Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chế độ tài sản theo quy định của pháp luật (Điều 33-> 46 Luật HNGĐ 2014)

Chế độ tài sản theo quy định của pháp luật (Điều 33-> 46 Luật HNGĐ 2014)

Tải bản đầy đủ - 0trang

đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu,… trừ một số trường hợp theo quy định của

luật.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hơn là tài sản chung của

vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng

hoặc có được thơng qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Tài sản chung của vợ chồng là bất động sản hoặc là tài sản mà pháp luật quy

định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong Giấy chứng nhận quyền sử dung, quyên

sở hữu phải ghi tên của cả vợ và chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận

khác.

 Quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung: Vợ chồng bình đăng với nhau trong

việc xây dựng, phát triển khối tài sản chung và bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử

dụng và định đoạt tài sản chung.

+ Quyền chiếm hữu: vợ chồng cùng nhau hoặc ủy quyền cho nhau quản lý, nắm

giữ khối tài sản chung hoặc cũng có thể ủy quyền cho người khác khi không thể

chiếm hữu tài sản.

+



Quyền sử dụng: trên nguyên tắc bình đẳng, việc sử dụng tài sản chung để đầu



tư, kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận trừ trường hợp vợ hoặc

chồng ủy quyền cho người còn lại trong việc sử dụng tài sản chung. Hoa lợi, lợi túc

thu được từ việc khai thác công dụng của tài sản là tài sản chung của vợ chồng.

+



Quyền định đoạt: Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên



quan đến tài sản chung của vợ chồng là bất động sản, động sản phải đăng ký quyền

sở hữu hoặc tài sản đang là nguồn tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình thì

phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng được công chứng, chứng thực trừ

trường hợp vợ/chồng ủy quyền cho người còn lại. Đối với giao dịch nhằm phục vụ

nhu cầu sinh hoạt thiết yếu hàng ngày của gia đình thì vợ chồng phải chịu trách

nhiệm liên đới.

Ngoài ra khoản 2 Điều 13 Nghị định 126/NĐ-CP cũng quy định: “Trường hợp

vợ hoặc chồng định đoạt tài sản chung vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều 35 của

11



Luật Hơn nhân và gia đình thì bên kia có quyền u cầu Tòa án tun bố giao dịch

vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vơ hiệu.”

 Như vậy, dựa trên tính chất cộng đồng của quan hệ hôn nhân, Luật HNGĐ 2014

quy định tài sản chung của vợ chồng nhằm đảm bảo nhu cầu của gia đình, thực hiện

nghĩa vụ của vợ chồng, là căn cứ pháp lý để xác định tài sản chung khi có tranh

chấp.

 Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện các

giao dịch, công việc nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình; liên đới thực

hiện nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, bồi

thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách

nhiệm; nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, sử

dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu

nhập chủ yếu của gia đình.





Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: là một chế định quan trọng, được



quy định trong 5 điều tại Luật HNGĐ 2014: Điều 38, 39, 40, 41, 42 về phương thức

chia tài sản, thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung, hậu quả và một số

trường hợp việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vơ hiệu. Một cách khái

qt nhất, vợ chồng có thể thỏa thuận chia một phần hay toàn bộ tài sản, nếu khơng

thỏa thuận được thì u cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp vợ chồng thỏa thuận

chia tài sản chung thì phải lập thành văn bản được cơng chứng theo yêu cầu của một

bên hoặc pháp luật quy định. Văn bản thỏa thuận có hiệu lực từ thời điểm do vợ

chồng thỏa thuận hoặc thời điểm lập văn bản nếu khơng có thỏa thuận hoặc từ thời

điểm văn bản tuân thủ hình thức theo quy định của pháp luật, trường hợp tòa án

chia tài sản chung thì kể từ ngày có bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp

luật. Về hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: nếu vợ chồng

không có thỏa thuận thì phần tài sản được chia; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản

riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng. Trường

hợp sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, nếu cảm thấy không muốn



12



chia tài sản chung nữa thì vợ chồng vẫn có quyền thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của

việc chia tài sản chung trước đó.

Ngồi ra, Điều 42 cũng quy định trường hợp thỏa thuận chia tài sản chung

trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu như: thỏa thuận làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến

lợi ích của gia đình hoặc nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp

dưỡng; bồi thường thiệt hại;…trên tinh thần đảm bảo nguyên tắc chung của chế độ

tài sản theo thỏa thuận.

* Tài sản riêng của vợ chồng:

 Xác định tài sản riêng. Gồm: tài sản mà mỗi người có trước khi kết hơn; Tài

sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng; tài sản được thừa kế riêng, được

tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng trong

thời kỳ hôn nhân; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và một số tài sản

khác như quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ; tài sản được xác lập quyền

sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác;

Khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật.(Điều

11 nghị định 126/NĐ-CP).

 Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản riêng:

+ Quyền chiếm hữu: mỗi người tự quản lý tài sản riêng của mình, trừ trường hợp

người vợ/chồng khơng tự quản lý cũng không ủy quyền cho người khác quản lý

được.

+



Quyền sử dụng: Vợ chồng có quyền sử dụng tài sản riêng của mình. Trong



trường hợp tài sản chung của vợ chồng khơng đủ để đảm bảo đời sống chung của

gia đình thì người có tài sản riêng phải có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng của mình

và khơng được quyền đòi lại.

+ Quyền định đoạt: Mỗi người có quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng của

mình, tuy nhiên, trong hôn nhân, quyền định đoạt tài sản riêng của vợ/chồng đôi khi

bị hạn chế trong trường hợp hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng là nguồn sống



13



duy nhất của gia đình thì khi muốn định đoạt tài sản đó cần phải có sự thỏa thuận

của cả vợ và chồng.

 Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng: Nghĩa vụ riêng được thanh toán

bằng tài sản riêng. Một số nghĩa vụ mà vợ/chồng phải tự mình chịu trách nhiệm như

nghĩa vụ có trước khi kết hơn, phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện

khơng vì nhu cầu gia đình,..

 Nhập tài sản riêng vào tài sản chung: Việc nhập, cách thức nhập tài sản riêng

do vợ chồng thỏa thuận.Việc nhập tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất hoặc những

tài sản có giá trị lớn thuộc sở hữu riêng của một bên vào tài sản chung phải được lập

thành văn bản được cơng chứng/ chứng thực, có chữ kí của cả hai bên. Nếu người

có tài sản riêng nhập tài sản của mình vào tài sản chung nhằm trốn tránh thực hiện

nghĩa vụ về tài sản vì thỏa thuận đó bị vơ hiệu.

3. Vai trò của việc phân định hai chế độ tài sản của vợ chồng

Như đã đề cập, hiện nay, pháp luật hơn nhân gia đình Việt Nam thừa nhận hai

chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sản theo thỏa thuận và chế độ tài sản theo

quy định của pháp luật. Trong khi đó, trước đây, hệ thống pháp luật về HN&GĐ của

nước ta từ năm 1945 đến Luật HN&GĐ năm 2000 chưa hề quy định về loại chế độ

tài sản theo thỏa thuận này cho đến Luật Hơn nhân và gia đình năm 2014 trong

chương Chế độ tài sản của vợ chồng Điều 28 bắt đầu quy định: “Vợ chồng có quyền

lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thoả thuận”

Như vậy, có thể nói chế độ tài sản theo thỏa thuận là một điểm mới của Luật

hơn nhân gia đình 2014 và khơng chỉ ở Việt Nam, một số nước tiến bộ trên thế giới

như Nhật Bản, Thái Lan, Cộng hòa Pháp cũng quy định về chế độ này, theo đó Điều

1387 Bộ luật dân sự Cộng Hòa Pháp quy định: “Vợ chồng có quyền tự do lựa chọn chế

độ tài sản. Luật pháp chỉ điều chỉnh quan hệ vợ chồng về tài sản khi khơng có thỏa thuận

riêng, mà vợ chồng có thể làm khi thấy điều đó là cần thiết, miễn sao khơng trái với thuần

phong mỹ tục và những quy định sau đây”.



14



Điều này tỏ ra là phù hợp thậm chí là cần thiết bởi lẽ tài sản chung của vợ

chồng chủ yếu được hình thành từ các loại tài sản thuộc sở hữu chính họ, do đó họ

có quyền định đoạt có sáp nhập tài sản của mình vào khối tài sản chung của gia đình

hay khơng, và ngược lại vẫn bảo lưu quyền sở hữu với một số loại tài sản nhất định.

Tài sản cũng như quyền sở hữu về tài sản là một vấn đề nhạy cảm, mà ở đó chỉ khi

cả hai bên có sự đồng thuận về quyền sở hữu thì những vấn đề liên quan xung

quanh mới có thể ổn định. Đồng thời chế định về chế độ tài sản theo thỏa thuận

cũng thể hiện ý chí của nhà nước và bản chất của chế độ xã hội là tơn trọng quyền

tự do ý chí của nhân dân. Cùng với đó, chế độ thỏa thuận về tài sản theo quy định

của pháp luật vẫn được tồn tại song song như một cách để thể hiện vai trò của nhà

nước trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nếu như vợ chồng không thỏa thuận

với nhau, phân vân không biết lựa chọn như thế nào hoặc thỏa thuận vơ hiệu thì đã

có chế độ tài sản luật định như một khuôn mẫu với những quy định chặt chẽ, rõ

ràng, công bằng, hợp lý, văn minh bảo vệ lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình

và người thứ ba ngay tình. Mặt khác đây cũng được là một chế độ mà các cặp vợ

chồng có thể lựa chọn đi theo hay không mà pháp luật không bắt buộc phải áp dụng.

Tóm lại, Chế độ về tài sản của vợ chồng ra đời, ngày càng hoàn thiện hơn đã

giúp giải quyết vấn đề tài sản của vợ chồng khi về một nhà được hợp lý hơn, là một

cách hay để hai người có thể sống trách nhiệm hơn với cuộc sống hơn nhân của

mình. Việc chia thành hai loại chế độ tài sản của vợ chồng một lần nữa được khẳng

định là cần thiết để vừa tôn trọng sự tự do thỏa thuận của vợ chồng, vừa bảo vệ

quyền lợi hợp pháp của các bên.

4. Quan điểm cá nhân về ưu, nhược điểm của mỗi chế độ tài sản của vợ chồng

Mỗi chế độ tài sản đều có ưu và nhược điểm khác nhau do vậy mỗi cặp vợ

chồng khi chuẩn bị kết hôn đều cần nắm vững và cân nhắc,lựa chọn chế độ phù

hợp:





Nếu lựa chọn chế độ tài sản theo luật định thì việc thiết lập chế độ này khơng



cần làm bất kì thủ tục nào, pháp luật đã dự liệu từ trước về căn cứ, nguồn gốc, thành

phần các loại tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ của

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chế độ tài sản theo quy định của pháp luật (Điều 33-> 46 Luật HNGĐ 2014)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×