Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
chồng (N = 200), (đơn vị: %)

chồng (N = 200), (đơn vị: %)

Tải bản đầy đủ - 0trang

đồng bào điều kiện kinh tế khó hơn mình. Đối với tồn xã hội thì còn khó khăn hơn

chứ. Với độ tuổi đó thì họ tìm mọi cách để phát triển kinh tế gia đình: một là đi làm

thuê làm mướn, hai là vào nương rẫy ở lại một tuần, hai tuần rồi mới về nên tình trạng

mâu thuẫn ở đây rất là ít với nhóm tuổi này” (Nam, phó chủ tịch xã, 39 tuổi). Do họ

phải tập trung để phát triển kinh tế nên mâu thuẫn xảy ra ít hơn. Đa số các gia đình,

người chồng vào làm nương rẫy, đi làm th còn vợ ở nhà chăm sóc con cái nên không

gặp gỡ nhau hàng ngày. Họ cũng phải đi làm xa nơi cư trú (buôn làng) nên khi xảy ra

mâu thuẫn thì hầu như họ tự giải quyết là chủ yếu.

Từ kết quả kiểm định Chi-Square về mối liên hệ giữa độ tuổi và các cách giải

quyết mâu thuẫn bằng lời nói, mối liên hệ giữa độ tuổi và cách giải quyết mâu thuẫn

bằng hành động đều cho thấy tất cả các giá trị kiểm định Sig> a = 0,05. Do đó, ta có đủ

bằng chứng để kết luận rằng khơng có mối liên hệ giữa độ tuổi với cách giải quyết mâu

thuẫn bằng lời nói và cách giải quyết mâu thuẫn bằng hành động (Xem phụ lục 2, bảng

3.1 và bảng 3.2).

Qua phân tích trên đã cho thấy, giữa các nhóm tuổi khơng chỉ khác biệt về mức

độ xảy ra mâu thuẫn mà còn khác nhau trong hình thức giải quyết mâu thuẫn vợ chồng.

Tuy nhiên, kết quả kiểm định cho thấy, độ tuổi khơng có mối liên hệ với cách giải quyết

mâu thuẫn bằng lời nói và cách giải quyết mâu thuẫn bằng hành động.

3.1.2. Trình độ học vấn và cách giải quyết mâu thuẫn vợ chồng Trình độ học

vấn của người dân tộc Cơ Ho ở địa phương là không cao. Họ chủ yếu là ở nhóm có

trình độ học vấn từ THCS trở xuống. Trong nghiên cứu này, khảo sát 200 người thì có

tới 64 người là mù chữ. Vậy, giữa những nhóm có trình độ học vấn khác nhau thì liệu

có cách giải quyết mâu thuẫn khác nhau không?

Bảng 3.2: Mối quan hệ giữa trình độ học vấn và hình thức giải quyết mâu thuẫn

vợ chồng (N = 200), (đơn vị:%)

Trình độ học vấn

rp A



Tiểu

THCS THPT trở Tổng

Hình thức giải quyết mâu thuẫn

chữ

học

lên

Vợ chồng tự giải quyết mâu thuẫn

32,8

31,4

27,4

52,2

33,0

Vợ chồng vừa tự giải quyết và vợ

68,6

72,6

47,8

67,0

chồng vừa cùng với người khác giải 67,2

quyết

rp A

100

100

100

100

100

Tổng

Nguồn: Kêt quả khảo sát của đề tài năm 2017



59



Dữ liệu bảng trên cho thấy, ở hình thức vợ chồng vừa tự giải quyết và vợ chồng

vừa cùng với người khác giải quyết thì nhóm có học vấn THCS chiếm tỷ lệ cao nhất

(72,6%). Trong khi đó, nhóm có học vấn tiểu học và nhóm mù chữ có tỷ lệ xấp xỉ nhau

(68,6% và 67,2%). Còn đối với hình thức vợ chồng tự giải quyết mâu thuẫn thì nhóm

có học vấn là THPT trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất (52,2%). Điều này có thể lý giải dưới

góc độ thuyết hiện đại hóa, học vấn của vợ chồng cao thì sẽ chủ động trong quan hệ

hơn nhân, giải quyết mâu thuẫn vợ chồng. Kết quả từ PVS cũng cho thấy điều đó, “Ví

dụ, anh K. B là cử nhân kinh tế là ở Sở kế hoạch đầu tư, vợ nó là bác sỹ ở Di Linh. Khi

vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn thì tự giải quyết. Vai trò của già làng, trưởng tộc, ơng

cậu là đóng vai trò quyết định nhưng vợ chồng có sự am hiểu thì chồng nói vợ nghe, vợ

nói chồng nghe như vậy sẽ hay hơn. Họ sẽ tự dàn xếp trong nội bộ gia đình” (Nam, cán

bộ tư pháp của xã, 53 tuổi).

Qua phân tích trên cho thấy, trình độ học vấn có mối liên hệ với việc giải quyết

mâu thuẫn vợ chồng. Những vợ chồng có trình độ học vấn cao thì sẽ tự giải quyết được

mâu thuẫn là chủ yếu còn vợ chồng có trình độ học vấn thấp thì thường có sự tham gia

của người khác để giải quyết.

3.1.3. Mức sống hộ gia đình và cách giải quyết mâu thuẫn vợ chồng

Bảng 3.3: Mối quan hệ giữa mức sống hộ gia đình và hình thức

giải quyết mâu thuẫn (đơn vị: %)

Hình thức giải quyết mâu

thuẫn



Mức sống hộ gia đình

Khá giả



Trung bình Nghèo



rp A



Tổng



Vợ chồng tự giải quyết mâu

thuẫn



28,6



27,9



43,8



33,0



Vợ chồng vừa tự giải quyết

và vợ chồng vừa cùng với

người khác giải quyết



71,4



72,1



56,2



67,0



100



100



100



100



rp A



Tổng

Sig.(2-sided) = 0,085



Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài năm 2017

Kết quả nghiên cứu cho thấy, hình thức vợ chồng vừa tự giải quyết và vừa

cùng với người khác giải quyết mâu thuẫn chiếm tỷ lệ cao nhất là ở nhóm

hộ gia đình có mức sống trung bình (72,1%), tiếp theo là nhóm hộ gia đình

có mức sống khá giả (71,4%) và thấp nhất là nhóm hộ gia đình có mức

sống nghèo (56,2%). Hình thức vợ

60



chồng tự giải quyết mâu thuẫn thì nhóm hộ gia đình có mức sống nghèo chiếm

tỷ lệ cao nhất (51,5%) và thấp nhất là nhóm hộ gia đình có mức sống khá giả (28,6%).

Kết quả kiểm định Chi-Square về mối liên hệ giữa mức sống hộ gia đình và hình thức

giải quyết mâu thuẫn cho thấy giá trị Sig = 0,085> a = 0,05 tức là có thể khẳng định

mức sống hộ gia đình khơng có mối liên hệ với hình thức giải quyết mâu thuẫn vợ

chồng.

Kết quả phỏng vấn sâu cũng cho thấy, khơng có mối liên hệ giữa mức sống và

cách giải quyết mâu thuẫn vợ chồng. Vì mức sống của người dân tộc Cơ Ho tại địa

phương chủ yếu là mức trung bình và nghèo. Khi hỏi về việc giữa các nhóm có mức

sống khác nhau thì cách giải quyết mâu thuẫn vợ chồng như thế nào, một cán bộ cho

biết “Họ rất vui. Trong cộng đồng họ nghèo hay giàu là khơng quan trọng. Trong làng

của họ thì vai trò của già làng, ơng cậu là phải tơn tri trật tự. Họ theo chế độ mẫu hệ

nên vai trò của ông cậu hết sức là quan trọng. Hầu như, họ không bao giờ ly hôn”

(Nam, cán bộ tư pháp của xã, 53 tuổi). Như vậy, mức sống không tác động đến việc

giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, mà thay vào đó là văn hóa cộng đồng là yếu tố tác động

rất lớn. Vấn đề xảy ra giữa vợ chồng tưởng chừng chỉ gói gọn trong phạm vi gia đình

nhưng đối với người dân tộc Cơ Ho thì đó là việc thuộc quyền quyết định từ phía dòng

tộc, cộng đồng.

Bảng 3.4: Mối quan hệ giữa mức sống hộ gia đình và cách giải quyết mâu thuẫn

bằng lời nói (đơn vị: %)



Mức sống hộ gia đình

Cách giải quyết mâu thuẫn bằng lời Khá

nói

giả

7,1

Giải quyết bằng lời xin lỗi Khơng



34,4



92,9



79,5



65,6



35,7



47,5



45,3



64,3



52,5



54,7



71,4



87,7



89,1







28,6



12,3



Khơng



100



98,4



98,4



0

14



1,6



1,6

64



Giải quyết bằng cách giải Khơng



thích, góp ý

Giải quyết bằng những lời Khơng





N



Nghèo



bình

20,5







dỗ dành/nịnh nọt

Khác



Trung



122



10,9



Giá trị kiểm

định



Sig = 0,034

Sig = 0,696

Sig = 0,192

Sig = 0,891

200



Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài năm 2017

Kết quả từ kiểm định Chi-Square về mối liên hệ giữa mức sống hộ gia đình



các cách giải quyết mâu thuẫn bằng lời nói đa số đều cho thấy giá trị kiểm

định Sig > a

59

= 0,05. Cụ thể là mối liên hệ giữa mức sống hộ gia đình và giải quyết bằng lời xin lỗi

có Sig = 0,034 < a = 0,05. Trong đó, có 1 ơ (chiếm 16,7%) trong bảng chéo có giá trị

expected count nhỏ hơn 5. Như vậy, ta có đủ bằng chứng để bác bỏ giả thuyết H 0, chấp

nhận giả thuyết Hivà kết luận rằng có mối liên hệ giữa mức sống hộ gia đình và cách

giải quyết mâu thuẫn bằng lời xin lỗi. Nhóm hộ gia đình có mức sống nghèo thì ít sử

dụng cách giải quyết mâu thuẫn bằng lời xin lỗi hơn so với hộ có mức sống khá giả

(65,6% so với 92,9%).

Mối liên hệ giữa mức sống hộ gia đình và giải quyết mâu thuẫn bằng cách giải

thích, góp ý, giải quyết bằng những lời dỗ dành/nịnh nọt, cách giải quyết mâu thuẫn

bằng lời nói khác đều có Sig > a = 0,05. Do đó, ta có đủ bằng chứng để kết luận rằng

khơng có mối liên hệ giữa cách giải quyết bằng giải thích, góp ý, cách giải quyết bằng

lời dỗ dành/nịnh nọt và cách giải quyết mâu thuẫn bằng lời nói khác với mức sống hộ

gia đình.

Còn đối với mối quan hệ giữamức sống hộ gia đình và cách giải quyết mâu

thuẫn bằng hành động thì tất cả các kết quả từ kiểm định Chi-Square cũng đều cho thấy

62



giá trị kiểm định Sig > a = 0,05. Do đó, ta kết luận rằng khơng có mối liên hệ giữa mức

sống hộ gia đình với cách giải quyết mâu thuẫn bằng hành động (Xem phụ lục 2, bảng

3.3).

Qua phân tích trên cho thấy, giữa mức sống hộ gia đình và hình thức giải quyết

mâu thuẫn khơng có mối liên hệ với nhau. Trong các cách giải quyết mâu thuẫn, chỉ có

mức sống hộ gia đình và cách giải quyết mâu thuẫn bằng lời xin lỗi là có mối liên hệ

với nhau. Mức sống của hộ gia đình càng cao thì tỷ lệ họ sử dụng cách giải quyết mâu

thuẫn vợ chồng bằng lời xin lỗi càng nhiều hơn.

3.1.4. Nghề nghiệp và cách giải quyết mâu thuẫn vợ chồng

Người dân tại địa phương đa số là làm nông nghiệp. Trong mẫu nghiên cứu với

200 người thì có tới 190 người là lao động nơng nghiệp, còn 10 người là làm các công

việc phi nông nghiệp như là kinh doanh, công nhân viên chức nhà nước, công nhân... Ở

xã Gia Hiệp trong những năm gần đây đã xuất hiện doanh nghiệp về chế biến hạt cà

phê; sản xuất cây giống như là cây cà phê, cây ăn quả; trồng hoa và rau củ quả. Vì thế,

một bộ phận dân cư tại đây đã có cơng ăn việc làm ổn định. Họ đã vào làm công nhân

trong các công ty, không chỉ người dân tộc Kinh mà người dân tộc Cơ Ho cũng được

vào làm. Kết quả từ PVS cũng cho thấy, nhóm làm nghề cơng nhân thì ít xảy ra mâu

thuẫn hơn người làm lao động nơng nghiệp. “Tại đây có cụm công nghiệp nên một số

người đồng bào dân tộc nằm trong độ tuổi lao động vào các cụm công nghiệp để làm

cơng nhân thì nhóm này lại mang một đặc thù khác. Đó là họ đi làm cơng nhân đa số

là phụ nữ, ở đây là như thế phụ nữ đi làm cơng nhân, còn nam giới đi làm rẫy cho nên

nhóm này thì mục tiêu của họ cũng là để giải quyết khó khăn trong kinh tế gia đình cho

nên rất ít mâu thuẫn ở. Nó chỉ tập trung vào một số nhóm làm nơng nghiệp, đa phần

người làm nơng nghiệp thì thời gian rảnh rỗi thường uống rượu, hễ cứ uống rượu thì

có sự tranh chấp, mâu thuẫn xảy ra trong gia đình ” (Nam, phó chủ tịch xã, 39 tuổi).

Như vậy, giữa các nghề nghiệp khác nhau thì có thể sẽ có mức độ xảy ra mâu

thuẫn cũng khác nhau. Vậy, việc giải quyết mâu thuẫn giữa nghề nghiệp chính và hình

thức giải quyết mâu thuẫn có mối liên hệ gì hay khơng?

Bảng 3.5: Mối quan hệ giữa nghề nghiệp chính và hình thức giải quyết mâu thuẫn

vợ chồng



63



Nghề nghiệp chính

rp A



Hình thức giải quyết mâu thuẫn



Lao động Lao động phi Tổng

nông nghiệp nông nghiệp



Vợ chồng tự giải quyết mâu thuẫn

32,1

Vợ chồng vừa tự giải quyết và vợ chồng

67,9

vừa cùng với người khác giải quyết

Tổng

100

Sig.(2-sided) = 0,241



50,0



33,0



50,0



67,0



100



100



\-----------------------/ \--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------



Nguồn: Kêt quả khảo sát của đề tài năm 2017

Đối với người lao động nơng nghiệp, hình thức vợ chồng vừa tự giải quyết và

vừa cùng với người khác giải quyết chiếm tỷ lệ gấp hơn 2 lần so với hình thức vợ

chồng tự giải quyết mâu thuẫn (67,9% so với 32,1%). Còn lao động phi nơng nghiệp,

hình thức vợ chồng tự giải quyết mâu thuẫn và hình thức vợ chồng vừa tự giải quyết và

vừa cùng với người khác giải quyết đều chiếm tỷ lệ ngang nhau (50,0%). Kết quả từ

kiểm định Chi-Square về mối liên hệ giữa nghề nghiệp chính và hình thức giải quyết

mâu thuẫn cho thấy giá trị Sig = 0,241> a = 0,05 tức là có thể khẳng định nghề nghiệp

chính khơng có mối liên hệ với hình thức giải quyết mâu thuẫn.

Hầu hết, người lao động trong các cơng ty, xí nghiệp tại địa phương thì người

dân tộc Kinh là nhiều hơn người dân tộc Cơ Ho. Bởi vì, người dân tộc Cơ Ho là dân

gốc tại địa phương nên có nhiều đất đai sản xuất hơn. Còn người dân tộc Kinh, họ là

dân dư cư của miền Bắc, miền Trung vào nên đất đai sản xuất ít. Việc xuất hiện các

cơng ty, xí nghiệp không chỉ tạo cơ hội việc làm nhằm cải thiện đời sống kinh tế cho

người dân mà có tác động lớn đến nhiều khía cạnh khác. Và HĐH được xem như là sự

giải thoát con người khỏi cộng đồng xã hội gắn bó với nhau mật thiết, ít có sự tự do cá

nhân. Trong xã hội hiện đại, con người có tính chủ động cao hơn, các mối quan hệ cũng

trở nên cởi mở hơn, theo đó, chỉ số phát triển kinh tế có mối liên hệ mật thiết với các

giá trị cá nhân [35]. Đối với người công nhândân tộc Cơ Ho thì vợ chồng tự giải quyết

mâu thuẫn. Người tham gia làm công nhân trong các công ty chủ yếu là lao động nữ.

Họ là người ít hay nhiều cũng được đi học, biết nói tiếng phổ thơng. Khi làm cơng nhân

thì thu nhập của họ ổn định và cao hơn so với người trồng cà phê trong vùng. Vợ chồng

đều có việc làm và có thu nhập ổn định hơn nên phần nào đã thiết lập được quyền lực

của mình trong gia đình. Đồng thời, họ cũng có cơ hội giao lưu và kết bạn với nhiều

người. Vì thế, sự nhận thức, hiểu biết của họ là cao hơn hẳn với với người trong buôn,

64



thôn của họ. Do đó, khi xảy ra mâu thuẫn vợ chồng thì họ tự giải quyết mâu thuẫn của

mình là chính. Họ khơng cần tới sự hỗ trợ của gia đình hai bên hay là dòng họ.

Bên cạnh đó, kết quả từ kiểm định Chi-Square về mối liên hệ giữa nghề nghiệp

chính và các cách giải quyết mâu thuẫn bằng lời nói chủ yếu đều cho thấy giá trị kiểm

định Sig> a = 0,05. Cụ thể là mối liên hệ giữa nghề nghiệp chính và giải quyết bằng lời

xin lỗi,giải quyết bằng cách giải thích, góp ý, giải quyết bằng những lời dỗ dành/nịnh

nọt có Sig> a = 0,05. Riêng mối liên hệ giữa nghề nghiệp chính và cách giải quyết mâu

thuẫn bằng lời nói khác thì có Sig = 0,023< a = 0,05. Tuy nhiên, đối với kiểm định ChiSquare chỉ có ý nghĩa khi số quan sát đủ lớn và trong trường hợp này thì có 2 ơ (chiếm

tới 50,0%) trong bảng chéo có giá trị expected count nhỏ hơn 5. Như vậy, kết quả kiểm

định khơng còn đáng tin cậy. Do đó, ta có đủ bằng chứng để chấp nhận giả thuyết Ho,

bác bỏ giả thuyết Hi và kết luận rằng khơng có mối liên hệ giữa nghề nghiệp chính với

cách giải quyết mâu thuẫn vợ chồng bằng lời nói (Xem phụ lục 2, bảng 3.4).

Đối với mối quan hệ giữa nghề nghiệp chính và cách giải quyết mâu thuẫn bằng

hành động thì đa số kết quả từ kiểm định Chi-Square đều cho thấy giá trị kiểm định

Sig> a = 0,05. Cụ thể là: mối liên hệ giữa nghề nghiệp chính và giải quyết bằng cách im

lặng/để lâu rồi bỏ qua, giải quyết bằng cách tặng hoa, quà/đưa tiền, giải quyết bằng

cách quan hệ tình dục, giải quyết bằng cách dẫn đi ăn, đi chơi có Sig >a = 0,05.Bên

cạnh đó, mối liên hệ giữa nghề nghiệp chính và giải quyết bằng cách chủ động ôm ấp,

âu yếm để làm hòa, mối liên hệ giữa nghề nghiệp chính và cách giải quyết mâu thuẫn

bằng hành động khác đều có Sig< a = 0,05. Tuy nhiên, đối với kiểm định Chi-Square

chỉ có ý nghĩa khi số quan sát đủ lớn và trong trường hợp này thì cả hai mối quan hệ

đều có 2 ơ (chiếm 50,0%) trong bảng chéo có giá trị expected count nhỏ hơn 5. Như

vậy, kết quả kiểm định khơng còn đáng tin cậy. Do đó, ta có đủ bằng chứng để chấp

nhận giả thuyết Ho, bác bỏ giả thuyết Hi và kết luận khơng có mối liên hệ giữa nghề

nghiệp chính với cách giải quyết mâu thuẫn vợ chồng bằng hành động (Xem phụ lục 2,

bảng 3.5).

Qua đây cho chúng ta thấy nghề nghiệp chính có thể tạo nên sự khác biệt trong

mức độ xảy ra mâu thuẫn. Tuy nhiên, nghề nghiệp chính khơng có mối liên hệ với việc

giải quyết mâu thuẫn vợ chồng ở người dân tộc Cơ Ho. Nhưng để tìm hiểu kỹ hơn về

mối liên hệ giữa nghề nghiệp chính và cách giải quyết mâu thuẫn vợ chồng thì cần có

số lượng mẫu tương đối cân xứng giữa các nhóm nghề nghiệp. Bởi vì, trong nghiên cứu

65



này, nhóm dân cư làm nghề nghiệp chính là nơng nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ ưu trội hơn

hẳn so với các nghề nghiệp chính khác. Ngồi ra, những đối tượng được PVS thì chủ

yếu là lao động nông nghiệp. Nên trong nghiên cứu này chưa có dữ liệu từ PVS để lý

giải về mối liên hệ giữa nghề nghiệp chính và cách giải quyết mâu thuẫn vợ chồng.

3.2. Nhóm yếu tố gia đình, dòng họ, cộng đồng (Luật tục) và tơn giáo

Đây là nhóm các yếu tố có tác động nhiều nhất đến cách giải quyết mâu thuẫn

vợ chồng ở người dân tộc Cơ Ho. Xã Gia Hiệp nằm trên trục quốc lộ 20 từ thành phố

Hồ Chí Minh đi Đà Lạt, vị trí có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế văn hóa - xã hội của huyện Di Linh. Người dân tại đây vừa có dân gốc của địa phương

là người dân tộc Cơ Ho gốc (Sơ rê) và có người dân nhập cư vào từ những năm 50.

Trong tồn xã thì chỉ có 5 thơn có người dân tộc Cơ Ho sinh sống. Chỉ có thơn 5B là có

một nửa là dân tộc Kinh và một nửa là dân tộc Cơ Ho. Trong 4 thơn còn lại thì người

dân tộc Cơ Ho sinh sống, người dân tộc Kinh thì sống ở những thơn khác. Do đó, người

dân tộc Cơ Ho vẫn còn lưu giữ được mơ hình cư trú giống như từ ngày xưa của ông bà

tổ tiên. Những người sống xung quanh căn nhà họ không ai khác đó là gia đình của

người chị gái, người em gái của mình hay là người có cùng dòng họ. Bởi vì, người Cơ

Ho theo chế độ mẫu hệ nên tài sản của người mẹ để lại sẽ được chia cho các con gái. Từ

đời này sang đời khác, họ đã tạo nên được một cộng đồng khép kín với những nét văn

hóa đặc trưng riêng của dòng họ, dân tộc mình. Vấn đề mâu thuẫn giữa vợ chồng, nếu

họ khơng tự giải quyết thì sẽ có sự tham gia của gia đình là chủ yếu.

Kết quả nghiên cứu đã cho thấy có tới 78,0% người trong mẫu khảo sát cho là

có chia sẻ với người khác về việc vợ chồng xảy ra mâu thuẫn còn 22,0% thì khơng chia

sẻ (Xem phụ lục 2, bảng 3.6). Người thường được chia sẻ chủ yếu là bố mẹ, chị em gái,

ông cậu, bà dì, con cái, anh em trai, hàng xóm, bạn bè, Tổ hòa giải,... Mục đích của việc

chia sẻ đó là để giải tỏa tâm lý của người vợ, người chồng có xảy ra mâu thuẫn. Ngồi

ra, họ cũng mong muốn đón nhận những lời khun, sự thơng cảm hay là để nhờ sự

giúp đỡ của người khác để giải quyết mâu thuẫn.



66



Bảng 3.6: Kiểu loại gia đình và hình thức giải quyết mâu thuẫn vợ chồng ____

__________________(đơn vị: %)_____________________________________

Kiểu loại gia đình

Hình thức giải quyết mâu

thuẫn

Gia đình ba rp A

Gia đình Gia đình hai

thế hệ trở lên Tổng

một thế hệ thế hệ

Vợ chồng tự giải quyết mâu

thuẫn

Vợ chồng vừa tự giải quyết

và vợ chồng vừa cùng với

người khác giải quyết

rp A



Tông____________________

\------------------7



64,7



27,8



32,6



33,0



35,3



72,2



67,4



67,0



100



100



\---------------------------------- --------------------------------



100

100

Sig. (2-sided) = 0,012



Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài năm 2017



Hình thái gia đình phổ biến của người dân tộc Cơ Ho là kiểu loại gia đình hai

thế hệ và gia đình ba thế hệ. Đối với hai kiểu hình thái này, vợ chồng khi

xảy ra mâu thuẫn thì vợ chồng vừa tự giải quyết và vừa cùng với người

khác giải quyết là chủ yếu. Cụ thể là vợ chồng vừa tự giải quyết và vừa

cùng với người khác giải quyết mâu thuẫn ở gia đình hai thế hệ là chiếm

72,2% và gia đình ba thế hệ trở lên là chiếm 67,4%. Bởi vì, khi vợ chồng

sống chung với những thành viên khác thì sẽ có sự tham gia của họ vào giải

quyết mâu thuẫn vợ chồng, đó có thể là ơng bà, cha mẹ, anh chị em trong

gia đình,... Mặt khác, vợ chồng sống chung với cha mẹ thì chịu sự chi phối

bởi cha mẹ rất nhiều (đặc biệt là vợ chồng mới cưới) vì cha mẹ đang nắm

giữ kinh tế hơn nên con cái phải nghe lời, tuân thủ cha mẹ.



67



Đối với gia đình một thế hệ thì chủ yếu là vợ chồng tự giải quyết mâu thuẫn

(chiếm 64,7%), còn vợ chồng vừa tự giải quyết và vừa cùng với người khác giải quyết

mâu thuẫn là chiếm 35,3%. Như vậy, gia đình một thế hệ tức là chỉ có vợ chồng chung

sống với nhau thì họ sẽ tự giải quyết mâu thuẫn của họ là chủ yếu.

Kết quả từ kiểm định Chi-Square về mối liên hệ giữa kiểu loại gia đình và hình

thức giải quyết mâu thuẫn cho thấy giá trị Sig = 0,012< a = 0,05. Trong đó, khơng có ơ

nào trong bảng chéo có giá trị expected count nhỏ hơn 5. Do đó, ta kết luận rằng kiểu

loại gia đình có mối liên hệ với hình thức giải quyết mâu thuẫn vợ chồng.

Kết quả kiểm định Chi-Square về mối liên hệ giữa kiểu loại gia đình và các

cách giải quyết mâu thuẫn bằng lời nói đều cho thấy tất cả các giá trị kiểm định Sig > a

= 0,05. Do đó, ta có thể kết luận rằng khơng có mối liên hệ giữa kiểu loại gia đình với

cách giải quyết mâu thuẫn vợ chồng bằng lời nói (Xem phụ lục 2, bảng 3.7).

Bảng 3.7: Mối quan hệ giữa kiểu loại gia đình và cách giải quyết

mâu thuẫn bằng hành động (đơn vị: %)

Kiểu loại gia đình

Cách giải quyết mâu thuẫn

Giá trị kiểm

Gia đình Gia đình hai Gia đình ba

bằng hành động

một thế hệ thế hệ

thế hệ trở định

lên

Sig =

Giải quyết bằng cách Khơng

76,5

93,8

93,0



0,047

im lặng/để lâu rồi bỏ

23,5

6,2

7,0

qua

Sig =

Giải quyết bằng cách Khơng

100

99,0

95,3



0,231

tặng hoa, q/đưa

0

1,0

4,7

tiền

Sig =

Giải quyết bằng cách Khơng

100

100

98,8



0,514

quan hệ tình dục

0

0

1,2

Giải quyết bằng cách Khơng



dẫn đi ăn, đi chơi



100



94,8



97,7



0



5,2



2,3



97,9

2,1

100

0

97



98,8

1,2

98,8

1,2

86



100

Chủ động ơm ấp, âu Khơng



yếm để làm hòa

0

Khác

Khơng

94,1



5,9

N

17

Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài năm 2017



Sig =

0,416

Sig =

0,766

Sig =

0,078

200



Mối quan hệ giữa kiểu loạigia đình và cách giải quyết mâu thuẫn bằng hành

động thì hầu hết kết quả từ kiểm định Chi-Square đa số đều cho thấy giá trị kiểm định

Sig > a = 0,05. Cụ thể là: mối liên hệ giữa kiểu loại gia đình và giải quyết bằng cách

65



im lặng/để lâu rồi bỏ qua có Sig = 0,047. Trong đó, có 1 ơ (chiếm 16,7%) trong bảng

chéo có giá trị expected count nhỏ hơn 5. Như vậy, ta có đủ bằng chứng đểkết luận rằng

có mối liên hệ giữa kiểu loại gia đình và cách giải quyết mâu thuẫn bằng cách im

lặng/để lâu rồi bỏ qua. Gia đình một thế hệ thì thường sử dụng cách giải quyết mâu

thuẫn bằng cách im lặng/để lâu rồi bỏ qua nhiều hơn so với gia đình hai thế hệ và gia

đình ba thế hệ trở lên (tỷ lệ tương ứng là 23,5% so với 6,2%, 7,0%).

Kết quả kiểm định về mối liên hệ giữa kiểu loại gia đình và giải quyết bằng cách

tặng hoa, quà/đưa tiền, giải quyết bằng cách quan hệ tình dục, giải quyết bằng cách dẫn

đi ăn, đi chơi, giải quyết bằng cáchchủ động ôm ấp, âu yếm để làm hòa, giải quyết mâu

thuẫn bằng hành động khác đều có Sig>a = 0,05. Do đó, ta kết luận rằng khơng có mối

liên hệ giữa kiểu loại gia đình vớigiải quyết bằng cách tặng hoa, quà/đưa tiền, giải

quyết bằng cách quan hệ tình dục, giải quyết bằng cách dẫn đi ăn, đi chơi, giải quyết

bằng cách chủ động ôm ấp, âu yếm để làm hòa và giải quyết mâu thuẫn bằng hành động

khác.

Biểu đồ 3.1: Luật tục về hôn nhân tác động đến cách giải quyết

mâu thuẫn vợ chồng (N =200), (đơn vị:%)



Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài năm 2017 Kết quả khảo sát cho

thấy, tỷ lệ cho rằng Luật tục có tác động đến cách giải quyết mâu thuẫn vợ chồng chiếm

tới 72,0%. Còn những người cho là Luật tục khơng có tác động gì đến cách giải quyết

mâu thuẫn vợ chồng thì chiếm 28,0%. Đối với người dân tộc Cơ Ho, khi vợ chồng xảy

ra mâu thuẫn lớn mà khơng thể tự giải quyết được thì sẽ phải mời bố mẹ của hai bên

đến để giải quyết. Khi hỏi về người tham gia giải quyết mâu thuẫn cùng với vợ chồng

thì một phụ nữ đã cho biết “Chỉ có một lần là bố mẹ bên ơng xã và bố mẹ chị giải quyết

thôi, không hỏi ông cậu ln. Mình chỉ có một rượu với một con gà là xong, khơng có

chuyện gì hết”(Nữ, làm nơng, 48 tuổi).

69



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

chồng (N = 200), (đơn vị: %)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×