Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phân tích đánh giá các chế định hợp đồng hiện hành của pháp luật hợp đồng hiện nay

Phân tích đánh giá các chế định hợp đồng hiện hành của pháp luật hợp đồng hiện nay

Tải bản đầy đủ - 0trang

Dân sự, tuỳ vào tính chất đặc thù của các mối quan hệ hoặc các giao dịch, các luật

chuyên ngành có thể có những quy định riêng về hợp đồng để điều chỉnh các mối

quan hệ trong lĩnh vực đó, ví dụ như các quy định về hợp đồng mua bán hàng hoá

trong Luật Thương mại, hợp đồng bảo hiểm trong Luật Kinh doanh bảo hiểm... Các

quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự được coi là các quy định chung còn các

quy định về hợp đồng trong các luật chuyên ngành được coi là các quy định chuyên

ngành và các quy định này được ưu tiên áp dụng.

Cơ cấu trong tổng thể pháp luật hợp đồng hiện nay đã tương đối bảo đảm

tính thống nhất của pháp luật về hợp đồng. Các quy định có tính chất chung được

quy định trong Bộ luật Dân sự. Trong Bộ luật này cần có những quy định chung có

tính khái quát cao, thể hiện rõ quyền tự do hợp đồng để bảo đảm tính ổn định cao của

Bộ luật Dân sự.

2.2.

2.2.1.



Phân tích đánh giá một số chế định hợp đồng của pháp luật hiện nay

Đánh giá chế định hợp đồng thương mại thông thường



Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định: “Hoạt động thương mại là

hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ,

đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác”.

Theo quy định trên thì chủ thể tham gia hợp đồng thương mại ít nhất một bên

phải là thương nhân, và hiện nay, hợp đồng thương mại được điều chỉnh chủ yếu theo

các quy định tại Các Điều ước quốc tế, Luật Thương mại 2005… và một số văn bản

hướng dẫn. Căn cứ theo các quy định của pháp luật hiện nay thì có thể thấy pháp luật

về hợp đồng thương mại có một số ưu điểm và hạn chế như sau:

 Về ưu điểm:

 Pháp luật đã ra khái niệm khái quát về hành vi thương mại theo hướng: hành



vi thương mại là mọi hành vi được thực hiện với mục đích lợi nhuận, đồng

thời, pháp luật đã có những liệt kê và quy định chi tiết về một số hành vi

thương mại điển hình, việc đưa ra khái niệm như vậy giúp phân biệt hợp đồng

thương mại với các loaị hợp đồng dân sự, … là cơ sở để các bên chọn đúng

quy định pháp luật điều chỉnh.

 Pháp luật hiện nay có khá nhiều quy định để điều chỉnh về hợp đồng thương



mại,cụ thể là các quy định về điều kiện giao kết, nguyên tắc giao kết,…đảm

bảo sự công bằng, đảm bảo quyền và lợi ích của các bên khi tham gia quan hệ

hợp đồng.

 Do mang bản chất của Hợp đồng dân sự, theo đó pháp luật hiện nay cũng có



những quy định kế thừa từ những quy định dân luật truyền thống như: chủ thể,

11



hình thức, quyền và nghĩa vụ của các bên, các chế tài giải quyết tranh chấp

hợp đồng,… những quy định này có vai trò quan trọng để các bên thực hiện

hợp đồng.

 Có thể thấy, trải qua một thời gian rất dài , pháp luật về hợp đồng thương mại



có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh mối quan hệ các bên tham gia hợp

đồng, thúc đẩy hoạt động thương mại phát triển, thúc đẩy sự phát triển kinh tếxã hội,…

 Về nhược điểm:

-



Mặc dù đã có những quy định về hợp đồng thương mại, tuy nhiên có nhiều

quy định chưa rõ ràng, và quy định còn khá rải rác trong nhiều văn bản khác

nhau, khiến việc áp dụng những quy định đó còn khó khăn và hiệu quả áp

dụng chưa thực sự có hiệu quả.



-



Cùng với sự phát triển của xu thế hội nhập, việc tham gia hợp đồng thương

mại ngày càng nhiều, tuy nhiên có vấn đề hiện nay vẫn chưa có những quy

định cụ thể để điều chỉnh, đặc biệt là hợp đồng thương mại có yếu tố nước

ngồi. Dẫn tới việc khi có những tranh chấp sảy ra thì gặp nhiều khó khăn

trong việc giải quyết, và có thể gây ra những thiệt hại đáng kể.



 Kiến nghị hướng hồn thiện



Để tiếp tục phát huy những vai trò và để khắc phục những hạn chế như trên,

pháp luật về hợp đồng thương mại cần được hoàn thiện hơn nữa, một số kiến nghị để

hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng thương mại như:

-



Các quy định về hợp đồng thương mại cần được quy định một cách cụ thể và

tập trung để có thể áp dụng một cách thuận lợi, đạt hiệu quả cao.



-



Cần bổ sung những quy định mới để điều chỉnh quan hệ hợp đồng thương mại,

đặc biệt là đối với hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngồi.



-



Một hệ thống pháp luật rõ ràng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia

quan hệ hợp đồng, góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại đạt hiệu quả cao.

2.2.2. Đánh giá chế định hợp đồng trong thương mại điện tử



Trong bối cảnh thương mại toàn cầu đang phát triển mạnh mẽ, giao kết hợp

đồng truyền thống đang dần được thay thế bởi một phương thức mới chính là giao

kết hợp đồng điện tử. Khi giao kết thông qua hợp đồng điện tử các doanh nghiệp đã

giảm đáng kể được chi phí giao dịch, thời gian giao dịch, dễ dàng hơn trong việc tiếp

12



xúc với khách hàng và thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài. Xét

trong giai đoạn hội nhập hiện nay, Việt Nam ra nhập WTO chưa lâu nên việc giao kết

thông qua hợp đồng điện tử không chỉ giúp các doanh nghiệp Việt Nam có thể vươn

ra thị trường quốc tế mà còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận

với các hợp đồng có yếu tố nước ngồi. Luật Giao dịch điện tử năm 2015 là đạo Luật

đầu tiên điều chỉnh trực tiếp việc sử dụng các phương tiện điện tử trong giao dịch

hợp đồng, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình xây dựng khung pháp

lý về giao dịch điện tử nói chung và hợp đồng thương mại nói riêng. Tuy nhiên, trong

quá trình pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử đi vào thực tiễn ở Việt Nam đã

xuất hiện những điểm hạn chế cần phải sửa đổi và khắc phục nhằm thúc đẩy hoạt

động thương mại điện tử phát triển manh mẽ, đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay.

 Về khái niệm hợp đồng điện tử



Điều 33 của Luật Giao dịch điện tử có quy định: “Hợp đồng điện tử là hợp

đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định của Luật này.” Nội

dung quy định này là điểm khác biệt so với Luật mẫu của UNCITRAL về thương

mại điện tử. Luật mẫu UNCITRAL không quy định cụ thể về hợp đồng điện tử mà

chỉ đưa ra các nguyên tắc cơ bản khi soạn thảo hợp đồng điện tử dựa trên những đặc

điểm đặc trưng nhất của loại hợp đồng này. Theo nguyên tắc chung, đối với những

hợp đồng điện tử được ký kết bằng cách các bên không trực tiếp gặp gỡ nhau, mà chỉ

trao đổi thông tin qua lại bằng thư từ, quy trình tạo lập và hình thành hợp đồng bao

gồm hai giai đoạn mang nặng tính pháp lý về thủ tục, đó là: Giai đoạn đề nghị giao

kết hợp đồng và giai đoạn chấp nhận giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, Luật Giao dịch

điện tử năm 2005 không quy định cụ thể về hai giai đoạn này, mà chỉ đặt ra các quy

định về Người khởi tạo thông điệp dữ liệu - Điều 16; Thời điểm, địa điểm gửi thông

điệp dữ liệu - Điều 17; Nhận thông điệp dữ liệu - Điều 18; Thời điểm, địa điểm nhận

thông điệp dữ liệu - Điều 19; Gửi và nhận tự động thông điệp dữ liệu - Điều 20. Như

vậy, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 mới chỉ quy định những vấn đề liên quan đến

yếu tố kỹ thuật của việc trao đổi trong giao dịch điện tử mà chưa đưa ra được các quy

định mang tính thủ tục pháp lý liên quan đến các giai đoạn đề nghị và chấp nhận đề

nghị giao dịch ký kết hợp đồng điện tử. Chính điều này đã làm phát sinh nhiều vấn

đề gây khó khăn cho việc giải quyết tranh chấp nếu có sau này.

 Về đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng



Pháp luật về thương mại điện tử hiện hành không quy định cụ thể về lời mời

“đề nghị giao kết hợp đồng”, “chấp nhận giao kết hợp đồng” mà được đề cập thông

qua hoạt động gửi nhận thông điệp dữ liệu. Về bản chất, việc giao kết hợp đồng nói

chung cũng như giao kết hợp đồng thương mại điện tử nói riêng đều bao gồm hai

hoạt động “đề nghị giao kết hợp đồng” và “chấp nhận giao kết hợp đồng”. Tuy nhiên,

13



Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và Nghị định 52/2013/NĐ-CP lại không sử dụng

thuật ngữ này, nhưng trong giao kết hợp đồng khi sử dụng chức năng đặt hàng trực

tuyến trên website (tại mục 2 Nghị định 52/2013/NĐ-CP) lại dùng sử dụng thuật ngữ

“đề nghị giao kết”, “chấp nhận giao kết” mà không thông qua thông điệp dữ liệu điện

tử. Việc quy định thuật ngữ thiếu đồng nhất giữa văn bản luật và nghị định hướng

dẫn hay trong cùng nghị định là thiếu hợp lý về kỹ thuật lập pháp.

Luật Giao dịch điện tử năm 2005 cũng không xác định rõ thời điểm hợp đồng

điện tử được coi là đã giao kết. Điều 17, 18, 19 của Luật này chỉ quy định về thời

điểm, địa chỉ gửi, địa chỉ nhận thông điệp dữ liệu mà khơng có quy định nào đề cập

việc nhận một thơng điệp dữ liệu như thế nào thì được coi là chấp nhận chào hàng và

từ đó hình thành hợp đồng điện tử. Việc xác định thời điểm hợp đồng có ý nghĩa rất

quan trọng vì đây là một trong những điều kiện xác định hiệu lực trong hợp đồng. Có

thể thấy, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và các văn bản dưới luật hướng dẫn thi

hành cũng khơng quy định nào về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng điện tử, cũng

như không quy định các trường hợp hợp đồng điện tử bị coi là vô hiệu, hậu quả pháp

lý của hợp đồng điện tử vô hiệu. Hơn nữa, trong hầu hết các văn bản luật và dưới

luật liên quan đến giao dịch điện tử, hợp đồng điện tử, thương mại điện tử, chữ ký

điện tử,… đều khơng có sự kết nối với các văn bản pháp luật quy định về hợp đồng,

giao kết hợp đồng, hợp đồng điện tử bị vô hiệu và cách giải quyết. Đây là sự không

đồng bộ của quy định pháp luật về giao dịch hợp đồng điện tử nói chung và Luật

Giao dịch điện tử năm 2005, Nghị định 52/2013/NĐ-CP nói riêng.

 Về giao kết hợp đồng thương mại điện tử có yếu tố nước ngồi



Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và các văn bản dưới luật vẫn chưa có quy

định cụ thể việc hợp đồng thương mại điện tử được giao kết với doanh nghiệp nước

ngoài, mà chỉ quy định về thừa nhận chữ ký điện tử và chứng thư điện tử nước ngồi:

“Nhà nước cơng nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử và chứng thư điện tử nước

ngoài nếu chữ ký điện tử hoặc chứng thư điện tử đó có độ tin cậy tương đương với

độ tin cậy của chữ ký điện tử và chứng thư điện tử theo quy định của pháp luật. Việc

xác định mức độ tin cậy của chữ ký điện tử và chứng thư điện tử nước ngoài phải căn

cứ vào các tiêu chuẩn quốc tế đã được thừa nhận, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các yếu tố có liên quan khác” (khoản 1 Điều

27). Vậy làm thế nào để xác định một chữ ký điện tử nước ngồi là có độ tin cậy

tương đương với chữ ký điện tử thông thường theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Hiện cũng chưa có một văn bản nào thừa nhận những tiêu chuẩn quốc tế, hay các

điều ước quốc tế nào mà Việt Nam là thành viên để xác định độ tin cậy của một chữ

ký điện tử nước ngoài. Khoản 2 Điều 27 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 cũng quy

định: “Chính phủ quy định cụ thể về việc thừa nhận chữ ký điện tử và chứng thư điện

tử nước ngoài” nhưng cho đến nay, sau hơn 10 năm từ khi Luật Giao dịch điện tử ra

14



đời vẫn chưa có một văn bản nào của Chính phủ quy định cụ thể về vấn đề này1. Có

thể thấy, trong bối cảnh hội nhập quốc tế tồn cầu hóa sâu rộng như hiện nay, vấn đề

giao kết hợp đồng thương mại điện tử với người nước ngoài cần đặc biệt quan tâm.

Chính phủ khơng những cần thừa nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử, chứng thư

điện tử nước ngồi, mà còn cần quy định chi tiết về lời đề nghị, chấp nhận giao kết,

hiệu lực hợp đồng cũng như cơ chế giải quyết tranh chấp giữa doanh nghiệp Việt

Nam với các thương nhân nước ngoài.

 Về giải quyết tranh chấp liên quan đến giao kết hợp đồng thương mại



điện tử

Vấn đề giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm được Luật Giao dịch điện tử

năm 2005 quy định 3 điều (từ Điều 50 đến Điều 52) và mới chỉ đề cập đến vấn đề xử

lý vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp trong các giao dịch điện tử, chưa có

quy định nào để giải quyết tranh chấp phát sinh liên quan đến hợp đồng điện tử nói

chung và hợp đồng thương mại điện tử nói riêng. Điều 52 Luật Giao dịch điện tử

năm 2005 quy định: “Nhà nước khuyến khích các bên có tranh chấp trong giao dịch

điện tử giải quyết thông qua hòa giải. Trong trường hợp các bên khơng hòa giải được

thì thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp về giao dịch điện tử được thực

hiện theo quy định của pháp luật”. Đây là quy định được đánh giá chưa cụ thể và rõ

ràng, gây khó khăn giải quyết tranh chấp phát sinh liên quan đến giao dịch điện tử.

Thơng thường khi có tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể của hợp đồng, việc đầu

tiên hai bên phải làm là tiến hành thương lượng với nhau. Nếu giải quyết tranh chấp

bằng thương lượng không đạt kết quả thì các bên tiến hành hòa giải. Với sự tham gia

của bên thứ ba, hai bên có thể giải quyết được những vướng mắc mà khi gặp gỡ trực

tiếp không tháo gỡ được. Nếu sau khi thực hiện hòa giải vẫn khơng thành cơng thì

hai bên có thể áp dụng thủ tục giải quyết tranh chấp tại Trọng tài hoặc Tòa án.

Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử ngày 16/5/2013 quy định về

phương thức giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thương mại điện tử: “Việc giải

quyết tranh chấp phải thơng qua thương lượng giữa các bên, hòa giải, Trọng tài hoặc

Tòa án theo các thủ tục, quy định hiện hành về giải quyết tranh chấp” (khoản 4 Điều

76). Trong khi đó, Luật Thương mại năm 2005 cũng quy định rất cụ thể về hình thức

giải quyết tranh chấp tại Điều 317 như sau: “1. Thương lượng giữa các bên; 2. Hoà

giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận

chọn làm trung gian hòa giải; 3. Giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án. Thủ tục giải

quyết tranh chấp trong thương mại tại Trọng tài, Tòa án được tiến hành theo các thủ

tục tố tụng của Trọng tài, Tòa án do pháp luật quy định”. Có thể thấy, tuy cùng liệt kê

4 phương thức giải quyết tranh chấp là: Thương lượng, hòa giải, trọng tài và Tòa án,

nhưng chỉ Luật Thương mại 2005 mới liệt kê theo đúng trình tự ưu tiên áp dụng các

phương thức mà các bên có thể lựa chọn để giải quyết tranh chấp. Nghị định

15



52/2013/NĐ-CP mới chỉ liệt kê mà không quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải

quyết của từng phương thức.

III.



KẾT LUẬN



Ý thức được tầm quan trọng của pháp luật hợp đồng trong điều chỉnh quan hệ

kinh tế trong nền kinh tế thị trường, Việt Nam từ khi bắt tay vào tiến hành công cuộc

đổi mới năm 1986 đã chú trọng tới ban hành các văn bản pháp luật, pháp quy điều

chỉnh quan hệ hợp đồng. Bộ luật Dân sự Việt Nam đã quy định một phần riêng về

quan hệ hợp đồng, nội dung thể hiện sự điều chỉnh thống nhất và đầy đủ quan hệ hợp

đồng, có kết cấu gần với pháp luật của các quốc gia có hệ thống pháp luật châu Âu

lục địa. Ngồi ra, trước đòi hỏi của quá trình gia nhập tổ chức thương mại thế giới,

để hội nhập tốt hơn vào nền kinh tế quốc tế, cùng với Bộ luật Dân sự các luật chuyên

ngành cũng ra đời để điểu chỉnh các quan hệ đặc thù như Luật Thương mại cũng ra

đời và được sửa đổi bổ sung phù hợp điều chỉnh các quan hệ thương mại và hợp

đồng thương mại, Luật Thương mại điện tử…

Trên đây là những phân tích đánh giá về pháp luật hợp đồng hiện nay trong

mối quan hệ với nền kinh tế thị trường Việt Nam. Trong phạm vi kiến thức còn hạn

hẹp, bài viết còn nhiều thiếu sót nên em rất mong nhận được những nhận xét của

thầy cô để có thể hồn thiện kiến thức.

Em xin chân thành cám ơn thầy, cô!



16



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

-



Trang thông tin điện tử của Bộ tư pháp và các bài viết nghiên cứu trao đổi.



17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phân tích đánh giá các chế định hợp đồng hiện hành của pháp luật hợp đồng hiện nay

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×