Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
c. Đánh giá chung về việc thực hiện liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp

c. Đánh giá chung về việc thực hiện liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đvt:số hộ lựa chọn

Xếp hạng



Tiêu chí

Hỗ trợ tài chính

Hỗ trợ kỹ thuật

Hỗ trợ thông tin

Trách nhiệm XH với

cộng đồng SX cà



Rất khơng



Khơng



hài lòng



hài lòng



Lưỡng lự



Hài lòng



Rất hài

lòng



11

15

0



57

35

16



25

20

27



5

27

39



2

3

18



0



9



15



46



30



0



0



21



39



40



phê

Độ tin cậy/ Uy tín



Nguồn: Tổng hợp phiếu điều tra

Nhìn chung, hộ nơng dân có những đánh giá tương đối tốt về đối tác liên kết

của mình. Khơng có yếu tố nào bị nơng dân đánh giá là rất khơng hài lòng. Yếu tố

được đánh giá cao nhất đó chính là yếu tố về mặt độ tin cậy/uy tín, có đến 79% số

hộ nơng dân được phỏng vấn cho rằng độ tin cậy/uy tín của cơng ty đối với mình là

hài lòng, 21% còn lại rơi vào mức lưỡng lự, khơng có hộ nào đánh giá yếu tố này là

khơng hài lòng. Tuy nhiên, yếu tố mà người dân có vẻ chưa thật sự hài lòng về

doanh nghiệp đó chính là việc hỗ trợ tài chính và hỗ trợ kỹ thuật. Cụ thể, đối với

việc hỗ trợ tài chính có đến 68% hộ nơng dân đánh giá khơng hài lòng, còn đối với

hỗ trợ kỹ thuật có 35% nơng hộ khơng hài lòng và 15% rất khơng hài lòng. Về việc

hỗ trợ thơng tin và trách nhiệm đối với cộng đồng xã hội của công ty được nông dân

đánh giá khá cao ở mức độ hài lòng.

Về phía doanh nghiệp, họ cũng đánh giá rất tốt về đối tác liên kết của mình.

Họ cho rằng 4 yếu tố về kỹ thuật sản xuất, thái độ tích cực, đáp ứng các tiêu chí mơi

trường là các tiêu chí mà nơng hộ đã đáp ứng tốt. Điều đó phần nào thể hiển sự hài

lòng của doanh nghiệp về đối tác liên kết của mình.

Kết luận: Hiện nay, các doanh nghiệp và các nông hộ đã thực hiện tương đối

tốt việc liên kết trong sản xuất và tiêu thụ cà phê. Tuy nhiên, về sự liên kết trong

tiêu thụ vẫn còn lỏng lẻo, chưa thật sự tạo được mối quan hệ chặt chẽ giữa 02 bên,

làm cho sự hiệu quả của quá trình liên kết chưa đạt được tối ưu. Bởi vì, nếu tìm

40



được sự liên kết chặt chẽ trong cả sản xuất và tiêu thụ sẽ làm cho cả 02 bên đều có

lợi, vì doanh nghiệp sẽ có nguồn sản phẩm vừa mang tính ổn định lại vừa có thể

kiểm sốt được về mặt chất lượng; còn đối với nơng dân sẽ có thể n tâm trong

khâu đầu ra của sản phẩm, mà giá cả lại được đảm bảo, tránh được tình trạng bị ép

giá.

3.2.4. Những thuận lợi và khó khăn của việc liên kế trong sản xuất và tiêu thụ

cà phê của nông hộ tại xã Ea Tul, huyện CưMgar, tỉnh Đắk Lắk

3.2.4.1. Thuận lợi

a. Đối với nơng hộ

- Nơng dân có ý thức tốt trong việc tuân thủ hợp đồng, 100% nông hộ được

phỏng vấn thực hiện tốt các thỏa thuận theo hợp đồng với cơng ty. Ngồi ra, nơng

dân còn ham học hỏi, tiếp thu nhanh các kiến thức về kỹ thuật sản xuất và nhận

được sự đánh giá cao từ phía các doanh nghiệp đang thực hiện liên kết với nông hộ.

- Chính quyền địa phương cũng tạo điều kiện thuận lợi về các thủ tục hành

chính để cho việc nhận khốn của nơng dân diễn ra nhanh chóng, dễ dàng hơn.

- Một số chính sách về hỗ trợ cho sản xuất nơng nghiệp như chính sách tín

dụng, chính sách đất đai, chính sách về đầu tư cơ sở hạ tầng…cũng góp phần vào

việc phát triển mơ hình liên kết. Nó tạo tiền đề để cơng ty và hộ dân có tiềm lực để

tham gia liên kết.

- Một bộ phận nông dân có trình độ sản xuất cà phê cao, nhận biết và có ý thức

về vai trò của liên kết, tạo điều kiện thuận lợi để liên kết được thực hiện dễ dàng

hơn và mang lại hiệu quả.

Ngồi những hộ có chủ hộ là cơng nhân của các cơng ty thì phần lớn các hộ

khác đã chủ động tiếp cận thông tin về cơng ty, khi biết cơng ty có nhu cầu khốn

đất sản xuất, họ đã tìm đến trụ sở của công ty và làm đơn đề nghị được giao khốn.

- Mơ hình liên kết giúp chất lượng sản phẩm cà phê được nâng cao, không chỉ

thông qua kỹ thuật sản xuất tốt, chế độ bón phân và phun thuốc BVTV hợp lý mà

còn ở khâu thu hoạch.

Bảng 3.13: Tỷ lệ về cách thức tiếp cận quy trình sản xuất của nông hộ

Đvt: %số hộ lựa chọn



STT

1



Nội dung

Theo hướng dẫn của cán bộ khuyến

41



Hộ TGLK

12,5



Hộ KTGLK

25,4



nông tại địa phương

Theo hợp đồng ký kết

Theo kinh nghiệm gia đình

Theo sách hướng dẫn



2

3

4



85,5

0

2



0

70,4

4,2



Đối với thời điểm thu hoạch cà phê, để đạt được các tiêu chuẩn về mặt chất

lượng, các hộ nông dân sản xuất theo hướng dẫn của công ty thường thu hoạch khi

số quả chín chiếm khoảng trên 85%, khơng có số hộ được phỏng vấn nào trả lời là

thu hoạch khi số quả chín khoảng trên 50%. Tuy nhiên, các hộ khơng liên kết thì

ngược lại, họ chủ yếu thu hoạch khi cà phê chín trên 50%, việc thu hoạch này chủ

yếu là do thói quen và một phần vì khi đến tâm của mùa thu hoạch thì khó th lao

động.



Bảng 3.14: Thời điểm thu hoạch cà phê của hộ

ĐVT: % số hộ lựa chọn



Thời điểm thu hoạch cà phê

Khi số quả chín khoảng trên 50%

Khi số quả chín khoảng trên 85%



Nhóm hộ

Hộ TGLK

Hộ KTGLK

0

69,32

100

30,68

Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra



- Liên kết với doanh nghiệp giúp nông hộ giải quyết các khó khăn về đầu vào

như thiếu đất sản xuất, thiếu vốn đầu tư, kỹ thuật canh tác...

b. Đối với doanh nghiệp

- Công ty sản xuất và kinh doanh cà phê trong địa bàn huyện có tài chính

vững, hình hình sản xuất kinh doanh ổn định.

- Cơng ty có ý thức trong việc tuân thủ hợp đồng, công ty được phỏng vấn tôn

trọng hợp đồng và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và trách nhiệm của mình đối với

nơng hộ, xây dựng được sự tín nhiệm đối với bà con nơng dân.

- Cơng ty trên địa bàn có đội ngũ cán bộ có trình độ chun mơn cao, kinh

nghiệm dày dạn, đã tổ chức những buổi tập huấn để hỗ trợ bà con nông dân về mặt

kỹ thuật, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho việc sản xuất. Ngoài ra, bộ máy quản

lý làm việc cũng hết sức quy củ và chặt chẽ.

42



- Công ty thường xuyên cử cán bộ kiểm tra, giám sát quá trình sản xuất của

nông dân, thông thường sẽ kiểm tra định kỳ hàng tháng. Phân công cụ thể vùng

quản lý cho mỗi cán bộ để tiện cho công tác kiểm tra, dưới các cán bộ còn có các tổ

trưởng các tổ sản xuất.

- Cơng ty được phỏng vấn đều có nguyện vọng muốn được mở rộng sự liên

kết với nông dân trong tương lai, không chỉ về mặt số lượng hộ tham gia liên kết mà

còn mở rộng về hình thức liên kết, đó là phát triển hình thức liên minh sản xuất với

nông dân.

- Việc liên kết với hộ nông dân giúp cho cơng ty có nguồn ngun liệu ổn

định, sản phẩm có chất lượng cao, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho

doanh nghiệp.

- Nhà nước đã có những chính sách, quyết định hỗ trợ cho cơng ty nhằm tăng

cường liên kết giữa cơng ty và nơng hộ.

3.2.4.2. Khó khăn

a. Đối với nông hộ

- Quy mô sản xuất của nơng hộ còn nhỏ lẻ, manh mún, diện tích bình quân/hộ

của huyện chưa đến 1 ha/hộ, điều này sẽ gây khó khăn cho việc thực hiện áp dụng

tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơng nghiệp hóa nền nơng nghiệp. Ngồi ra điều này còn

ảnh hưởng đến việc khoanh vùng vùng nguyên liệu để thuận lợi cho việc ký kết các

hợp đồng thu mua cà phê, nói cách khác nó gây cản trở trực tiếp đến sự phát triển

của hình thức liên kết sản xuất và tiêu thụ cà phê.

- Nông dân chưa có điều kiện để tiếp cận thơng tin một cách chính xác, nhanh

nhạy và đầy đủ. Đặc biệt là các thơng tin vềnhững mơ hình liên kết. Do đó việc phát

triển mơ hình liên kết gặp khó khăn vì nó vẫn còn mới lạ so với các hộ dân. Đồng

thời người dân khơng hiểu được lợi ích khi tham gia liên kết, hoặc không nắm rõ

được quyền lợi của mình khi tham gia liên kết nên dễ bị mất quyền lợi.

- Bên cạnh đó, một bộ phận người sản xuất chưa ý thức được tầm quan trọng

của quá trình liên kết, sản xuất theo kiểu tự phát, kĩ thuật canh tác cà phê lạc hậu và

thiếu khoa học, những hộ này thường rơi vào các hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Họ

khó có thể tham gia liên kết do hạn chế về các nguồn lực cần thiết, đồng thời họ dễ

bị mất lợi ích khi liên kết với cơng ty.



43



- Các hộ nơng dân chưa có nhận thức về việc nên liên kết lại với nhau theo

hình thức liên kết ngang để tìm được tiếng nói chung, đa phần vẫn sản xuất theo

kiểu mạnh ai nấy làm. Họ chưa ý thức được tầm quan trọng của việc thành lập các

tổ sản xuất, các hợp tác xã nông nghiệp, bởi lẽ nông dân bị ảnh hưởng bởi phương

thức hoạt động của hợp tác xã kiểu cũ (theo kiểu bao cấp) nên rất ngại khi tham gia

hợp tác xã. Khi nhắc đến hợp tác xã, đa phần họ đều có tâm lý e dè và khơng muốn

tham gia. Mặt khác, do đặc thù văn hóa, dân cư tại xã là dân đến từ nhiều nơi, họ

chưa có sự đồng lòng, đồn kết, ý thức xã hội còn thấp.

b. Đối với doanh nghiệp

- Trong thời kỳ hội nhập với kinh tế thế giới, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt

của các doanh nghiệp nước ngoài đã tạo nên sức ép không nhỏ đối với các doanh

nghiệp tại địa phương.

- Công ty tại địa phương vẫn còn hạn chế trong việc đầu tư cơ sở hạ tầng phục

vụ cho việc chế biến sản phẩm. 100% sản phẩm cà phê được công ty thu mua từ

nơng dân sau đó phân loại và bán dưới dạng nhân xô, không qua chế biến.

- Công ty có phân cơng các cán bộ thường xun kiểm tra, giám sát q trình

sản xuất của nơng nộ, tuy nhiên số lượng hộ nông dân mà mỗi cán bộ phải quản lý

là rất nhiều.

Tóm lại, cơng tác liên kết trong sản xuất và tiêu thụ cà phê tại xã còn nhiều

hạn chế do một số nguyên nhân sau:

+ Quy mơ trồng cà phê còn nhỏ, lẻ.

+ Nơng dân chưa có điều kiện để tiếp cận thơng tin.

+ Một bộ phận nông dân chưa ý thức được tầm quan trọng của liên kết;

+ Hộ nơng dân chưa có nhận thức về việc nên liên kết lại với nhau theo hình

thức liên kết ngang;

+ DN khó khăn trong vấn đề tài chính, đầu tư , nâng cấp nhà máy chế biến.

+ DN chưa tạo được mối liên kết với nông dân trong khâu tiêu thụ sản

phẩm.Phần đa nông dân nộp đủ sản lượng khi ký kết hợp đồng,còn sản lượng còn

lại nông dân bán cho nơi khác.

+ Số lượng hộ nông dân mà mỗi cán bộ phải quản lý là rất nhiều.



44



3.2.5. Một số giải pháp thúc đẩy liên kết trong sản xuất và tiêu thụ cà phê của

nông hộ tại xã Ea Tul, huyện CưMgar, tỉnh Đắk Lắk

- Sau một thời gian thực tập tại xã Ea Tul, huyện Cư M’gar về vấn đề liên kết

giữa hộ nông dân và công ty cà phê EaTul tôi xin đưa ra một số giải pháp nhằm

hồn thiện hơn về cơng tác liên doanh trong sản xuất và tiêu thụ cà phê như sau:

+ Công ty nên chủ động giúp người dân tái canh, cải tạo giống thay thế vườn

cà phê lâu năm, già cỗi. Đội ngũ cán bộ quản lý cần nhận thức rõ tầm quan trọng

của liên kết kinh tế doanh nghiệp-nơng dân để từ đó có những chính sách quản lý

phù hợp, nhằm thúc đẩy việc liên kết giữa doanh nghiệp và người sản xuất cà phê.

+ Cần phải thay đổi lại bộ máy quản lý , cắt giảm nhân sự có trình độ thấp,

làm việc khơng hiệu quả nhằm tránh hao phí vốn tận dụng tốt được nguồn lực.

+ Quản lý chi phí giá vốn, chi phí bán hàng, chi phí quản lý cơng ty, chí phí

khác chặt chẽ hơn

+Thường xuyên kiểm tra,giám sát, hướng dẫn kịp thời người dân kịp thời để

tránh những sai sót và kịp thời đưa ra kế hoạch, chiến lược cho người dân giúpcó lợi

cho cả 2 bên.

+ Cho phép người dân trồng xen canh với những cây có kinh tế cao nhưng phải

theo hướng dẫn kỹ thuật của bên công ty tránh ảnh hưởng đến liên doanh trong việc

trồng cây cà phê,ca cao.

+ Việc thu phí người dân phục vụ cho liên doanh cần phải được trình bày rõ và

phải khoa học, tạo việc liên doanh, liên kết được tốt đẹp và hiệu quả hơn giữa 2 bên.

+ Tiếp tục nâng cấp, xây dựng cơ sở hạ tầng kĩ thuật, các cơng trình giao

thông, thủy lợi, mạng lưới truyền thông giữa các xã, thôn, buôn để phục vụ cho sản

xuất và tiêu thụ cà phê.

+ Tích cực tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các chủ thể liên kết, giúp họ

hiểu rõ hơn lợi ích của việc tham gia liên kết và thực hiện đúng vai trò, chức năng,

nhiệm vụ cũng như quyền lợi của mình trong quá trình liên kết.



45



PHẦN BỐN: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4.1.



Kết luận

Hiện nay, trên địa bàn xã Ea Tul có 01 cơng ty đang thực hiện liên kết với



nông dân trong sản xuất và tiêu thụ cà phê đó là Cơng ty TNHH MTV Cà phê Ea

Tul. Hình thức liên kết giữa cơng ty với nơng dân là hình thức giao khốn. Việc giao

khốn vườn cây này đang được thực hiện dựa theo Nghị định 135/2005/NĐ-CP

(08/11/2005) của Chính phủ về việc giao khốn đất nơng nghiệp, đất rừng sản xuất

và đất có mặt nước ni trồng thuỷ sản trong các nông trường quốc doanh, lâm

trường quốc doanh. Theo hợp đồng, công ty sẽ chịu trách nhiệm cung cấp cho nơng

dân về kỹ thuật, định mức phân bón, thuốc BVTV và đến cuối vụ thu hoạch hộ

nông dân sẽ nộp sản cho công ty theo quy định được ghi rõ trong hợp đồng. Việc

thực hiện hợp đồng giữa 02 bên được diễn ra khá tốt, vì cho đến nay chưa có hợp

đồng nào bị phá vỡ.

Xét về hiệu quả sản xuất, năng suất của nhóm hộ tham gia liên kết cao sơn so

với nhóm hộ khơng tham gia liên kết là 0tấn/ha. Trong khi đó, chi phí đầu tư cho 01

ha cà phê bình quân trong năm của nhóm hộ liên kết lại thấp hơn làm cho thu nhập

của người trồng cà phê được cải thiện, chứng tỏ việc liên kết đã mang lại hiệu quả

kinh tế cho nơng hộ. Ngồi hiệu quả về kinh tế của việc liên kết, khơng thể khơng

nói đến sự đóng góp về mặt xã hội cho địa phương bằng các cơng trình như làm

đường xá, các hệ thống thủy lợi góp phần đẩy mạnh sự phát triển của xã.

Bên cạnh đó, việc thực hiện và phát triển liên kết tại địa phương cũng có

những thuận lợi và khó khăn nhất định. Về mặt thuận lợi, người dân có ý thức chấp

hành tốt các hợp đồng ký kết với công ty, ham học hỏi, có thái độ tích cực; các cơng

ty có đội ngũ cán bộ có trình độ chun mơn, nhiều kinh nghiệm; Nhà nước cũng đã

ban hành nhiều chính sách hướng dẫn cũng như hỗ trợ việc sản xuất theo hợp đồng,

tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân

được diễn ra thuận lợi hơn. Tuy nhiên cũng có những khó khăn được đặt ra đó là

46



làm thế nào để nâng cao nhận thức về lợi ích khi thực hiện liên kết cho hộ nông dân,

để họ tự nguyện tham gia vào các mơ hình liên kết, cũng như làm sao để có thể thu

hút được các doanh nghiệp thực hiện liên kết với nơng dân trên địa bàn. Do đó,

chúng ta phải có những giải pháp đối với hộ nơng dân, cơng ty cũng như Nhà nước

nhằm vào 02 mục tiêu chính đó là: Thứ nhất, tiếp tục mở rộng và phát triển hình

thức liên kết theo kiểu giao khốn, tăng cường sự liên kết của doanh nghiệp và nông

dân đối với mảng tiêu thụ sản phẩm nhằm tạo mối liên hệ thật chặt chẽ trong chuỗi

giá trị sản phẩm cà phê từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ; Hai là: xây dựng mối

liên kết giữa nông dân và công ty cả trong và ngoài địa bàn theo phương thức liên

minh sản xuất nhằm nâng cao trình độ sản xuất hàng hóa của nơng dân, từng bước

xóa bỏ phương thức sản xuất theo kiểu tự phát với lối sản xuất lạc hậu, giúp nâng

cao tính cạnh tranh cho sản phẩm, phát triển bền vững cả về kinh tế, môi trường và

xã hội.

4.2.



Kiến nghị



4.2.1. Đối với Nhà nước

+ Tiếp tục sửa đổi và bổ sung thêm một số quy định về chính sách tiêu thụ

nông sản thông qua hợp đồng, tăng trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên kí kết hợp

đồng, có chế tài hợp lí để xử phạt các bên vi phạm hợp đồng.

+ Đề nghị Chính phủ chỉ đạo và các bộ Ngành có liên quan giới thiệu, hướng

dẫn các công ty, doanh nghiệp kinh doanh chế biến và xuất khẩu cà phê trên địa bàn

tỉnh xây dựng cơ sở tại các vùng sản xuất cà phê nhiều.

+ Cần chỉ đạo cơ quan chính quyền địa phương và các ban ngành có liên quan

kiểm tra, rà sốt vùng ngun liệu, các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu cà phê trên

địa bàn huyện để làm cơ sở xấy dựng, thực hiện quy hoạch vùng sản xuất cà phê.

+ Khuyến khích các cơ quan nghiên cứu khoa học kĩ thuật canh tác mới có

hiệu quả để áp dụng vào sản xuất, phục vụ cho việc liên kết.

+ Cần chỉ đạo địa phương trong việc quy hoạch vùng sản xuất, tránh để tình

trạng người dân đua nhau theo thị trường, tự ý chặt phá cà phê chuyển sang trồng

cây khác làm phá vỡ vùng quy hoạch sản xuất, gây thiệt hại.

4.2.2. Đối với chính quyền địa phương

+ Đội ngũ cán bộ quản lý cần nhận thức rõ tầm quan trọng của liên kết kinh

tế doanh nghiệp-nơng dân để từ đó có những chính sách quản lý phù hợp, nhằm

thúc đẩy việc liên kết giữa doanh nghiệp và người sản xuất cà phê.

47



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

c. Đánh giá chung về việc thực hiện liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×