Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Cơ sở lý luận

1 Cơ sở lý luận

Tải bản đầy đủ - 0trang

một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông

sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản.

Nơng nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước, đặc

biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển.

Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nơng nghiệp thuộc

dạng nào cũng rất quan trọng:

- Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nơng nghiệp

có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi

người nơng dân. Khơng có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai.

- Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nơng nghiệp được chun mơn hóa

trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng

trọt, chăn ni, hoặc trong q trình chế biến sản phẩm nơng nghiệp. Nơng nghiệp chuyên

sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân

bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao. Sản

phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị

trường hay xuất khẩu. Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cố

gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được

chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi...

2.1.1.2. Khái niệm về sản xuất

Sản xuất là một loại hình hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người, bao gồm:

sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người. Ba quá trình đó gắn

bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau, trong đó sản xuát vật chất là cơ sở cho sự

tồn tại và phát triển của xã hội. Theo Ph.Ăngghen: “điểm khác biệt căn bản giữa xã hội loài

người với xã hội loài vật là ở chỗ: loài vật may lắm chỉ hái lượm, trong khi con người lại

sản xuất.

Sản xuất vật chất là một loại hình hoạt động thực tiễn với mục đích cải biến các đối tượng

của giới tự nhiên theo nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội. Với nghĩa như

vậy, sản xuất vật chất là một loại hoạt động có tính khách quan, tính xã hội, tính lịch sử và

tính sáng tạo.



11



2.1.1.3. Khái niệm về kinh tế nơng nghiệp

Kinh tế nông nghiệp là một ngành kinh tế của quốc dân có chức năng phân tích ảnh

hưởng của các quy luật kinh tế trong nông nghiệp, áp dụng những thành tựu kinh tế Vào

thực tế các lãnh đạo cơ sở nông nghiệp, tạo điều kiện phát triển lực lượng sản xuất.

Kinh tế nơng nghiệp còn là một mơn khoa học nghiên cứu những vấn đề kinh tế của

sản xuất nông nghiệp : mối quan hệ giữa người và người tác động và sự vận dụng cụ thể các

quy luật về kinh tế sản xuất và phân phối trong nội bộ ngành sản xuất nông nghiệp

Kinh tế nông nghiệp theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp : Nông nghiệp theo nghĩa

rộng( bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp) theo theo nghĩa hẹp nó là một ngành trực tiếp

trồng trọt lương thực, chăn nuôi.

2.1.2. Lý thuyết về phát triển kinh tế nông nghiệp



Nơng nghiệp là lĩnh vực sản xuất có những nét đặc thù, là ngành sản xuất gắn với

sinh vật (cây trồng, vật nuôi), bị chi phối bởi quy luật sinh học, các điều kiện ngoại cảnh

(đất đai, thời tiết - khí hậu) và là ngành sản xuất ra sản phẩm tất yếu để xã hội tồn tại và

phát triển, vì thế từ lâu rất được các nhà kinh tế quan tâm và được đề cập nhiều trong các lý

thuyết kinh tế, nhất là trong các mơ hình phát triển kinh tế của các nước chậm phát triển

hiện đang tiến hành cơng nghiệp hố.

D.Ricardo cho rằng do quy luật màu mỡ đất đai ngày càng giảm, giá cả nông sản

tăng lên làm cho tiền lương công nhân tăng và địa tô tăng lên, còn lợi nhuận khơng tăng.

Theo C.Mac khi hai lượng tư bản và lao động ngang nhau thì lợi nhuận siêu ngạch

ấy chuyển thành địa tô. Địa tô chênh lệch bao gồm hai loại: địa tô chênh lệch I và địa tô

chênh lệch II.

Lý thuyết phát triển cân đối của R. Nurkse, là người đi tiên phong trong lý thuyết

phát triển, Ông cho rằng lao động dư thừa cần phải được chuyển khỏi nơng nghiệp, đáp ứng

sự hình thành tư bản cho các cơng trình xây dựng, cơng xưởng, máy móc.

Mơ hình hai khu vực của A. Lewis 7 , mơ hình này ra đời vào những năm 1950, sau

đó được John Fei và G. Ranis mở rộng. Trong mơ hình Lewis, nền kinh tế kém phát triển có

hai khu vực, đó là khu vực nơng thơn mang tính truyền thống, dân số đông đúc, nền kinh tế

kém phát triển, lao động dư thừa so với các yếu tố sản xuất khác, năng suất lao động bằng

khơng, do đó có thể cung cấp vơ hạn lao động sang khu vực công nghiệp mà không hề làm

giảm sản lượng.

Lý thuyết các giai đoạn phát triển kinh tế của W.Rostow, còn được gọi là mơ hình

suy diễn lịch sử, đã chia tiến trình kinh tế thành năm gian đoạn: Giai đoạn xã hội truyền

thống (nông nghiệp là nền tảng của nền kinh tế), giai đoạn chuẩn bị cất cánh (đã xuất hiện

các khu vực kinh tế có tác dụng lơi kéo, thúc đẩy sự phát triển), giai đoạn cất cánh (tỷ lệ đầu

12



tư tăng từ 5 đến 10% tổng sản phẩm quốc dân), giai đoạn hướng tới sự chín muồi kinh tế (tỷ

lệ đầu tư cao, xuất hiện nhiều cực tăng trưởng, làm thay đổi cơ cấu kinh tế), và giai đoạn kỷ

nguyên tiêu dùng cao.

Như vậy, có thể nói rằng hầu hết các lý thuyết của các nhà Kinh tế học trước đây đều

không thuần túy tập trung nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp, mà đều đặt nông nghiệp trong

mối quan hệ với các ngành, các lĩnh vực khác, trước hết là với công nghiệp. Ngày nay, hơn

bao giờ hết, phát triển nông nghiệp càng phải đặt trong mối quan hệ tổng thể với các lĩnh

vực, các ngành khác như: xuất khẩu, du lịch, công nghiệp, môi trường... Do vậy khi nghiên

cứu về kinh tế nông nghiệp cũng phải nghiên cứu trong mối quan hệ tổng thể.

Phát triển nông nghiệp bao gồm những nội dung gì?

2.1.3. Yếu tố ảnh hưởng phát triển sản xuất nông nghiệp

2.1.3.1. Những yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên

Trong những yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên thông thường nhân tố đầu tiên được

kể đến đó là đất đai, các tiêu thức của đất đai cần được phân tích, đánh giá về mức độ thuận

lợi hay khó khăn trong sản xuất nơng nghiệp tuy đất đai được xem xét trước nhưng mức độ

ảnh hưởng của nó khơng mang tính quyết định bằng khí hậu thơng qua các thơng số như độ

ẩm, lượng mưa bình qn, ánh sáng đều phải được phân tích đánh giá.

Ngồi đất đai khí hậu ra còn phải kể đến nguồn nước gồm các mạch nước ngầm, nước mặt

hoặc khả năng đưa nước từ nơi khác vào vùng sản xuất.

2.1.3.2 Những yếu tố về kinh tế xã hội

Đất đai ngồi việc được coi là thuộc về tự nhiên thì nó cũng là một chỉ tiêu về kinh

tế chúng ta phải xem xét trong sản xuất lao động như đất canh tác trên một nhân khẩu, một

lao động chỉ tiêu này càng cao thì càng tạo cho sự hình thành phát triển nơng nghiệp, thị

trường là yếu tố bên ngồi doanh nghiệp nhưng lại mang vai trò hết sức quan trọng và phải

xem xét thị trường đầu ra thị trường đầu vào khơng nên xem nhẹ thị trường nào vì đây là

nơi tiêu thụ sản phẩm nơng nghiệp và còn phải kể đến những nhân tố trên như sự phát triển

của các công nghiệp chế biến, cơ chế quản lý của nhà nước..v..v..

2.1.3.3 Những yếu tố về cơ sở hạ tầng xã hội

Cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm các cơng trình như đường xá, cầu cống, y tế , văn hóa,

giáo dục, thể thao, thương mại, dịch vụ công cộng, cây xanh, công viên, mặt nước và các

công trình khác. Cơ sở hạ tầng kinh tế bao gồm quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất

tàn dư và quan hệ sản xuất mới (mầm mống quan hệ sản xuất của xã hội sau). Nó khơng thể

tiến hành một cách độc lập mà phải được đặt trong khn khổ của một chiến lược, chương

trình phát triển của quốc gia. Sự phát triển của các vùng nông thôn sẽ đóng góp vào sự

nghiệp phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển chung của cả đất nước.

13



2.1.4. Vai trò, vị trí và đặc điểm của sản xuất nơng nghiệp

2.1.4.1 Vai trò của sản xuất nơng nghiệp

Nơng nghiêp có vai trò quan trọng trong viêc cung cấp các yếu tố đầu vào cho Công

nghiệp và khu vực thành thị. Ðiều đó được thể hiện ở các mặt sau:

Sản xuất nông nghiệp cung cấp lương thực - thực phẩm cho xã hội đại bô phận là sản

phẩm nuôi sống con người và khơng có mọt ngành sản xuất nào thay thế được. Khi xã hội

càng phát triển đời sông con người dược nâng cao thì nhu cầu về lương thực- thực phẩm

tăng về số lượng và chất lượng, chủng loại do 2 yếu tố sau: Thứ nhất là do sự tăng lên

không ngừng của dân số;Thứ hai là do sự tăng lên của nhu cầu bản thân con người. Do vậy

chỉ có một nền nơng nghiệp phát triển ở trình độ cao mới đáp ứng được nhu cầu tăng lên

thường xun đó.

Sản xuất nơng nghiệp cung cấp ngun liệu cho ngành công nghiệp đặc biệt là công

nghiệp chế biến và nơng sản có giá trị cao để xuất khẩu.

Nơng nghiệp cung cấp sức lao động cho ngành công nghiệp và các ngành kinh tế

khác.

Nông nghiệp, nông thôn là thị trưòng tiêu thụ rộng lớn các sản phẩm cơng nghiệp.

Nơng nghiệp còn là nguồn tích lũy ngoại tệ lớn để phục vụ cho sư nghiệp cơng nghiêp hóahiện đại hóa đát nước.

Nơng nghiệp và nơng thơn có vai trò to lớn đối với sự phát triển bền vững của môi

trường.

2.1.4.2 Vị trí của xản xuất nơng nghiệp

Nơng nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp. Nó khơng

chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học, kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ

sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng cây trồng, vật nuôi. Chúng phát triển

theo quy luật sinh học nhất định con người không thể ngăn cản các quá trình phát sinh, phát

triển và diệt vong của chúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn các quy luật đó để có

những giải pháp thích hợp tác động vào chúng. Mặt khác quan trọng hơn là phải làm cho

người sản xuất có sự quan tâm thỏa đáng, gắn lợi ích của họ với sử dụng quá trình sinh học

nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng hơn.

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của nền kinh tế quốc dân, nógiữ vai

trò to lớn trong phát triển kinh tế ở hầu hết các nước, nhất là ở các nước đang phát triển,

những nước này đại bộ phận sống bằng nghề nơng. Tuy nhiên ngay cả những nước có nền

14



cơng nghiêp phát triển cao thì sản lượng nơng sản của các nước này không hề giảm, đảm

bảo cung đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực thực

phẩm.những sản phẩm nàycho trình độ khoa học phát triển cao như hiện nay vẫn chưa có

ngành nào thay thế được. Lương thực thực phẩm là yếu tố đầu tiên có tính chất quyết định

đến sự tồn tại và phát triển của con người và phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

2.1.4.3Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp

Nông nghiệp là một lĩnh vực rất phong phú. Nông dân sống ở khu vực nông nghiệp

gắn liền với nông thôn, sản xuất gắn liền với thiên nhiên, với môi trường và gặp nhiều rủi

ro, đặc biệt là đối với nước chưa phát triển, khoa học kỹ thuật, kỹ thuật canh tác còn lạc

hậu, trình độ lao động thấp. Người nông dân ở đây, họ vừa là những người sản xuất vừa là

những người tiêu thụ sản phẩm của chính bản thân họ làm ra. Bởi vậy tính phối hợp liên

ngành như cung ứng vật tư, chế biến , tiêu thụ sản phẩm còn ở mức độ thấp, đóng góp từ

khu vực nơng nghiệp và thu nhập quốc dân chưa cao và bất ổn định.Việt Nam là một nước

đang phát triển, đất nước có nhiều thuận lợi về phát triển nơng nghiệp, nhiều tài ngun, có

thảm thực vật phong phú, đa dạnh có tiềm năng sinh khối lớn, nhiều lồi vật có giá trị kinh

tế cho phép phát triển một nền nơng nghiệp đa dạng và có thể đi vào chuyên canh nhiều loại

cây, con. Nước ta đất chật, dân số không ngừng tăng lên khả năng mở rộng quy mô sản xuất

nông nghiệp hạn chế. Việc chuyển nền nơng nghiệp sang sản xuất hàng hố gặp nhiều khó

khăn về vốn, kỹ thuật, trình độ lao động, khả năng quản lý. Đây là những đặc điểm nổi bật

cần phải khắc phục nhanh chóng tạo tiền đề cho nhiệm vụ cơng nghiệp hố - hiện đại hố

nơng nghiệp nông thôn nước ta theo hướng bền vững, tiến lên một nền nông nghiệp mà:

- Đi vào sản xuất hàng hoá

- Năng suất cây trồng và gia súc cao

- Năng suất lao động cao sử dụng hệ thống thuỷ canh và cần phải khắc phục những hạn chế:

- Sử dụng năng lượng lãng phí

- Chất lượng nơng sản kém

- Mơi trường bị ơ nhiễm

2.2. Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp của Nước ta hiện nay

Thành tựu nổi bật nhất là nông nghiệp Việt Nam tăng trưởng cao, liên tục, đặc biệt là

căn bản giải quyết được vấn đề lương thực cho đất nước. Tăng trưởng bình quân hàng năm

về nông lâm và ngư nghiệp thời kỳ 1991-2000 đạt 4,3% trong đó nơng nghiệp đạt 5,4%

15



(riêng lương thực đạt 4,2%, cây công nghiệp đạt 10%, chăn nuôi -5,4%) thuỷ sản tăng 9,1%

lâm nghiệp tăng 2,1%.Giải quyết tốt vấn đề lương thực là điều kiện quyết định để đa dạng

hố cây trồng, vật ni. Trong một thời kỳ dài, nông nghiệp nước ta là nông nghiệp độc

canh lúa nước, từ khi giải quyết được vấn đề lương thực, mới có điều kiện để đa dạng hố

theo hướng giảm tỷ trọng cây lương thực, tăng tỷ trọng cây công nghiệp, cây ăn quả v.v...

phát triển chăn nuôi về số lượng và chủng loại đặc biệt là phát triển nuôi trồng thủy hải sản.

Nhờ vậy, mà sản lượng của nông nghiệp tăng nhanh, sản phẩm xuất khẩu ngày càng cao,

trong đó thủy hải sản phát triển mạnh nhất. Cơng nghiệp dịch vụ nông thôn đã bắt đầu khởi

sắc, những ngành nghề và làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển. Hệ thống

dịch vụ được mở rộng, thông qua các chợ, cửa hàng, các tụ điểm dân cư, các thị tứ, thị trấn

đang trở thành những nơi giao lưu kinh tế văn hoá của các làng, xã để tiếp cận với thị

trường. Bộ mặt nông thôn nhiều nơi đã đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần được cải

thiện rõ rệt.

Bên cạnh những thành tựu đạt được nêu trên, nơng nghiệp nước ta cũng còn nhiều tồn

tại và hạn chế:

-



-



Nơng nghiệp nước ta chưa thốt khỏi tình trạng tự cấp tự túc, sẩn xuất hàng hóa nhỏ,

manh mún.

Các ngành nơng, lâm, ngư nghiệp chưa gắn bó với nhau trong cơ cấu kinh tế thống

nhất, thậm chí còn mâu thuẫn gay gắt làm trở ngại đến quá trình phát triển.

Nông nghiệp chưa gắn với nông thôn, tỷ lệ hộ thuần nơng còn cao, số hộ kiêm và

chun ngành nghề - dịch vụ chưa nhiều.

Tác động của công nghiệp vào nơng nghiệp còn ít, phần lớn cơng cụ lao động trong

nông nghiệp vẫn là thủ công.

Kinh tế hộ tự chủ đã có bước phát triển khá, song năng lực nội sinh của kinh tế hộ

còn yếu chưa đủ sức tự vươn lên để phát triển kinh tế hàng hoá và chuyển dịch kinh

tế nông nghiệp và nông thôn.

Thị trường nông sản còn hạn hẹp chưa được khai thơng, sức mua của nơng dân còn

thấp v.v...



Những thuận lợi khó khăn cuả nền nơng nghiệp Việt nam

Có nguồn nước dồi dào, ánh sáng dư thừa có thể tiến hành sản xuất nơng nghiệp quanh

năm.

Tập đồn cây trồng vật ni phong phú nhờ có điều kiên sản xuất ra những mặt hàng

nơng sản có giá trị kinh tế cao, có khả năng cạnh tranh lớn trên thị trường quốc tế.

Khó khăn : thường xuyên bị sâu bệnh phá hoại mùa màng, diện tích bình quân trên đầu

người thấp (0.1 ha/người).vì vậy trong quá trình phát triển nơng nghiệp nước nhà theo

hướng sản xuất hàng hóa , cần phát huy cao độ những thuận lợi và hạn chế tối đa những khó

khăn nhằm đảm bảo cho nơng nghiệp nước ta có sự phát triển nhanh và bền vững.



16



2.2.2 Tình hình sản xuất nơng nghiệp của Tây ngun hiện nay

Vùng Tây ngun có địa hình cao nguyên xếp tầng, là nơi bắt nguồn của nhiều dòng

sơng chảy về các lãnh thổ của các vùng lân cận. Nơi đây rất thuận lợi cho việc trồng cây

lương thực và cây cơng nghiệp như lúa, ngơ, sắn, mía; các cây công nghiệp như chè, cà phê,

cao su, tiêu. Đặc biệt là cây cà phê là một cây xuất khẩu chủ lực về nông sản của Việt Nam.

- Thông tin về trồng trọt:

+ Tây Nguyên – một vùng đất đỏ ba – zan màu mỡ, thiên nhiên có nhiều ưu đãi rất

thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp theo hướng chuyên canh lớn. Một số tỉnh trên địa

bàn đã phát triển được nền nông nghiệp theo hướng chuyên canh lớn và từng bước hình

thành được cơ cấu cây trồng, vật nuôi khá ổn định theo hướng phát triển bền vững. Các loại

cây trồng chủ yếu là lúa, ngô, sắn, mía; các cây cơng nghiệp như chè, cà phê, cao su, tiêu.

Ngoài ra hiện nay cây ca cao cũng dần dần chiếm được lòng tin của người dân Tây Nguyên,

cho sản lượng cao.

+ Thông tin về giống lúa cho vùng: Lúa thường là các giống 13/2 (IR17494), Xi23

(nhóm dài ngày); ĐB 6, TB-R1, KD đột biến, ĐV108, HT1, Q5, ML48, ML202, IR64,

VND95-20. (nhóm trung ngày); Lúa cạn: LC93-1, LC93-4. Lúa lai: là các giống lúa Nhị ưu

838, BT-E1, Nông ưu 28, Syn6, Nghi Hương 2308. Do vậy, thông tin về kỹ thuật canh tác

cho các giống lúa này là cần thiết.

Hiện nay, một số tỉnh trong vùng đã hình thành những vùng chuyên canh, thông tin

cũng cần được đưa lên cổng thông tin để quảng bá và nhân rộng trong và ngồi vùng. Tại

Đắk Lắk đã hình thành những cánh đồng chuyên canh lúa nước hai vụ và là địa phương có

diện tích và sản lượng ngơ dẫn đầu Tây Nguyên; Tại Gia Lai, tổng diện tích gieo trồng đạt

trên 22.500ha, tăng gần hai lần so với vụ trước, năng suất bình quân đạt từ 6,5 - 7 tấn/ha.

Tỉnh cũng đã hình thành ba vùng trọng điểm lúa nước ở các huyện Ayunpa, Phú Thiện và Ia

Pa, với diện tích hơn 11.000 ha; Tỉnh Đắk Nơng, đã hình thành được vùng chuyên canh cà

phê 70.000ha, sản lượng 122.000 tấn cà phê nhân; vùng trồng lúa 11.000 ha, sản lượng

54.000 tấn; vùng trồng ngô 30.000ha, sản lượng 165.000 tấn…; Riêng đối với Kon Tum đã

đưa vào thử nghiệm một số loại giống cây trồng, vật ni mới có năng suất cao, chất lượng

tốt, làm đa dạng hoá các sản phẩm nơng nghiệp; thực hiện có kết quả các chương trình

khuyến nơng, khuyến lâm, khai hoang mở rộng diện tích canh tác.

- Thông tin về chăn nuôi:

+ Với lợi thế về tài nguyên đất, khí hậu, cùng với việc quy hoạch các vùng chuyên

canh cây trồng như đã nói trên, về chăn nuôi nên mở ra các trang trại chăn nuôi đại gia súc.

+ Theo Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, đến nay các tỉnh Tây Nguyên đã đầu tư phát triển

nhanh đàn trâu, bò thịt lên gần 900.000 con, trong đó có trên 785.200 con bò, tăng gần 5%

so với năm 2009. Đắk Lắk, Gia Lai là những địa phương có đàn trâu, bò nhiều và tốc độ

tăng trưởng nhanh nhất.

+ Các tỉnh Tây Nguyên xác định chăn nuôi đại gia súc là ngành kinh tế hàng hố,

khơng những đáp ứng nhu cầu nguồn thực phẩm trong, ngoài khu vực mà còn tiến đến xuất

khẩu, góp phần nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc.

+ Thực tế chăn nuôi vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún, phân tán trong các hộ gia đình

nhằm tạo thêm thu nhập phụ, nên chưa có ý thức phòng, chống dịch bệnh cho gia súc, gia

cầm, cũng như giữ gìn vệ sinh mơi trường chưa tốt, dễ bị thiệt hại nặng khi xảy ra dịch

bệnh. Đưa chăn nuôi thành một ngành kinh tế quan trọng của sản xuất nơng nghiệp là cái

17



đích cần phải nhắm tới. Với các loại gia cầm, gia súc truyền thống hiện có, Tây Nguyên

cũng cần đưa thêm các loại giống mới vào chăn nuôi, nhằm tăng lợi nhuận kinh tế.

2.2.3 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển sản xuất nông nghiệp

Vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân luôn chiếm

vị trí quan trọng trong các chương trình nghị sự của Đảng và Nhà nước. Trải qua các kỳ đại

hội Đảng, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân ngày càng được Đảng ta nhận thức

sâu sắc hơn, trên cơ sở đó đề ra những chủ trương, định hướng đúng đắn, phù hợp với tình

hình, yêu cầu trong từng giai đoạn phát triển của đất nước. Điều này được thể hiện đặc biệt

rõ nét kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo.

- Căn cứ nghị quyết số 04/NQ-TU của Tỉnh Ủy Đăk Lăk về việc triển khai thực hiện

chương trình phát triển kinh tế - xã hội cho các buôn đồng bào dân tộc tại chỗ khó khăn.

- Căn cứ Chương trình số 2463/CT-UBND ngày 27/6/2008 của UBND tỉnh Đăk Lăk,

về việc phát triển KT-XH Buôn đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.

- Căn cứ Quyết định số 10/QĐ–UBND ngày 11 tháng 01 năm 2013 của UBND

huyện Cư M’gar về việc giao dự toán thu, chi ngân sách nhà nước năm 2013.

- Căn cứ Quyết định số 61/QĐ-UB ngày 7 tháng 3 năm 2014 của UBND xã Ea Tul

về việc thành lập Ban chỉ đạo thực hiện chương trình phát triển kinh tế năm 2014 của xã Ea

Tul.

- Căn cứ kế hoạch số 08/KH-UBND ngày 25 tháng 3 năm 2014 của Phòng

NN&PTNT về việc thực hiện chương trình phát triển kinh tế buôn đồng bào dân tộc thiểu

số xã Ea Tul.

Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương

Đảng khố X “ về nơng nghiệp, nông dân, nông thôn”; Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày

16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về Nơng thơn

mới và thơng tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8//2009 của Bộ Nông nghiệp và phát

triển nông thơn Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Quyết định số

800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu

Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010–2020; Thông tư liên bộ số

26/TTLB/BNN-BTC-BXD; Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 24/4/2011 của Tỉnh uỷ Đăk

Lăk ; Nghị quyết 03/NQ-HU của huyện ủy CưMgar; Nghị quyết số: 05/NQ-ĐU của đảng

ủy xã Ea Tul về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng đến năm

2020.

Format cho đồng nhất, coppy cũng cần lưu ý



18



2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu

- Địa bàn nghiên cứu : 4 buôn (gồm các buôn : buôn triă, bn sah A, bn Đing, bn

brah) các bn này có đặc diểm đất đai, điều kiện kinh tế xã hội tiêu biểu để đại diện cho

toàn xã EaTul.

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu và thông tin

Thông tin/số liệu thứ cấp

Thông tin thứ cấp bao gồm các thông tin về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của xã (các

nguồn tài nguyên, dân số - lao động, văn hóa, giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng…) và thơng tin

về tình hình sản xuất nơng nghiệp được thu thập từ : Các báo cáo tổng quan về điều kiện tự

nhiên - kinh tế - xã hội của xã (các nguồn tài nguyên, dân số - lao động, văn hóa, giáo dục,

y tế, cơ sở hạ tầng…), các báo cáo về đất đai. Báo cáo của xã liên quan đến đề tài nghiên

cứu, mạng internet, báo cáo các chính sách liên quan, chiến lược phát triển kinh tế xã hội

của xã, tất cả các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu.

- Mẫu điều tra : Hộ nông dân, dung lượng 100 phiếu, phân loại theo chỉ tiêu cây hàng năm,

cây lâu năm và loại vật nuôi. Gồm các tiêu chí như diện tích đất đai canh tác, sản lượng và

số con, giá trị vật nuôi thu được trong năm 2014, giá trị sản xuất để phục vụ cho đề tài

nghiên cứu sản xuất nông nghiệp.

Thông tin/số liệu sơ cấp

Thơng tin bao gồm diện tích và sản lượng từ sản xuất nông nghiệp của hộ được tổng hợp từ

phiếu điều tra nơng hộ nội dung gồm có: Diện tích, sản lượng và giá trị cây trồng, vật ni

của nơng hộ.

2.3.3 Phương pháp xử lí số liệu và thông tin

Số liệu thứ cấp được chọn lọc và tổng hợp theo phương pháp thống kê phục vụ cho nghiên

cứu việc sản xuất nông nghiệp của xã EaTul.

Các số liệu được xử lý và tổng hợp bằng phần mềm Microsoft Excel theo các chỉ tiêu để

đáp ứng các chỉ tiêu đã xác định như: năng suất cây trồng, tính tỷ lệ cơ cấu.

2.3.4 Phương pháp phân tích

19



Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng số tuyệt đối, số tương đối, số bình qn để mơ tả sự

biến động của các hiện tượng như đất đai, dân số, năng suất, sản lượng cây trồng, thu nhập.

Phương pháp thống kê so sánh: Sử dụng để so sánh chỉ tiêu năm sau so với năm trước.

2.3.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

Diện tích phân bố các loại cây trồng.

Năng xuất, sản lượng và giá trị một số cây trồng chính.

Số lượng và giá trị một số loại vật ni chính (gia súc và gia cầm).

Tỷ lệ và cơ cấu.

PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1. Vị trí địa lý: Xã Ea Tul nằm cách trung tâm huyện Cư M’gar khoảng 15 km, cách

thành phố Buôn Ma Thuột gần 35 km về hướng Đơng Bắc có hệ giao thơng liên xã thuận

lợi. Có vị trí địa lý như sau:

+ Phía Bắc giáp xã Cư Dliê M’Nông, Huyện Cư M’gar và xã Ea Ngai, huyện Krơng

Búk.

+ Phía Nam giáp xã Ea D’rơng , huyện Cư M’gar.

+ Phía Tây giáp xã Ea K’pam, huyện Cư M’gar.

+ Phía Đơng giáp thị xã Bn Hồ.

Diện tích: Tổng diện tích đất tự nhiên là: 5. 689 ha, trong đó tổng diện tích đất nơng

nghiệp: 5252 ha.

Về dân số: Dân số toàn xã hơn 10.058. người, trong đó là: 2.156 hộ 10.863 khẩu; trong

đó đồng bào dân tộc tại chỗ có 2.134 hộ 10.534 khẩu; chiếm 96% dân số.

- Xã có 220 hộ nghèo chiếm 10,2% so với số hộ toàn xã.



20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Cơ sở lý luận

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×