong nhà trường là hệ quả tất yếu. Nhất là

khi trẻ em tiểu học đã có những phát triển khác xa về thể chất cũng như tâm sinh lí so với trẻ

em cùng lứa tuổi thời kì trước. Trẻ em ngày nay thể chất tốt hơn, thông minh hơn và tư duy

khoa học, mạnh dạn hơn... do điều kiện thông tin mang lại. Các nhà quản lí cũng cần nắm được

vấn đề trên để quán triệt trong GV, đồng thời tạo điều kiện cho GV trang bị thêm kiến thức,

không ngừng học hỏi nâng cao trình độn, hồn thiện kỹ năng để đáp ứng được nhu cầu đổi mới

trong giáo dục, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội.

Theo tác giả Phan Thị Hồng Vinh: “Quản lí các hoạt động dạy học và giáo dục là

những hoạt động có mục đích, có kế hoạch của Hiệu trưởng đến tập thể GV, HS và những lực

lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ tham gia, cộng tác, phối hợp

trong các hoạt động của nhà trường giúp quá trình dạy học và giáo dục vận động tối ưu tới

các mục tiêu dự kiến.” [46, tr. 32]

Dạy học bao gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng: hoạt động dạy của GV và hoạt

động học của HS. Trong đó GV lãnh đạo, tổ chức, điều khiển người học thực hiện các hoạt

động theo mục tiêu đã xác đinh, người học tự giác, tích cực tự tham gia, tự điều khiển hoạt

động học tập của mình thực hiện những nhiệm vụ do GV yêu cầu nhằm đạt được mục tiêu dạy

học. Trong hoạt động dạy học, hoạt động dạy của GV có vai trò chủ đạo, hoạt động học của HS

có vai trò tự giác, chủ động, tích cực. Các hoạt động này có có liên hệ, tác động lẫn nhau. Nếu

thiếu một trong các hoạt động đó việc dạy học khơng diễn ra.



Như vậy bản chất của quản lí hoạt động dạy học chính là:

-



Quản lí hoạt động dạy của giáo viên; đồng thời quản lí hoạt động của tổ chun mơn



-



Quản lí hoạt động học của học sinh,



-



Quản lí hoạt động phục vụ dạy học của tổ hành chính quản trị.

Trên cơ sở khái niệm quản lí, khái niệm dạy học được định nghĩa trên đây và sự phân



tích quan niệm của các nhà khoa học về QLDH, nghiên cứu này định nghĩa QLDH như sau:

Quản lí dạy học là tác động của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí thơng qua quản lí các

hoạt động chuẩn bị lên lớp, quản lí các hoạt động dạy học trên lớp và quản lí các hoạt động

kiểm tra, đánh giá nhằm đạt được mục tiêu quản lí trong điều kiện mơi trường kinh tế, văn

hóa, xã hội nhất định.

Vận dụng cách nhìn nhận này vào QLDH ở tiểu học, ta có định nghĩa:

Quản lí dạy học ở tiểu học là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí

dạy học tiểu học vào đối tượng quản lí dạy học tiểu học thực hiện quản lí các hoạt động chuẩn

bị lên lớp, quản lí các hoạt động dạy học trên lớp và quản lí các hoạt động kiểm tra, đánh giá

trong quá trình dạy học ở trường tiểu học nhằm đạt được mục tiêu quản lí trong điều kiện mơi

trường kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định.

1.1.2. Khái niệm dạy học và dạy học ở trường tiểu học:

Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh: “Quá trình dạy học là quá trình dưới sự lãnh đạo,

tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự

điều khiển hoạt động nhận thức - học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học.”

[36, tr.139]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Dạy học là quá trình giáo dục theo nghĩa rộng, là

quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm giúp cho người học lĩnh hội

những tri thức khoa học, kĩ năng nhận thức và thực tiễn, phát triển năng lực hoạt động sáng

tạo, trên cơ sở đó hình thành thế giới quan khoa học và các phẩm chất nhân cách của người

học theo mục đích giáo dục." [37, tr. 35]

Q trình dạy học bao gồm 2 hoạt động: hoạt động dạy và hoạt động học. Hai hoạt

động này luôn tồn tại đồng thời và song song với nhau: (1) Hoạt động dạy nhằm mục đích

truyền thụ tri thức đến người học-nó mang tính điều khiển;(2)Hoạt động học nhằm mục đích

lĩnh hội-nó mang chức năng tự điều khiển

Các nhà lí luận dạy học theo hướng tiếp cận quá trình cũng chỉ ra các thành tố của quá

trình dạy học. Họ cho rằng quá trình dạy học là quá trình tương tác giữa thầy và trò thơng qua

việc xây dựng và thực hiện mục đích, nội dung, hình thức tổ chức dạy học và phương pháp,

phương tiện dạy học.

Ở góc độ lí thuyết thơng tin, có thể xem dạy và học thực chất là q trình phát và thu

thơng tin. Người học tiếp thu thơng tin có định hướng và thơng qua thơng tin tiếp nhận được



người học có sự tái tạo, phát triển thơng tin. Vì vậy những người dạy đều nhằm mục đích phát

ra được nhiều thơng tin với lượng tin lớn liên quan đến mục đích dạy học, mơn học. Muốn

truyền lượng tin lớn đến người học, người dạy phải biết tận dụng tất cả các phương tiện truyền

thơng có thể có để đưa thơng tin đến cho người học.

Trong q trình đó, ngườ thầy có vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển, trò có vai trò tự

giác, tích cực, tự điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của mình thực hiện những nhiệm vụ

dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học. Chức năng vượt trội của dạy học là hình thành kiến

thức, phát triển kĩ năng, kĩ xảo và trí tuệ cho người học.

Tiếp cận dạy học như một q trình, có thể chia hoạt động dạy học thành 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Hoạt động chuẩn bị lên lớp; Giai đoạn 2: Hoạt động dạy học trên lớp; Giai đoạn 3:

Hoạt động kiểm tra, đánh giá

Trong mỗi giai đoạn này, các thành tố của quá trình dạy học cũng như vai trò của người

dạy được thể hiện hết sức rõ ràng.

Để làm rõ ứng dụng của CNTT trong quá trình dạy học, luận văn này nghiên cứu sâu

việc UDCNTT trong từng giai đoạn của quá trình dạy học. Định nghĩa sau đây được sử dụng

như một cơng cụ trong nghiên cứu này:

Dạy học là q trình gồm ba giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị lên lớp, giai đoạn dạy học

trên lớp, giai đoạn kiểm tra, đánh giá được thực hiện đồng bộ, nhịp nhàng bởi người dạy và

người học nhằm đạt được mục tiêu dạy học trong điều kiện mơi trường kinh tế, văn hóa, xã hội

nhất định.

Trong mỗi giai đoạn, người dạy và người học cần thực hiện các hoạt động nhất định

phù hợp, đặc trưng cho từng giai đoạn. Nghiên cứu này sẽ tập trung chủ yếu vào các hoạt động

của người dạy.

Vận dụng khái niệm “Dạy học” được định nghĩa nếu trên, ta có thể định nghĩa khái

niệm “Dạy học ở trường tiểu học” như sau: Dạy học ở trường tiểu học là quá trình gồm giai

đoạn chuẩn bị lên lớp, giai đoạn dạy học trên lớp, giai đoạn kiểm tra, đánh giá được thực hiện

đồng bộ, nhịp nhàng giữa giáo viên và học sinh tiểu học nhằm đạt được mục tiêu dạy học tiểu

học trong một mơi trường kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định.

Trong từng giai đoạn, giáo viên và học sinh tiểu học cần thực hiện những hoạt động

nhất định phù hợp, đặc trưng cho từng giai đoạn.

Nghiên cứu trong luận văn được tập trung chủ yếu vào các hoạt động của người giáo

viên tiểu học trong từng giai đoạn của q trình dạy học.

1.1.3. Cơng nghệ thơng tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tiểu học

1.1.3. L Khái niệm công nghệ thông tin



Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia: “CNTT (Tiếng Anh:Infomation Technology hay là

IT) là ngành ứng dụng cơng nghệ quản lí và xử lí thơng tin, là ngành sử dụng máy tính và

phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lí, truyền và thu thập thơng tin.”[ỉ]

Ở Việt Nam, trong nghị quyết số 49/CP của Chính phủ kí ngày 04/08/1993 khái niệm

CNTT được hiểu và định nghĩa như sau: “Công nghệ thông tin ( CNTT) là tập hợp các phương

pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại- chủ yếu là kĩ thuật máy tính và

viễn thông nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài ngun thơng tin rất

phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội.”[43]

Theo luật CNTT số 67/2006/QH 11 ngày 29/6/2006: “CNTT là tập hợp các phương

pháp khoa học, công nghệ và công cụ kĩ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lí,

lưu trữ và trao đổi thông tin số.” (Điều 4) [39]. Chúng tôi sử dụng định nghĩa này về CNTT

làm công cụ cho nghiên cứu của mình trong đề tài này.

1.1.3.2 Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

CNTT với vai trò và tiện ích của nó đã thâm nhập vào rất nhiều các lĩnh vực trong đời

sống xã hội. Nó được ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực đã góp phần thúc đẩy mạnh

mẽ sự phát triển của xã hội và làm thay đổi căn bản cách quản lí, học tập và làm việc của con

người trong xã hội. Thực tế cho thấy việc UDCNTT trong các hoạt động sẽ giúp nâng cao hiệu

quả của các hoạt động này. Vì vậy, ngày nay hoạt động của bất kì một đơn vị, cơ quan nào,

ngành nào cũng đều có UDCNTT và nó dần dần đã trở thành phổ biến.

Theo Luật Cơng nghệ thơng tin thì: “Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các

hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động

khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này” [39].

Đối với lĩnh vực GD&ĐT, thì việc UDCNTT là quá trình sử dụng CNTT vào các hoạt

động của từng cơ sở giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng của các hoạt động quản lí,

các hoạt động dạy học và giáo dục.

Như vậy, UDCNTT trong dạy học là việc sử dụng CNTT vào hoạt động dạy của GV và

hoạt động học của HS nhằm tích cực hố hoạt động nhận thức của HS, nâng cao chất lượng

và hiệu quả của q trình dạy học.

1.1.3.3 Ứng dụng cơng nghệ thông tin trong dạy học tiểu học

Trên cơ sở khái niệm “Dạy học ở trường tiểu học” và UDCNTT, ta có thể định nghĩa

khái niệm UDCNTT trong dạy học tiểu học như sau: UDCNTT trong dạy học tiểu học là việc

sử dụng CNTT vào các giai đoạn của quá trình dạy học ở tiểu học nhằm tích cực hố hoạt

động nhận thức của HS, nâng cao chất lượng và hiệu quả của dạy học tiểu học.

Nghiên cứu này sẽ tập trung chủ yếu vào việc sử dụng CNTT vào các giai đoạn trong

quá trình dạy của người GV tiểu học để tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS tiểu học.



1.1.4. Quản lí ứng dụng cơng nghệ thơng tin trong dạy học và quản lí ứng dụng

CNTT trong dạy học tiểu học

Với vai trò to lớn của CNTT, ngày nay hầu hết tất cả các ngành, các lĩnh vực đều

UDCNTT để nâng cao hiệu quả, chất lượng công việc. Đối với ngành giáo dục, Bộ GD-ĐT đã

khẳng định: “CNTT là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và hỗ

trợ đổi mới quản lí giáo dục, góp phần nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục’ [10].

Vì vậy, hiệu trưởng các trường phổ thơng cần phải khuyến khích, động viên, tác động, tạo điều

kiện để GV và HS tích cực sử dụng CNTT trong dạy và học, nhằm nâng cao hiệu quả và chất

lượng dạy học. Đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của hiệu trưởng nhà trường trong thời

đại hiện nay.

Từ các khái niệm quản lí, dạy học ở tiểu học, ứng dụng CNTT trong dạy học, có thể

xác định khái niệm quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học tiểu học như sau:

Quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học tiểu học là tác động có kế hoạch, có hướng đích

của chủ thể quản lí dạy học tới đối tượng QLDH thông qua việc thực hiện các nội dung quản lí

UDCNTT trong 3 giai đoạn của quá trình dạy học ở tiểu học: chuẩn bị lên lớp, dạy học trên

lớp và kiểm tra, đánh giá nhằm đạt được mục tiêu dạy học tiểu học trong điều kiện mơi trường

ln biến động.

Quản lí UDCNTT trong dạy học cần quản lí các hoạt động ứng dụng của cả thầy và trò

trong từng giai đoạn của q trình dạy học. Trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung chủ yếu

vào quản lí các hoạt động UDCNTT của người dạy - người giáo viên tiểu học.

1.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường tiểu học

1.2.1. Quá trình dạy học trong nhà trường tiểu học

Quá trình dạy học trong nhà trường tiểu học bao gồm các giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Chuẩn bị lên lớp (xây dựng kế hoạch dạy học)

- Giai đoạn 2: Dạy học trên lớp (thực hiện kế hoạch dạy học)

- Giai đoạn 3: Kiểm tra, đánh giá.

1.2.11. Hoạt động chuẩn bị lên lớp

Dạy học là cơng việc vừa có tính khoa học lại vừa có tính nghệ thuật, hoạt động này

đòi hỏi sự sáng tạo, chuyên nghiệp của người giáo viên trong quá trình giảng dạy và truyền đạt

tri thức, thông tin đến người học. Vì vậy, cơng tác chuẩn bị lên lớp là điều cần thiết đồng thời

còn là điều bắt buộc đối với tất cả các GV.

Việc chuẩn bị lên lớp của người GV tiểu học bao gồm việc chuẩn bị dài hạn cho cả

năm học hoặc từng học kì và việc chuẩn bị lên lớp cho từng tiết học cụ thể.

Việc chuẩn bị dài hạn cho cả năm học hoặc từng học kì bao gồm nhiều cơng việc và

nội dung cụ thể khác nhau, có thể liệt kê một số cơng việc sau:



- Nghiên cứu kĩ chương trình, nội dung tài liệu học tập, trên cơ sở đó để thu thập, lựa

chọn tài liệu cho từng tiết học, phương pháp, phương tiện dạy học và những hình thức dạy học

thích hợp.

- Tìm hiểu học sinh lớp mình giảng dạy về kết quả học tập, thái độ và phong trào học

tập, tu dưỡng của lớp, đặc điểm tâm lí chung của lớp và của những học sinh cá biệt, phong

cách sư phạm của người giáo viên đã giảng dạy ở lớp đó. Trên cơ sở đó mà đề ra những yêu

cầu hợp lí đối với học sinh.

- Tìm hiểu những phương tiện dạy học có ở trường để có kế hoạch tạo nên những

phương tiện mới. Qua đó mà có những dự định đổi mới phương pháp dạy học và kiến tạo các

nội dung dạy học, phương pháp tiếp cận mới.

- Với những tài liệu hướng dẫn của các cơ quan quản lí giáo dục, quy định mang tính

đặc thù của nhà trường và với sự nghiên cứu, tìm hiểu nêu trên mà mỗi GV, tập thể nhóm GV

xây dựng kế hoạch dạy học theo từng chương mục cả năm học hay từng học kì của mình phù

hợp với quy định chung.

Việc chuẩn bị trực tiếp lên lớp bao gồm việc phân tích nội dung sách giáo khoa, soạn

giáo án và chuẩn bị những điều kiện cho việc lên lớp. Về phân tích nội dung các bài trong sách

giáo khoa, thường phải phân tích về mặt khái niệm, về mặt logic, về mặt tâm lí, về mặt giáo

dục và cuối cùng là về mặt lí luận dạy học.Về việc soạn giáo án: Giáo viên cần dựa trên chuẩn

kiến thức kĩ năng đối với HS tiểu học, kế hoạch dạy học theo chương mục, nội dung sách giáo

khoa, trình độ tri thức của học sinh và những điều kiện tiến hành bài dạy cụ thể mà xây dựng

kế hoạch tiến hành từng bài dạy cụ thể;

GV cần nghiên cứu kĩ phương tiện dạy học và cách sử dụng chúng. Qua các hoạt động này GV

tiếp cận tốt nhất trong việc truyền đạt kiến thức đến học sinh, phát huy tốt nhất tính độc lập,

sáng tạo của học sinh.

1.2.1.2. Hoạt động dạy học trên lớp

Xét một cách khái quát thì Hoạt động dạy học trên lớp của GV diễn ra theo các khâu

sau:

- GV đề xuất vấn đề, gây cho học sinh ý thức nhiệm vụ học tập: Mở đầu một vấn đề

mới, GV khéo léo đề xuất nhiệm vụ học tập bằng cách tạo nên tình huống có vấn đề, nhờ vậy

mà HS ý thức được nhiệm vụ đó một cách sâu sắc và tích cực, hứng thú tham gia giải quyết

vấn đề.

- Tổ chức điều khiển học sinh lĩnh hội tri thức mới: Để lĩnh hội tri thức mới, trước tiên

phải tổ chức cho HS tri giác tài liệu cảm tính cần thiết. Ở khâu này, tùy tùy theo nội dung tài

liệu, GV tổ chức cho HS quan sát trực tiếp sự vật và hiện tượng, hoặc có thể dùng phương pháp

đàm thoại làm cho HS nhớ lại những biểu tượng, những kinh nghiệm đã có, những tri thức đã



lĩnh hội, tìm ra mối liên hệ gần gũi với sự vật và hiện tượng mới. Từ đó xây dựng biểu tượng

chính xác làm cơ sở cho việc hình thành khái niệm.

Tiếp đó GV tổ chức cho HS tiến hành các thao tác tư duy để hình thành khái niệm (có

thể tiến hành bằng 2 cách: Quy nạp hay diễn dịch); vận dụng khái niệm để hình thành các phán

đốn, suy luận rồi từ đó lại tạo ra các phán đốn, suy luận mới ở mức độ cao hơn. Các khái

niệm, phán đoán, suy luận được diễn đạt bằng các định nghĩa, định lí, nguyên tắc...

Tổ chức đúng đắn việc lĩnh hội tri thức mới sẽ giúp học sinh phát triển tư duy logic và

kĩ năng độc lập lĩnh hội tri thức mới.

- Tổ chức điều khiển học sinh củng cố tri thức: Hướng dẫn HS biện pháp ơn tập tích

cực, thường xun và vận dụng tri thức để giải quyết các nhiệm vụ học tập nhằm củng cố kiến

thức đã lĩnh hội được.

- Tổ chức, điều khiển học sinh rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo: Cần tổ chức luyện tập rèn

KNKX cho HS một cách có hệ thống, theo các mức độ khác nhau:

+ Luyện tập giải quyết các bài tập với độ khó và phức tạp tăng dần (từ thấp đến cao, từ

tình huống quen thuộc, đơn giản đến tình huống mới).

+ Vận dụng tri thức để giải thích các hiện tượng, các vấn đề do thực tiễn đặt ra phù hợp

với tư duy và khả năng của học sinh, từ đó phát huy tính độc lập, khả năng sáng tạo của học

sinh.

- Tổ chức, điều khiển, kiểm tra, đánh giá việc nắm tri thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách có

hệ thống của học sinh và tổ chức cho học sinh tự kiểm tra, tự đánh giá: Việc thực hiện khâu

này phải quán triệt các nguyên tắc kiểm tra và đánh giá, phối hợp nhiều hình thức kiểm tra,

đánh giá. Ngoài ra cần đặc biệt bồi dưỡng cho HS ý thức và năng lực tự kiểm tra, tự đánh giá

kết quả học tập của mình, giúp HS hình thành phẩm chất và năng lực tự học, HS có thể học

liên tục suốt đời, đáp ứng yêu cầu của thời đại hiện nay.

- Phân tích kết quả từng giai đoạn, từng bước nhất định của quá trình dạy học: Đây là

hoạt động cần thiết giúp giáo viên và học sinh nhìn lại kết quả từng khâu đã đạt được, qua đó

phát hiện những thiếu sót cần khắc phục trong giai đoạn tiếp theo.

Trong q trình dạy học, các khâu có thể được thực hiện xen kẽ hoặc thâm nhập vào

nhau hoặc không thực hiện đầy đủ, tùy thuộc vào từng loại bài học và các yêu cầu cụ thể trong

từng giai đoạn. Việc phối, kết hợp các khâu đó để đạt được mục đích dạy tốt nhất lại tùy thuộc

vào năng lực nghiệp vụ sư phạm của mỗi GV.

1.2.1.3. Hoạt động kiểm tra, đánh giá

Trong dạy học tiểu học, người ta thường sử dụng các hình thức kiểm tra sau:

- Kiểm tra thường xun: Hình thức kiểm tra này còn được gọi là kiểm tra hàng ngày

vì nó được diễn ra hàng ngày. Kiểm tra thường xuyên được người GV tiến hành trong từng tiết

dạy. Mục đích của hoạt đo là kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy học này nhằm điều chỉnh một



cách hợp lí việc dạy và học của GV và học sinh qua đó tạo điều kiện vững chắc để quá trình

dạy học chuyển dần sang những bước mới.

Kiểm tra thường xuyên được tiến hành thông qua việc quan sát hoạt động của lớp, của

mỗi học sinh có tính hệ thống qua việc ơn tập, củng cố bài cũ, qua quá trình học bài mới, qua

việc vận dụng tri thức vào thực tiễn.

- Kiểm tra định kì: thường được tiến hành sau khi học xong nửa học kì (với HS khối 4;

5) và học xong một học kì (với cả bậc học). Do kiểm tra sau nửa học kì hoặc cả học kì của một

mơn học nên khối lượng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nằm trong phạm vi kiểm tra là tương đối lớn.

Kiểm tra định kì giúp thầy trò nhìn nhận lại kết quả hoạt động sau một thời gian nhất

định. Qua đó đánh giá được việc nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh sau một thời gian

nhất định.

1.2.2. Nội dung ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở nhà trường tiểu học

Có thể nói, sự phát triển nhanh chóng của CNTT và đặc biệt của Internet hiện nay vừa

tạo ra một điều kiện hết sức thuận lợi, đồng thời cũng là một đòi hỏi cấp thiết đối với GD&ĐT

nói chung. Việc UDCNTT trong mỗi cấp học, bậc học có mục tiêu, nội dung chương trình khác

nhau. Đặc biệt, đối với bậc Tiểu học, đưa CNTT vào trong dạy học như thế nào là vừa đủ và

vẫn gây được hứng thú cho HS trong học tập là điều đáng được quan tâm.

Theo Luật công nghệ thông tin số 67/2006/QH11, ngày 29/6/2006: “Ứng dụng CNTT

là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng,

đối ngoại và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt

động này”[39]

Như vậy CNTT có thể được ứng dụng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Với giáo dục UDCNTT là một đòi hỏi tất yếu của thời đại. Ơng Peter Van Gils, chun gia dự

án Cơng nghệ thơng tin trong giáo dục và quản lí nhà trường (ICTEM) khẳng định: “Chúng ta

đang sống trong một xã hội mà người ta gọi là một xã hội tri thức hay một xã hội thơng tin.

Điều này có nghĩa rằng những sản phẩm đầu ra mang tính cơng nghiệp trong xã hội của

chúng ta đã mất đi cái tầm quan trọng của nó. Thay vào đó là những “dịch vụ ” và “những

sản phẩm tri thức”. Trong một xã hội như vậy, thông tin đã trở thành một loại hàng hố cực kì

quan trọng. Máy vi tính và những kĩ thuật liên quan đã đóng một vai trò chủ yếu trong việc lưu

trữ và truyền tải thông tin và tri thức. Thực tế này yêu cầu các nhà trường phải đưa các kĩ

năng cơng nghệ vào trong chương trình giảng dạy của mình. Một trường học mà khơng có

CNTT là một nhà trường khơng quan tâm gì tới các sự kiện đang xảy ra trong xã hội.”[30]

Việc ứng dụng CNTT trong giáo dục bao gồm hai lĩnh vực: UDCNTT trong quản lí và

UDCNTT trong dạy học.

Việc ứng dụng CNTT trong dạy học được biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình thức

khác nhau. Nhưng dựa vào bản chất của q trình dạy học chính là q trình truyền thơng và



thơng tin, ta có thể phân biệt hai hình thức ứng dụng CNTT trong dạy và học, đó là dạy dựa

vào máy tính - Computer Base Training (gọi tắt là CBT) và học dựa vào máy tính - Elearning.

Trong đó:

- CBT là hình thức GV sử dụng máy tính trên lớp, kèm theo các trang thiết bị như máy

chiếu (hoặc màn hình cỡ lớn) và các thiết bị multimedia để hỗ trợ truyền tải kiến thức đến học

sinh, kết hợp với phát huy những thế mạnh của các phần mềm máy tính như hình ảnh, âm

thanh sinh động, các tư liệu phim, ảnh, sự tương tác người và máy.

- Elearning là hình thức HS sử dụng máy tính để tự học các bài giảng mà GV đã soạn

sẵn, hoặc xem các đoạn phim về các tiết dạy của GV, hoặc có thể trao đổi trực tuyến với GV

thơng mạng internet. Hình thức Elearning thể hiện rõ ràng quan điểm “lấy HS làm trung tâm'”,

HS sẽ tự làm chủ quá trình học tập của mình, GV chỉ đóng vai trò hỗ trợ việc học tập cho HS.

Với hai hình thức trên, trong các nhà trường phổ thông hiện nay, tùy theo mức độ nhận

thức của đội ngũ cán bộ quản lí, GV, trang bị CSVC về CNTT... mà nội dung UDCNTT trong

dạy học ở các nhà trường là rất khác nhau.

Căn cứ vào các giai đoạn của quá trình dạy học được phân tích trên đây, có thể xác

định nội dung UDCNTT trong dạy học ở nhà trường tiểu học như sau:

1.2.2.1. Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chuẩn bị lên lớp:

- GV sử dụng máy tính làm công cụ soạn thảo văn bản để soạn giáo án, in ấn tài liệu,

truy cập internet sưu tầm tài liệu, xây dựng kho học liệu phục vụ hoạt động dạy học. Đây được

xem là một trong những ứng dụng CNTT trong dạy học phổ biến trong nhà trường hiện nay.

-



Thiết kế giáo án trên máy tính, trong đó có sử dụng phần mềm PowerPoint hay



các phần mềm dạy học bộ mơn khác ở các trường có trang bị máy chiếu Projector. Ứng dụng

này đang được từng bước triển khai đại trà trong nhà trường phổ thông.

Hiện nay, người ta thường gọi giáo án được thiết kế trên máy tính là giáo án điện tử.

Thuật ngữ này đã trở nên quen thuộc và được sử dụng rộng rãi trong trường phổ thơng. Ngồi

GAĐT, GV còn có thể tạo ra các sản phẩm khác phục vụ cho hoạt động dạy - học, đó là Bài

giảng điện tử, Bài giảng Elearning.

- Giáo viên tham gia các diễn đàn tin học, là thành viên của các website giáo

dục như:



www.bachkim.vn;www.diendan.edu.vn;www.baigiang.violet.vn:



www.giaovien.net... để trao đổi thông tin, nâng cao trình độ, kỹ năng về CNTT, đưa lên hay tải

về các bài giảng, GAĐT, tài liệu khác phục vụ cho công tác giảng dạy.

- GV sử dụng thư điện tử để trao đổi thông tin phục vụ việc dạy học. Việc sử dụng thư

điện tử giúp GV có thể trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp, cung cấp bài giảng, bài tập, trả

lời thắc mắc cho HS.

Như vậy có thể liệt kê một số cơng việc GV tiểu học thường làm trong giai đoạn chuẩn

bị lên lớp:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cơ cấu của luận văn:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×