Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Công tác quản lý các doanh nghiệp tư vấn xây dựng, xây lắp còn bỏ ngỏ (chưa có sự thông tin kịp thời giữa Sở KHĐT – cấp giấy phép kinh doanh và Sở Xây dựng – quản lý hoạt động xây dựng và các Sở có xây dựng chuyên ngành khác);

Công tác quản lý các doanh nghiệp tư vấn xây dựng, xây lắp còn bỏ ngỏ (chưa có sự thông tin kịp thời giữa Sở KHĐT – cấp giấy phép kinh doanh và Sở Xây dựng – quản lý hoạt động xây dựng và các Sở có xây dựng chuyên ngành khác);

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Mơ hình tổ chức hoạt động của một số Ban QLDA còn một số bất cập đặc biệt

trong cơng tác kế hoạch- đấu thầu- giám sát xây dựng- quản lý hợp đồng xây

dựng;

- Do cơ chế, công tác quản lý các cán bộ hợp đồng trong các Ban QLDA còn

lỏng lẻo, chưa thể ràng buộc chặt chẽ trách nhiệm – nghĩa vụ;

2.5. Về chất lượng của đội ngũ tư vấn xây dựng.

Tổ chức Tư vấn tuy nhiều nhưng hầu hết đều mới thành lập, khơng có năng lực

hoặc khơng đảm bảo yêu cầu ngày càng cao về kỹ thuật và chất lượng. Nhiều đơn vị

chỉ được lập ra để “bán dấu”, hoạt động cạnh tranh không lành mạnh.

Thiếu các tư vấn chất lượng cao ở tầm vĩ mô trong việc đề xuất các chủ trương

đầu tư xây dựng, quy hoạch, lập dự án, đề xuất các giải pháp kỹ thuật cơng nghệ

chính xác, hợp lý, khả thi; Trong nhiều trường hợp đã để xảy ra các sai sót, phải điều

chỉnh cho quá trình xây dựng gây tốn kém, lãng phí, ảnh hưởng lớn đến chất lượng

cơng trình.

Việc giám sát tác giả của Tư vấn thiết kế cũng chưa nghiêm túc, trách nhiệm về

sản phẩm thiết kế chưa cao, chưa chịu trách nhiệm đến cùng đối với sản phẩm thiết kế

của mình.

Tư vấn khảo sát (địa hình, địa chất, thủy văn) còn yếu, quy mơ nhỏ lẻ, sử dụng

các thiết bị cũ, hoạt động thiếu chính xác (Trong khi đó, vì nhiều lý do, các Ban

QLDA thường khơng nghiệm thu tại hiện trường mà nghiệm thu trên hồ sơ;

Chưa có các tổ chức chuyên về Tư vấn thẩm tra mà chủ yếu vẫn dựa vào các tổ

chức của các Hội, Trường hoặc sử dụng các Tư vấn thiết kế để thẩm tra lẫn nhau dẫn

đến công tác thẩm tra mang tính hình thức. Nội dung thẩm tra chỉ mới nặng về phản

biện, chưa đáp ứng yêu cầu đảm bảo sự tối ưu của phương án thiết kế về kinh tế - kỹ

thuật.

Tư vấn giám sát ở các đơn vị điều hành dự án cũng như của các tổ chức tư vấn

tuy đơng về số lượng nhưng còn thiếu nhiều nhân sự đủ trình độ, kinh nghiệm. Năng

40



lực chun mơn của đội ngũ TVGS còn hạn chế, chưa đáp ứng được sự phát triển của

tiến bộ khoa học kỹ thuật, chưa nắm bắt được đầy đủ các quy trình quy phạm hiện

hành và các tiêu chuẩn kỹ thuật của dự án. Nhiều TVGS chưa thực sự sâu sát công

việc, mức độ tâm huyết cũng như trách nhiệm nghề nghiệp chưa cao. Nhiều đơn vị, tổ

chức hoạt động giám sát nhưng hầu như khơng có hoặc rất ít các cơng cụ hỗ trợ, lệ

thuộc hoàn toàn vào nhà thầu xây lắp.

Hoạt động thí nghiệm, kiểm định chất lượng chưa mang tính chuyên nghiệp, số

lượng các tổ chức kiểm định có kinh nghiệm chưa nhiều, đặc biệt là thiếu cán bộ thí

nghiệm, kiểm định chun nghiệp; thiết bị thí nghiệm kiểm định khơng được đầu tư

đúng mức. Có thể nói lĩnh vực này còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu

thực tế.

2.6. Về năng lực của nhà thầu xây lắp.

Năng lực tài chính một số nhà thầu yếu kém nên việc thi công manh mún, phụ

thuộc nhiều vào việc tạm ứng và thanh toán của Chủ đầu tư dẫn đến kéo dài thời hạn

hợp đồng làm chất lượng cơng trình thi công dở dang bị giảm sút;

Nhiều nhà thầu cùng một lúc đấu thầu và nhận nhiều cơng trình, cơng việc thi

công dàn trải, bị động trong kế hoạch điều động nhân lực, máy móc; huy động nhân

lực, máy móc, thiết bị khơng đúng hồ sơ dự thầu;

Trình độ và năng lực điều hành của Nhà thầu còn yếu kém, số lượng thiếu. Nhiều

công nhân kỹ thuật phổ thông của Nhà thầu (đặc biệt là đối với các hạng mục lên

quan đến cơng tác thi cơng nền đường, thốt nước) chưa được đào tạo bài bản, làm

việc mang tính thời vụ nên trách nhiệm đối với công việc chưa cao. Việc tổ chức đào

tạo nâng cao tay nghề cho cán bộ và cơng nhân còn rất nhiều hạn chế.

Trong q trình thi cơng, Nhà thầu còn chưa thực hiện đúng trình tự theo quy

trình, quy phạm và chỉ dẫn kỹ thuật của hồ sơ mời thầu, khơng có hệ thống quản lý

chất lượng và nghiệm thu nội bộ theo quy định. Nhiều đơn vị đã xây dựng và được

công nhận đạt tiêu chuẩn ISO 9001:2000 nhưng khi triển khai vẫn còn hình thức, chủ

41



yếu là văn phòng cơng ty mà thiếu lực lượng cũng như tổ chức thực hiện tại hiện

trường xây dựng.

2.7. Công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan có liên quan.

- Cơng tác thanh tra, kiểm tra xây dựng, quản lý chất lượng xây dựng còn dàn

trải, chưa trọng tâm, trọng điểm;

- Việc xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra chuyên ngành còn bị động, phụ

thuộc nhiều vào kế hoạch thanh tra của các cấp, các cơ quan khác;

- Chưa được coi trọng đúng mức công tác báo cáo, đánh giá sau thanh tra, kiểm

tra;

- Việc trao đổi thông tin, kinh nghiệm, cơ chế phối hợp trong thanh tra, kiểm tra

chất lượng cơng trình giữa lực lượng thanh tra, cán bộ chun mơn của Phòng

Giám định & quản lý chất lượng cơng trình và đội ngũ cán bộ kỹ thuật, quản lý

chưa được quan tâm, triển khai.

- Qua rà soát, đánh giá và kiểm tra thực tế của Sở Xây dựng, cho thấy vẫn còn

một số cơng trình xây dựng chất lượng khơng đạt u cầu, hư hỏng, xuống cấp

nhanh, giảm tuổi thọ cơng trình, làm ảnh hưởng đến hiệu quả nguồn vốn đầu

tư.

Tóm Tắt chương 2



Có rất nhiều cơng nghệ mới trong xây dựng mặt đường có độ nhám cao được ra

đời với các tiêu chuẩn và phạm vi áp dụng nhất định. Tuy nhiên Công nghệ NovaChip

hiện đang được áp dụng rộng rãi trên các đường cao tốc tại Việt Nam do có nhiều tính

năng ưu điểm tốt. Với tiêu chuẩn áp dụng cao và tổng mức đầu tư lớn như tuyến cao

tốc Hà Nội – Hải Phòng thì Cơng nghệ Novachip (lớp phủ siêu mỏng có độ nhám cao)

đang là lựa chọn hàng đầu.



42



CHƯƠNG 3

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THI CÔNG NỀN ĐƯỜNG DỰ ÁN CẢI TẠO

NÂNG CẤP QL18.

3.1. Cơng trình nền, đã đang sẽ xây dựng trên QL18

3.1.1. Trên địa bàn Tỉnh Bắc Ninh

Tổng chiều đường bộ tỉnh Bắc Ninh hiện có 9.866,75 km, trong đó:

- Quốc lộ

- Đường tỉnh



251,8 km chiếm 2,55%

411,8 km chiếm 4,17%



- Đường huyện



694,5 km chiếm 7,04%



- Đường xã



2.055,6 km 20,83%



- Đường thơn xóm



6.171,35 km chiếm 62,55% và



- Đường đô thị khoảng



281,7 km chiếm 2,86%.



Tỷ lệ trải mặt đường BTXM, BTN chiếm 34,94%; đá dăm nhựa 8,42%; cấp

phối, đất, gạch chiếm 56,64%.

Trên địa bàn tỉnh có 4 tuyến quốc lộ chạy qua với tổng chiều dài 251,8 km,

trong đó 191,4 km mặt đường bê tơng nhựa, 60,4 km mặt đường đá dăm nhựa; 1

tuyến do Trung ương quản lý là QL1; còn lại 3 tuyến Trung ương uỷ thác cho tỉnh

quản lý là QL17, QL38 và QL18.

Quốc lộ 1

Trên địa phận tỉnh Bắc Ninh, QL1 xuất phát từ cầu Lường đến cầu Như Nguyệt;

tuyến dài 139 km, đi qua nhiều khu trung tâm và khu dân cư đông đúc. Tuyến cắt qua

quốc lộ QL17, QL38,QL18 và các đường cao tốc Đường cao tốc Hà Nội - Bắc Ninh Bắc Giang - Lạng Sơn, Đường cao tốc Hà Nội - Bắc Ninh - Hạ Long - Móng Cái,

Đường cao tốc Hà Nội - Bắc Ninh - Thái Nguyên - Bắc Kạn .....



43



- Tình trạng kỹ thuật: đoạn tuyến đạt tiêu chuẩn đường cấp III, một số đoạn qua

trung tâm thị trấn có tiêu chuẩn đường đơ thị; kết cấu mặt đường BTN.

Quốc lộ 279

Trên địa phận tỉnh Bắc Ninh, QL279 bắt đầu từ Đáp Cầu ranh giữa Bắc Ninh và

Bắc Giang đoạn tuyến dài 27 km, là điểm xuất phát và giao cắt với các quốc lộ và

đường tỉnh

- Tình trạng kỹ thuật: Đạt tiêu chuẩn đường cấp IV, kết cấu mặt

Thành phố Bắc Ninh

Giao thông đô thị thành phố Bắc Ninh chủ yếu là khai thác hệ thống kết cấu hạ

tầng đường bộ.

Mạng lưới đường trục chính của thành phố hiện nay tương đối hợp lý, được tổ

chức theo dạng ô bàn cờ, kết hợp đường vành đai, nối liền các khu chức năng.

Khoảng cách giữa các trục chính từ 800m - 1000m, giữa các đường khu vực từ 300m

- 600m. Mặt đường đều được rải bê tông nhựa, các tuyến đường trục chính được làm

mới, nâng cấp, cải tạo đảm bảo cho giao thơng thơng suốt, có mặt cắt ngang tối thiểu

đủ 4 làn xe (15m); đường chính khu vực có mặt cắt ngang đủ cho 2-3 làn xe (rộng

7,0m - 10,5m), phổ biến loại nền đường rộng 9m - 12 m, hè rộng từ 4m - 6m. Tuy

nhiên, còn một số trục đường phố khu vực có chất lượng còn kém, chưa thực sự đáp

ứng tốt nhu cầu giao thông.

Một số khu dân cư mới như khu dân cư số 1, số 2, số 3 và Cống Ngóc - bến

xe,... đang được khẩn trương đầu tư hạ tầng nhằm tạo ra bộ mặt đô thị khang trang,

hiện đại, đường trong khu nội thị đều được thiết kế và xây dựng theo đúng tiêu chuẩn

quy định. Tỉ lệ đất giao thông hiện tại của thành phố khoảng trên 20% đất xây dựng.

Tuy nhiên, hệ thống giao thông đơ thị thành phố Bắc Giang vẫn còn một số hạn

chế như chưa có tuyến vành đai hồn chỉnh, chưa có trục đại lộ lớn; hệ

thống bãi đỗ xe tĩnh còn thiếu, cơng tác quản lý chưa chặt chẽ.



44



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Công tác quản lý các doanh nghiệp tư vấn xây dựng, xây lắp còn bỏ ngỏ (chưa có sự thông tin kịp thời giữa Sở KHĐT – cấp giấy phép kinh doanh và Sở Xây dựng – quản lý hoạt động xây dựng và các Sở có xây dựng chuyên ngành khác);

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×