Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tình hình nghiên cứu của đề tài

Tình hình nghiên cứu của đề tài

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bên cạnh đó, trong bài viết “A financial issue, a relationship issue, or both?

Examining the predictors of marital financial conflict ” của Jeffrey P. Dew và Robert

Stewart (2012) đã nêu rõ sự tác động của tài chính đến mối quan hệ vợ chồng. Nghiên

cứu này sử dụng mẫu đại diện trên toàn quốc với 1500 cặp vợ chồng. Kết quả nghiên

cứu cho thấy áp lực về mặt kinh tế, vấn đề truyền thông và các vấn đề ẩn sâu bên trong

quan hệ hôn nhân đều liên quan đến mâu thuẫn về tài chính. Người chồng đã đóng góp

vào kinh tế của gia đình chiếm trung bình 76% thu nhập. Trong khi đó, nợ tiêu dùng sẽ

làm giảm thu nhập của họ trong tương lai. Từ đó, người chồng phải chịu trách nhiệm

kiếm phần lớn thu nhập. Vì thế họ đã cảm thấy rất bực bội. Và chỉ khi các cặp vợ chồng

có được sự thỏa đáng với nhau về mặt truyền thơng, sự tơn trọng, cam kết, cơng bằng

và có mức độ quyền lực kinh tế bình đẳng thì mức độ mâu thuẫn về tài chính thấp hơn

[30]. Như vậy, mâu thuẫn về mặt tài chính được xem như là trung tâm của các vấn đề

mâu thuẫn giữa vợ chồng.

Một trong những lý do khiến cho vợ chồng trong gia đình mâu thuẫn, đặc biệt

gia đình ở nơng thơn Việt Nam là sự khác nhau về quyền lực và sự tiếp cận các nguồn

lực. Bài viết “Quyền lực của vợ chồng trong gia đình nơng thơn ” của Phạm Thị Huệ

(2007) đã cho chúng ta thấy điều đó. Nghiên cứu nhấn mạnh tới quan hệ quyền lực

giữa vợ chồng ở gia đình nơng thơn Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất, mua sắm đồ đắt

tiền, trong quan hệ gia đình, họ hàng và trong hoạt động xã hội.

Xét về sự đóng góp kinh tế, người chồng là người quyết định chính cho dù đóng

góp kinh tế ít hay nhiều. Quyền quyết định của vợ trong sản xuất tỷ lệ thuận với sự

đóng góp của họ trong sản xuất. Về quyền quyết định của vợ, chồng trong mua sắm đồ

đạc đắt tiền thì cả hai vợ chồng cùng quyết định. Tuy nhiên, nếu đóng góp về kinh tế

của người nào càng tăng thì quyền quyết định trong mua sắm đồ đạc đắt tiền càng cao.

Trong quan hệ với gia đình và họ hàng, người vợ và chồng cùng nhau bàn bạc

với nhau là chiếm tỉ lệ cao nhất. Bên cạnh đó, nếu đóng góp của người vợ trong kinh tế

càng nhiều thì quyền quyết định của họ càng tăng lên. Xét về độ tuổi, nếu người chồng

trẻ (dưới 30 tuổi) hoặc già (trên 60 tuổi) thì họ có quyền quyết định về sản xuất, mua

sắm đồ đắt tiền nhiều hơn những nhóm tuổi khác, ngược lại thì tuổi người vợ càng cao

thì quyền quyết định của họ ngày càng được cải thiện. Trong quan hệ gia đình và họ

hàng, quyền quyết định của cả hai vợ chồng cao nhất là ở nhóm tuổi trẻ (dưới 30 tuổi)

hoặc ở nhóm tuổi già (trên 60 tuổi).

5



Xét theo trình độ học vấn người chồng có học vấn càng thấp thì quyền quyết

định của người chồng trong sản xuất, mua sắm đồ đạc đắt tiền, trong mối quan hệ với

gia đình, họ hàng và trong hoạt động xã hội càng cao. Và ngược lại, học vấn của người

vợ càng cao thì quyền quyết định càng cao hơn [10]. Tác giả chưa chỉ ra được từ sự

khác nhau về quyền lực giữa vợ và chồng trong việc đưa ra các quyết định thì họ có

xảy ra sự mâu thuẫn hay không?

Việc xảy ra bạo lực, mâu thuẫn trong gia đình có mối liên quan với bất bình

đẳng xã hội. Vấn đề bình đẳng và bất bình đẳng trong gia đình đã trở thành một chủ đề

nghiên cứu thu hút đối với nhiều nhà nghiên cứu. Bài viết “Quan niệm và thái độ của

vợ chồng trẻ về bình đẳng giới trong gia đình ” của Trần Thị Anh Thư (2010) chủ yếu

sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với mục tiêu nhằm phân tích vấn đề liên

quan đến nhận thức và thái độ của vợ chồng trẻ về bình đẳng giới trong gia đình. Mẫu

nghiên cứu được hình thành theo cách chọn mẫu chỉ tiêu với dung lượng mẫu là 24

trường hợp. Nữ giới sau khi kết hôn đã tham gia nhiều vào hoạt động kinh tế. Họ quan

niệm phụ nữ cũng nên đóng góp kinh tế cho gia đình chứ khơng chỉ trơng chờ vào đàn

ông. Đồng thời, họ cũng cho rằng nam giới phải là trụ cột chính về mặt kinh tế trong

gia đình. Cả nam giới và nữ giới đều nhận thức được trách nhiệm đối với gia đình.

Nữ giới quan niệm nội trợ và chăm sóc gia đình chu đáo là phương cách tốt nhất

để xây dựng, bảo vệ hạnh phúc gia đình và họ cũng muốn chồng chia sẻ cơng việc nội

trợ, chăm sóc con cái. Còn nam giới cho rằng nội trợ là công việc nhỏ nhặt và phù hợp

với nữ giới. Nhiều người chồng trẻ cho rằng nếu người vợ làm tốt cơng việc nội trợ thì

sẽ làm cho gia đình hạnh phúc.

Theo họ, bình đẳng giới là sự chia sẻ trách nhiệm chăm lo cho gia đình cả về vật

chất lẫn tinh thần, vợ chồng tôn trọng lẫn nhau. Các cặp vợ chồng trẻ cho rằng giữa

bình đẳng giới và hạnh phúc gia đình có mối quan hệ mật thiết với nhau. Và để giữ

được hạnh phúc gia đình thì họ cho rằng cần phải chiều chuộng nhau, cố gắng kìm chế

“cái tơi” của mình mới giữ được hòa khí trong gia đình. Và khi hai vợ chồng khơng thể

hiện được trách nhiệm đó thì sẽ dẫn đến mâu thuẫn [24].

Tuy nhiên, trong đời sống vợ chồng hiện nay vẫn đang còn có sự bất bình đẳng.

Bàn về vấn đề này, Vũ Thị Thanh (2009) đã có bài viết “Bất bình đẳng giới giữa vợ và

chồng trong gia đình nơng thơn Việt Nam hiện nay”. Tác giả đã phân tích được sự bất

bình đẳng trong phân cơng lao động giữa vợ và chồng, nêu ra một số yếu tố ảnh hưởng

6



tới bất bình đẳng trong quan hệ vợ chồng và sự quyết định trong gia đình. Tỷ lệ người

chồng tham gia vào công việc rửa chén, giặt giũ, nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa không đáng

kể. Đối với cặp vợ chồng trẻ, tỷ lệ người vợ nắm giữ tiền chi tiêu và mua thức ăn cao

hơn cặp vợ chồng cao tuổi. Một số công việc như nấu ăn, dọn nhà và giặt giũ quần áo

thì tỷ lệ người chồng trẻ trong gia đình thường xuyên thực hiện nhiều hơn các cặp vợ

chồng cao tuổi. Mặc dù, người chồng tham gia làm các cơng việc trong gia đình nhưng

mức độ làm vẫn thấp hơn so với người vợ. Sau khi kết hơn, hai vợ chồng sống riêng thì

tỷ lệ họ cùng làm việc nấu ăn và dọn dẹp nhà cửa nhiều hơn so với khi kết hôn xong mà

ở chung với bố mẹ. Bên cạnh đó, con cái cũng tham gia nhiều vào cơng việc trong gia

đình nên độ tuổi của con cái là một yếu tố rất quan trọng.

Trong bốn loại hình cơng việc trong gia đình như công việc sản xuất, mua sắm

đồ đạc đắt tiền, quan hệ xã hội và quan hệ gia đình thì người vợ chỉ quyết định nhiều

hơn so với người chồng ở cơng việc sản xuất. Vì nam giới ở nơng thơn hiện nay có xu

hướng tìm các cơng việc ngồi nơng nghiệp để cải thiện thu nhập gia đình. Nếu gia

đình có chồng làm nơng nghiệp thì người đó sẽ tự quyết định. Còn trong gia đình mà cả

hai người đều làm nơng nghiệp thì người vợ sẽ quyết định nhiều hơn chồng. Riêng gia

đình mà làm nghề phi nơng nghiệp thì người chồng sẽ quyết định nhiều hơn.

Các dữ liệu định tính đã cho thấy sự ảnh hưởng sâu sắc của các định kiến giới

truyền thống đến suy nghĩ và hành động trong quan hệ vợ chồng ở nông thôn. Người

chồng cho rằng mình chỉ nên làm cơng việc nặng nhọc, to lớn. Còn người vợ thì nhận

trách nhiệm về cơng việc nội trợ, chăm sóc con cái trong gia đình [21].

Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Quang Dũng (2002) đã cho thấy nguyên nhân

gây ra sự lục đục trong gia đình nghèo khó chủ yếu là do khó khăn về kinh tế, mâu

thuẫn vì tài sản thừa kế do bố mẹ chia không đều hay do những lý do vụn vặt khác. Sự

xích mích trong gia đình khá giả thì thường đến từ phía người đàn ơng. Bởi vì, họ kiếm

được thu nhập cao hơn và tham gia vào các hoạt động giải trí [3].

Các nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng không phải chỉ xuất phát từ

những vấn đề liên quan đến chuyện cơm áo gạo tiền, dạy dỗ con cái... trong gia đình

mà nó còn xuất phát từ cách ứng xử của người vợ, người chồng đối với hàng xóm, bạn

bè. Bàn về vấn đề này, Nguyễn Hồng Hà (2010) đã có một bài viết “Ngun nhân xung

đột trong gia đình dưới góc độ cư xử với bạn bè, hàng xóm ”. Tác giả đã tập trung tìm

hiểu ngun nhân xung đột dưới góc độ cư xử với bạn bè và hàng xóm. Bài viết đã

7



thông qua tác động của các yếu tố kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội để tìm hiểu nguyên

nhân mâu thuẫn trong gia đình của các cặp vợ chồng trẻ ở Hà Nội hiện nay. Phạm vi

khảo sát ở 2 phường là Tân Nghĩa (Cầu Giấy) và Cửa Đơng (Hồn Kiếm), năm 2009.

Phương pháp thu thập thơng tin là điều tra bằng bảng hỏi và PVS. Tác giả sử dụng

phương pháp chọn mẫu theo cụm trên cơ sở có khung mẫu gồm 2 cụm phường Tân

Nghĩa và phường Cửa Đông. Sau khi lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản với kích thước mẫu

là 300 thì tiếp tục sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng. Kết quả nghiên cứu cho

thấy khơng có tương quan chặt chẽ giữa chênh lệch tuổi của vợ chồng với nguyên nhân

mâu thuẫn trong cách ứng xử bạn bè, hàng xóm. Tỷ lệ mâu thuẫn nguyên nhân đó cao

nhất ở các cặp vợ chồng có học vấn chênh lệch nhau và tìm hiểu trước hơn nhân ngắn.

Cặp vợ chồng làm nghề khác nhau thì sẽ hay mâu thuẫn với nhau. Những người đồng ý

với quan niệm về hạnh phúc gia đình là dựa trên các yếu tố mang tình u thương thì ít

xảy ra mâu thuẫn hơn so với cặp vợ chồng ủng hộ quan niệm để có hạnh phúc gia đình

thì phải có kinh tế ổn định. Các cặp vợ chồng có thu nhập cao thì ít mâu thuẫn hơn so

với cặp vợ chồng có thu nhập thấp. Nếu trong gia đình, cả hai vợ chồng đều chia sẻ với

nhau công việc nhà, biết chồng (vợ) của mình có bao nhiêu bạn bè, thường đi chơi với

bạn bè của chồng (vợ) thì ít xảy ra mâu thuẫn hơn. Trong gia đình mà cả hai vợ chồng

đều đóng góp tài chính và người vợ là người quyết định mọi việc chi tiêu lớn trong gia

đình thì thường xảy ra mâu thuẫn hơn gia đình mà cả hai người đều đóng góp, cùng

nắm tài chính và quyết định chi tiêu lớn trong gia đình. Những cặp vợ chồng ở riêng thì

ít mâu thuẫn vì ngun nhân này hơn so với các cặp vợ chồng sống cùng cha mẹ.

Hình thức biểu hiện mâu thuẫn là: tranh luận, chửi mắng, chiến tranh lạnh, đánh

đập, bỏ nhà ra đi, dọa ly hôn... Trong đời sống vợ chồng để giảm được mâu thuẫn thì

cần phải có sự tơn trọng lẫn nhau và còn phải tơn trọng bạn bè của nhau. Bởi vì, kết quả

nghiên cứu định tính đã cho thấy nhiều người có những hành vi cư xử khơng tốt đối với

bạn bè của vợ/chồng nên giữa vợ và chồng sẽ xảy ra mâu thuẫn [5].

Như vậy, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng cũng khá đa dạng.

Những nguyên nhân chính là liên quan đến vấn đề thu nhập, chi tiêu, công việc của vợ

chồng, sự tham gia làm công việc nhà, quan niệm về đời sống vợ chồng, cách cư xử với

bạn bè, hàng xóm. Quan hệ vợ chồng chủ yếu được thiết lập trên cơ sở tình cảm yêu

thương. Tuy nhiên, mâu thuẫn xảy ra giữa vợ chồng cũng khá dễ dàng.

2.2. Biểu hiện mâu thuẫn và những ảnh hưởng của mâu thuẫn vợ chồng

8



Nghiên cứu về vấn đề mâu thuẫn giữa vợ chồng cũng đã được nhiều nhà nghiên

cứu ở trong nước quan tâm từ khá lâu. Một trong những hình thức để các cặp vợ chồng

giải quyết mâu thuẫn của mình đó là họ lựa chọn việc chấm dứt cuộc hơn nhân, hay còn

gọi là “ly hôn”. Tác giả Lê Phượng (1986) trong công trình “Tình hình ly hơn hiện nay

và ngun nhân của nó” cho thấy ngun nhân dẫn đến ly hơn là khá đa dạng. Tuy

nhiên, theo tác giả thì nó được chia làm hai dạng là nguyên nhân gián tiếp và nguyên

nhân trực tiếp.

Khi nghiên cứu cần xem xét mối quan hệ qua lại giữa hai loại nguyên nhân, bởi

vì quá trình phát sinh mâu thuẫn khơng hẳn là bắt nguồn từ giai đoạn trước khi kết hôn

hoặc sau khi kết hôn. Ở loại nguyên nhân thứ nhất (phát sinh trước khi kết hơn) liên

quan đến các vấn đề như tình u cảm tính; tình u thực dụng, vật chất; xu hướng tình

dục hóa tình u; thời gian tìm hiểu ngắn. Còn ở loại nguyên nhân thứ hai (phát sinh

sau khi kết hôn) liên quan đến các vấn đề là quan niệm sai lầm về tình u và hơn nhân;

thiếu bình đẳng giữa vợ và chồng; mâu thuẫn thế hệ dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng;

ngoại tình và quan niệm quá dễ dãi về ly hôn. Dù họ ly hôn dưới bất kỳ nguyên nhân

nào cũng là sự tan vỡ của gia đình. Đối với người vợ hoặc chồng sau khi ly hôn thường

xuất hiện tâm trạng chán chường, cô đơn, trống trải. Do đó, một số người có thể tìm tới

cờ bạc, rượu chè và tệ nạn xã hội khác. Bên cạnh đó, họ còn bị ảnh hưởng về sức khỏe,

năng suất lao động giảm... Con cái của người ly hơn thì bị thiếu thốn về tình cảm [19].

Tuy nhiên, tác giả chưa chỉ ra được sự can thiệp của cơ quan đoàn thể trong việc giải

quyết mâu thuẫn vợ chồng như thế nào?

Trong từng giai đoạn, bối cảnh của đời sống xã hội thì sẽ có những nhân tố tác

động khác nhau đến vấn đề ly hơn. Cơng trình “Ly hôn ở đồng bằng sông Hồng: quyết

định của cá nhân và tác động của các yếu tố truyền thống” (Nghiên cứu trường hợp tại

một xã thuộc tỉnh Hà Nam) của Trần Thị Minh Thi (năm 2011) đã cho thấy việc ly hôn

tại Việt Nam không phải là một quá trình dễ dàng. Mẫu nghiên cứu gồm 13 trường hợp

ly hơn và một số cán bộ đồn thể, cán bộ xã cũng được phỏng vấn nhằm tìm hiểu quy

trình ly hôn của cá nhân, ảnh hưởng của ly hôn đến đời sống của cá nhân và con cái của

họ, cũng như quan điểm của xã hội về ly hôn hiện nay. Phương pháp nghiên cứu là

phân tích tài liệu thứ cấp, nghiên cứu trường hợp. Nguyên nhân chủ đạo của ly hơn là

mâu thuẫn cá nhân và gia đình. Các nguyên nhân xuất phát từ cá nhân như ngoại tình,

mâu thuẫn và bạo lực gia đình, kinh tế khó khăn và không hợp nhau là nổi bật nhất dẫn

9



đến ly hôn ở nông thôn. Khi vợ/chồng nộp đơn ly hôn đến UBND xã, các tổ chức xã

hội và chính quyền địa phương sẽ tham gia cơng tác hòa giải. Tơn chỉ của các tổ chức

chính quyền đồn thể bao giờ cũng khuyên vợ chồng cân nhắc việc rút đơn ly hơn, đưa

ra lời khun cho cả hai bên hòa giải để về chung sống lại với nhau, bất kể lý do xin ly

hơn là gì. Tuy nhiên, lời khun thường thấy nhất là kêu gọi sự hy sinh và tha thứ từ

phía người vợ cho những lỗi lầm của người chồng, vì hạnh phúc con cái. Yếu tố truyền

thống cũng tham gia vào ra quyết định ly hôn như việc sống chung, quan hệ mẹ chồng

nàng dâu, ảnh hưởng của cha mẹ trong việc tìm hiểu và lựa chọn bạn đời. Các yếu tố

khá này đặc trưng cho khu vực nơng thơn, nơi người phụ nữ còn chịu nhiều sức ép của

các tập tục, lối sống truyền thống so với lối sống đơ thị hiện đại. Cần có nghiên cứu và

phân tích sâu sắc, tồn diện hơn, dựa trên số liệu định lượng với mẫu nghiên cứu đủ lớn

để có thể có cái nhìn đầy đủ hơn về vấn đề này [23].

Đối với phụ nữ, họ ít bị áp lực về sự kỳ vọng phải kiếm thật nhiều tiền để lo

lắng cho gia đình hơn so với đàn ơng. Chính vì vậy, vấn đề về kinh tế chưa phải là

nguyên nhân chủ yếu làm cho phụ nữ quyết định chấm dứt cuộc kết hơn. Trong cơng

trình “Ngun nhân ly hơn của phụ nữ qua nghiên cứu hồ sơ tòa án nhân dân ” của

Phan Thị Luyện (2016) cũng đã cho thấy được tình hình ly hơn ở Việt Nam nói riêng và

thế giới nói chung. Tác giả đã tổng hợp số liệu của Tòa án nhân dân tối cao, Phòng tư

pháp và Tòa án nhân dân ở một quận nội thành của Hà Nội về tình hình ly hơn từ năm

2005 đến 2010. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy tình trạng ly hơn đã tăng lên theo từng

năm. Tỷ lệ phụ nữ đứng đơn ly hôn chiếm tỷ lệ cao nhất ở tất cả các năm trong tổng số

đơn được thụ lý và giải quyết tại Tòa án nhân dân quận. Bên cạnh đó, tác giả đã chỉ ra

được một số đặc điểm của người ly hôn như là tuổi của vợ/chồng; nghề nghiệp và thu

nhập; số lần kết hôn và thời gian chung sống, thời gian ly thân trước khi ly hôn của vợ

chồng; số con, tuổi của con. Đặc biệt, tác giả đã chỉ ra được những yếu tố tác động đến

vấn đề ly hôn của phụ nữ như là do sự thay đổi vị thế, vai trò của người phụ nữ; do tác

động của gia đình, dòng họ và dư luận xã hội đến vấn đề ly hơn và vai trò của các cơ

quan ban ngành liên quan. Những lý do khiến cho người phụ nữ chấm dứt cuộc hơn

nhân là: tính tình khơng hợp nhau, ngoại tình, ghen tng, bạo lực gia đình, phạm tội

và mắc các tệ nạn xã hội, nguyên nhân liên quan đến kinh tế, ốm đau/bệnh tật,... Dữ

liệu định lượng đã cho thấy ngun nhân do vợ chồng tính tình khơng hợp nhau là

nguyên nhân khiến phụ nữ ly hôn chiếm tỷ lệ cao nhất. Đồng thời, tác giả đã phân tích

10



dữ liệu định tính để làm rõ nguyên nhân khiến cho phụ nữ chấm dứt hôn nhân. Và tác

giả cũng đã vận dụng các lý thuyết chủ đạo để lý giải cho vấn đề ly hôn (lý thuyết trao

đổi và lý thuyết xung đột) [15]. Tuy nhiên, trong đời sống thực tiễn, khi vợ chồng có

mâu thuẫn với nhau thì không phải ai cũng sẽ lựa chọn biện pháp ly hơn mà có thể sẽ

giải quyết mâu thuẫn bằng hình thức khác.

Bên cạnh đó, Vũ Tuấn Huy (2007) cũng đã đề cập đến vấn đề nhận thức về mâu

thuẫn của các cặp vợ chồng thơng qua cơng trình “Thực trạng mâu thuẫn vợ chồng

trong gia đình ở nơng thơn hiện nay và những nhân tố ảnh hưởng” (Qua nghiên cứu

trường hợp tại xã Lộc Hòa, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định). Nhận thức của các

cặp vợ chồng về mâu thuẫn đang còn rất nhiều hạn chế. Họ ít thừa nhận sự tồn tại của

mâu thuẫn và ln xem đó là vấn đề tiêu cực. Chính quan niệm đó đã làm ảnh hưởng

đến những đánh giá của người trả lời về mức độ và tính chất của mâu thuẫn. Thực tế,

mâu thuẫn xảy ra khá phổ biến tại địa phương này, chủ yếu là trong lĩnh vực kinh tế,

phân công cơng việc và quan hệ ứng xử. Còn các mâu thuẫn liên quan đến quan hệ tình

dục và quyền ra quyết định ít xảy ra.

Đa số các mâu thuẫn xảy ra trong các gia đình đều dễ giải quyết và ít nghiêm

trọng. Hình thức mâu thuẫn phổ biến là tranh luận to tiếng, mắng chửi và chiến tranh

lạnh. Còn hình thức đánh đập, dùng vũ lực hoặc cấm đoán làm một việc gì đó thì ít xảy

ra. Hầu hết, các cặp vợ chồng lựa chọn cách thức giải quyết mâu thuẫn là trong phạm vi

nội bộ gia đình trước khi nhờ tới sự hỗ trợ từ cộng đồng. Họ tự giải quyết với nhau

bằng biện pháp tình cảm và lờ vấn đề mâu thuẫn đi. Mâu thuẫn giữa vợ chồng có thể ít

khi dẫn đến ly hơn nhưng lại ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý của con cái.

Mặc dù đây là một bài viết có vẻ như đã đề cập khá đầy đủ bức tranh về thực

trạng mâu thuẫn vợ chồng ở gia đình nơng thơn nhưng các biện pháp giải quyết mâu

thuẫn như là tình cảm hay là lờ đi chưa đủ sức hút để các cặp vợ chồng lựa chọn nó

nhằm giải quyết mâu thuẫn [26]. Có thể các cặp vợ chồng họ đã phải lựa chọn những

biện pháp khác để giúp gắn kết mối quan hệ vợ chồng khi xảy ra mâu thuẫn.

Trong các cơng trình nghiên cứu liên quan về mâu thuẫn, các tác giả không chỉ

tập trung nêu ra vấn đề dẫn đến sự mâu thuẫn giữa vợ chồng mà còn mơ tả cụ thể hơn

về thực trạng của vấn đề. Trong bài viết “Một số kết quả bước đầu qua điều tra thăm

dò sự xung đột trong quan hệ vợ chồng ở địa bàn Tây Nguyên” của Cao Huyền Nga

(1998) đã chỉ ra được nhu cầu cơ bản của các cặp vợ chồng trong hôn nhân, tiêu chuẩn

11



lựa chọn bạn đời, quan niệm cá nhân về đời sống tình dục và giá trị chuẩn mực quan

trọng nhất trong cuộc sống lứa đôi. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã tập trung tìm hiểu

quan niệm của các cá nhân về vấn đề xung đột; nguyên nhân, mức độ, tần suất, hậu quả

của xung đột; lần xảy ra xung đột lần đầu tiên; thời điểm xảy ra xung đột và cách thức

xử lý xung đột.

Nguyên nhân dẫn đến xung đột là do thiếu thông cảm, hiểu biết lẫn nhau; không

đồng nhất quan điểm hay là thiếu thủy chung. Vấn đề thường gây tranh cãi giữa vợ và

chồng là do khác biệt về: quan điểm chính kiến, cách nuôi dạy con cái, cách ứng xử với

họ hàng, bè bạn. Thời điểm lần đầu tiên xung đột là vào khoảng thời gian từ 2 - 5 năm

sau khi kết hôn.

Trong đời sống vợ chồng, họ luôn muốn hướng tới các nhu cầu như: nhu cầu

được kính trọng, bình đẳng, chân thực; nhu cầu về nghĩa vụ, trách nhiệm trong cuộc

sống gia đình; nhu cầu có con và chăm sóc con cái. Bài viết đã cho thấy các tiêu chuẩn

của người nam giới cần có ở người vợ của mình là: có việc làm ổn định, chung thủy và

u thương chồng con. Còn đối với nữ giới thì cho rằng người chồng phải yêu thương

vợ con, chung thủy và có việc làm ổn định. về phẩm chất của người bạn đời thì có hai

phẩm chất được đánh giá cao đó là “chung thủy” và “tình u và thái độ tôn trọng lẫn

nhau”. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng là khơng nên ngoại tình vì sẽ gây ra tan cửa nát nhà

[16]. về cơ bản, nghiên cứu này đã lột tả được vấn đề mâu thuẫn trong gia đình. Nhưng

tác giả đã chưa chỉ ra giữa các nhóm dân tộc thì có sự khác biệt nhau như thế nào. Hay

là sự chi phối của yếu tố văn hóa cộng đồng trong việc giải quyết mâu thuẫn vợ chồng?

Mâu thuẫn vợ chồng nằm trong khuôn khổ phạm vi của gia đình và người ta

thường cho đó là việc riêng tư ngay kể cả khi người phụ nữ cũng bị đánh đập. Trịnh

Thái Quang (2008) đã có bài viết “Mâu thuẫn vợ chồng - Bạo lực đối với phụ nữ trong

gia đình nơng thơn ” (Nghiên cứu tại Tiền Giang) đăng trong cuốn “Gia đình nơng thơn

Việt Nam trong chuyển đổi” do Trịnh Duy Luân, Helle Rydstrom, Will Burghoorn

(đồng chủ biên) đã cho thấy mối quan hệ giữa mâu thuẫn xảy ra giữa vợ chồng với tình

trạng bạo lực đối với phụ nữ. Nghiên cứu đã được tiến hành khảo sát trên 300 mẫu,

trong đó có 226 trường hợp đã từng cãi nhau trong 12 tháng qua, với nhiều mức độ

khác nhau. Tác giả đã phân tích được mối quan hệ giữa các yếu tố cá nhân như tuổi,

mức sống, học vấn, quy mơ hộ gia đình và mâu thuẫn vợ chồng. Đồng thời đã chỉ ra

được những yếu tố tác động tới mâu thuẫn vợ chồng và bạo lực xảy ra giữa vợ chồng.

12



Nghiên cứu đã cho thấy có khoảng 6% hộ gia đình đã từng xảy ra bạo lực, đó là những

hộ gia đình trẻ, trình độ học vấn thấp (từ lớp 9 trở xuống), đặc biệt là hộ có mức sống

khá. Mức độ xảy ra mâu thuẫn thường xuyên hơn là ở hộ gia đình học vấn thấp, hộ có 4

thành viên chung sống và kết hơn được vài năm. Và ngun nhân chính của mâu thuẫn

gia đình, bạo lực đối với phụ nữ là do lạm dụng rượu. Mâu thuẫn và bạo lực trong gia

đình là có quan hệ tương đối chặt chẽ. Trong nghiên cứu này đã cho thấy trình độ học

vấn, mức sống, quy mơ gia đình và mơ hình chung sống là có những mối quan hệ nhất

định với thực trạng xảy ra mâu thuẫn và bạo lực [20]. Tuy nhiên, tác giả chưa có đủ

minh chứng để có thể kết luận xem yếu tố nào là tác động mạnh mẽ tới tình trạng mâu

thuẫn và bạo lực xảy ra tại địa bàn nghiên cứu.

Khi xảy ra mâu thuẫn giữa vợ chồng thì sẽ làm ảnh hưởng tới các thành viên

khác trong gia đình. Sự mâu thuẫn đó cũng sẽ làm ảnh hưởng tới chứng trầm cảm và lo

âu đối với con cái. Trong cơng trình “Parental divorce, family conflict and adolescent

depression and anxiety ” của Hildur Mist L. Pálmarsdóttir (2015) đã chỉ ra điều đó.

Đây là một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện bởi Icelandic Centre for Social

Research and Analysis at Reykjavik University in February, 2012 (Trung tâm Nghiên

cứu và Phân tích Xã hội Icelandic (ICSRA) tại Đại học Reykjavik) với trên 2215 học

sinh từ lớp 8 đến lớp 10. Kết quả nghiên cứu cho thấy cả việc cha mẹ ly hôn và mâu

thuẫn gia đình sẽ gây nên sự căng thẳng trong đời sống của thanh thiếu niên. Nghiên

cứu này xem xét việc ly hôn của cha mẹ và mâu thuẫn gia đình có ảnh hưởng đến trầm

cảm và sự lo âu của trẻ. Tác giả cũng đã chỉ ra cho chúng ta thấy thông qua việc kiểm

chứng các giả thuyết nghiên cứu. Giả thuyết thứ nhất là việc ly hôn của cha mẹ ảnh

hưởng đến thanh thiếu niên là được chấp nhận. Và điều này cũng có sự trùng khớp với

kết quả của các nghiên cứu trước. Giả thuyết thứ hai là việc ly hôn của cha mẹ ảnh

hưởng đến sự lo lắng của thanh thiếu niên cũng được chấp nhận. Giả thuyết thứ ba là

việc ly hôn của cha mẹ đối với trầm cảm ở thanh thiếu niên là trung gian thơng qua các

mâu thuẫn trong gia đình đã khơng được chấp nhận. Còn giả thuyết cuối cùng là những

ảnh hưởng của việc ly hôn của cha mẹ đối với sự lo âu ở vị thành niên là trung gian

thơng qua mâu thuẫn trong gia đình lại được chấp nhận. Các nghiên cứu trước đó cũng

đã chỉ ra rằng mâu thuẫn trong gia đình ảnh hưởng đến vị thành niên. Trong một nghiên

cứu của Amato và Afifi (2006) cho thấy những đứa trẻ gặp các rắc rối trong mối quan

hệ giữa cha mẹ của chúng, trước và sau khi ly hơn sẽ gặp phiền muộn [32].

13



Tóm lại, các biểu hiện của mâu thuẫn giữa vợ chồng cũng khá đa dạng. Trong

đó, tiêu biểu nhất là vấn đề ly hơn và đây không phải là vấn đề mới mẻ nhưng vẫn đón

nhận được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu. Tỷ lệ ly hôn đang ngày càng gia

tăng theo hàng năm. Đặc biệt, ở nơng thơn thì tình trạng ly hôn và việc phụ nữ đứng

đơn ngày càng cao hơn. Thực tế, có rất nhiều yếu tố tác động đến ly hơn, trong đó có cả

những yếu tố truyền thống. Bên cạnh biểu hiện mâu thuẫn bằng cách là ly hơn thì còn

có những biểu hiện khác như là chiến tranh lạnh, mắng chửi, đánh đập, đe dọa,... Mâu

thuẫn vợ chồng thì có liên quan đến bạo lực gia đình. Và nó khơng chỉ có ảnh hưởng

đến cơng việc, sức khỏe vợ chồng mà còn ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của con

cái.

2.3. Cách giải quyết mâu thuẫn giữa vợ chồng và các yếu tố tác động

Các nhà nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc mô tả bức tranh về việc vợ chồng

xảy ra mâu thuẫn mà còn tìm hiểu về cách thức giải quyết vấn đề đó ra sao? Bùi Quang

Dũng (2002) đã tiến hành một nghiên cứu định tính và cho thấy bức tranh về nguyên

nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng ở từng nhóm. Trong bài viết “Giải quyết xích

mích trong nhóm gia đình: phác thảo từ những kết quả nghiên cứu định tính” là sự tóm

lược một phần của kết quả nghiên cứu về mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn ở Việt

Nam. Khảo sát thực địa của nghiên cứu này được tiến hành vào năm 2001 tại ba tỉnh là

Sóc Trăng, Quảng Ngãi và Hải Dương. Tác giả đã lựa chọn 96 trường hợp trong đó

gồm 5 trường hợp thảo luận nhóm và 91 trường hợp PVS. Các trường hợp được rút ra

ngẫu nhiên từ danh sách hộ gia đình do cán bộ thơn/ấp cung cấp.

Khi xảy ra xích mích, vợ chồng trẻ tự quyết là chủ yếu. Nếu khi hai vợ chồng

khơng giải quyết được sự mâu thuẫn đó thì sẽ phải tìm tới một người họ hàng để mà

trao đổi. Việc cùng nhau giải quyết sự xích mích trong gia đình chủ yếu chỉ tồn tại ở gia

đình hạt nhân. Còn ra ngồi khn khổ ấy thì vai trò của người phụ nữ đã khác hẳn.

Khi trong gia đình có xích mích thì sẽ “họp họ” để giải quyết (chỉ có anh em cùng

cóvai vế trong họ họp với nhau và khơng có phụ nữ). Ở gia đình trung lưu, họ giải

quyết xích mích theo kiểu “đóng của bảo nhau” bởi vì muốn giữ sĩ diện. Còn đối với

cặp vợ chồng nghèo thì thường làm cho xích mích trở nên to chuyện hơn. Các đồn thể

quần chúng, tổ hòa giải của thơn/ấp có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết xích

mích trong các gia đình [3]. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này tác giả vẫn chưa chỉ ra



14



được cách giải quyết mâu thuẫn trong các hình thái gia đình khác nhau thì liệu khác

nhau hay khơng?

Khi xảy ra mâu thuẫn trong gia đình thì các thành viên cần phải nhận thức được

và tìm cách giải quyết vấn đề. Bởi vì, đơi khi những vấn đề đó lại làm ảnh hưởng tới

đời sống của mọi thế hệ trong gia đình. Ở bài viết “Quan niệm nhận thức của các thế

hệ về mâu thuẫn trong gia đình và cách khắc phục” của Lê Thi (2009), bằng phương

pháp nghiên cứu định tính là PVS, điều tra bảng hỏi tại 4 địa điểm: xã Mễ Sở (Hưng

Yên), xã Phú Minh (Hà Nội), thị trấn Văn Cương (Hưng Yên), phường Bùi Thị Xuân

(Hà Nội) đã tập trung tìm hiểu các vấn đề như: hình thức biểu hiện của mâu thuẫn,

nguyên nhân dẫn đến các mâu thuẫn và giải pháp giải quyết mâu thuẫn trong gia đình.

Hình thức biểu hiện phổ biến của mâu thuẫn là vợ hay chồng im lặng, giận dỗi,

không nói chuyện với nhau. Khi mâu thuẫn xảy ra thì chồng mắng chửivợ cao hơn việc

vợ mắng chửi chồng và chủ yếu ở thế hệ trẻ và trung niên. Điều này thể hiện vị thế và

quyền lực áp đảo của nam giới trong gia đình. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn xuất

phát chủ yếu trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, tiếp đó là nguyên nhân kinh tế,

nguyên nhân do con cái và các nguyên nhân khác chiếm tỉ lệ thấp. Ngoài ra, nghiên cứu

cũng chỉ ra mâu thuẫn thường được giải quyết bằng hình thức do người chồng làm lành

trước. Phần lớn ý kiến cũng cho rằng vợ chồng cần phải tơn trọng, lắng nghe ý kiến của

nhau thì mới giải quyết được mâu thuẫn thường ngày. Qua nghiên cứu tác giả cũng

nhấn mạnh: vợ chồng cần phải hợp tác với nhau về nhiều mặt, không chỉ trong làm ăn

mà còn ở lối sống, sinh hoạt hàng ngày. Sự hòa hợp giữa vợ chồng khơng đòi hỏi họ

phải giống nhau về tính cách, sở thích nhưng phải biết nhường nhịn, nhân nhượng với

nhau [22]. Tuy nhiên, khi vợ chồng mâu thuẫn với nhau thì khơng phải chỉ biểu hiện

bằng hình thức như im lặng hay giận hờn mà đơi khi còn xảy ra đánh đập.

Việc xảy ra mâu thuẫn được xem như là một điều không thể tránh khỏi trong đời

sống hôn nhân. Tuy nhiên, khi xảy ra mâu thuẫn thì các cặp vợ chồng cần phải có chiến

lược để đối phó với nó cho phù hợp nhằm đem lại sự ổn định và bền vững cho cuộc

hôn nhân. Trong nghiên cứu “Conflict resolution strategies among working couples”

của Sumalata. T.Byadgi., Yadav.V.S. (2013) cũng đã đề cập đến vấn đề này. Mục tiêu

chính của nghiên cứu này là xác định các chiến lược giải quyết mâu thuẫn được các cặp

vợ chồng đang làm việc sử dụng để giải quyết các vấn đề trong đời sống hơn nhân của

mình. Bên cạnh đó, nghiên cứu này đã chỉ ra mối quan hệ giữa các đặc điểm nhân khẩu

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tình hình nghiên cứu của đề tài

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×