Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



giảm thiểu được tình trạng sai phạm hay gian dối trong quản trị và điều hành.

- Cấu trúc sở hữu phân tán là cấu trúc trong đó khơng có cá nhân hoặc

nhóm các cá nhân, tổ chức nào sở hữu đa số vốn của cơng ty và có quyền chi

phối cơng ty. Đối với hình thức cấu trúc này, cơng ty huy động vốn bằng cách

bán cổ phần thường trên thị trường vốn. Mỗi cổ đông sở hữu một số cổ phần

cơng ty, quyền kiểm sốt hoạt động cơng ty do ban giám đốc nắm giữ. Các cổ

đơng nhỏ ít có động lực để kiểm tra chặt chẽ hoạt động và không muốn tham

gia điều hành công ty bởi vậy họ được gọi là người bên ngoài và cấu trúc

phân tán thường được gọi là hệ thống bên ngoài.

b. Theo liên kết sở hữu

Một cơng ty còn có thể được sở hữu và kiểm sốt bởi 2 nhóm người khác

nhau. Nó tạo ra 2 loại cấu trúc sở hữu là cấu trúc sở hữu chéo và cấu trúc kim tự

tháp, thường thấy ở các công ty thành viên của tập đồn hoặc các nhóm cơng ty.

Sở hữu kim tự tháp là hình thức sở hữu bởi một người kiểm sốt thực sự

thông qua nhiều tầng nấc sở hữu tại các công ty khác. Chẳng hạn, A nắm 20%

vốn của B, B lại nắm 10% vốn của C. A được gọi là chủ sở hữu sau cùng của

C, vì A kiểm sốt C thơng qua B. A có thể tác động lên một quyết định nào đó

của C nhưng chỉ chịu 2% (=20%x10%) mức độ ảnh hưởng (hoặc thiệt hại)

của quyết định đó. A có thể vì tư lợi mà ra những quyết định có lợi cho mình

nhưng có hại cho công ty C, trong khi chỉ chịu thiệt hại không đáng kể trên

phần vốn góp của mình.

Cấu trúc sở hữu chéo, xuất hiện khi A kiểm sốt B (trong ví dụ trên)

nhưng trong trường hợp này, B cũng nắm quyền kiểm soát lại A, mặc dù với tỉ

lệ sở hữu chéo không cao, nhưng sự ràng buộc sở hữu chéo này làm gia tăng

mức độ liên kết của A và B trong việc kiểm sốt C. Nó giúp các cơng ty gia

tăng mức độ liên kết, cam kết và hợp tác thực hiện chiến lược, nhưng nếu

năng lực kiểm soát việc thực thi pháp luật khơng cao có thể sẽ dẫn đến tình

trạng các cơng ty liên kết vi phạm quyền lợi cổ đơng nhỏ.



7



1.1.3. Các hình thức cấu trúc sở hữu

Để cơng ty hoạt động có hiệu quả, nhất thiết phải xác định được cơ cấu sở

hữu của công ty, từ đó hoạch định hệ thống quản lý phù hợp với từng hình thức

sở hữu.

Cơ cấu sở hữu của cơng ty được phân định thành các hình thức cơ bản

như sau1:

a. Hình thức cấu trúc sở hữu tồn diện 100% vốn chủ sở hữu

Các đơn vị được hình thành theo hình thái sở hữu này phụ thuộc hồn

tồn vào cơng ty mẹ, tn thủ hồn tồn các quyết định của cơng ty mẹ mà

khơng được phản kháng. Các phòng ban chức năng của các đơn vị trực thuộc

trong hình thái sở hữu này thực chất là “cánh tay nối dài” của các phòng ban

cơng ty mẹ. Việc quản lý vốn sở hữu hoàn toàn trực tiếp do bộ máy quản lý

của cơng ty mẹ thực hiện.

b. Hình thức cấu trúc sở hữu tồn diện có phân định

Cấp độ quản lý giảm dần đối với hình thái sở hữu tồn diện có phân

định. Về ngun tắc, trong hình thái sở hữu này, cơng ty con cũng vẫn phải

tn thủ hồn tồn các quyết định của cơng ty mẹ, tuy nhiên cách thức quản

lý đối với công ty con là thông qua người đại diện vốn chủ sở hữu của công ty

mẹ. Mỗi đại diện này sẽ được ủy quyền quản lý vốn với tỷ lệ khác nhau tương

ứng với tỷ lệ biểu quyết khác nhau. Do đó, để thi hành các quyết định của

công ty mẹ tại công ty con, phải thông qua quyết định của Chủ tịch công ty

hoặc Hội đồng thành viên của cơng ty con.

c. Hình thức sở hữu liên kết vốn có hình thành pháp nhân

Đối với hình thái sở hữu liên kết có hình thành pháp nhân, mức độ quản

lý và tầm ảnh hưởng của cơng ty mẹ đối với cơng ty con còn phụ thuộc vào

lượng vốn (cổ phần) chi phối của công ty mẹ tại công ty con. Tỷ lệ vốn sở

1



http://luatsurieng.vn/luat-su-va-cong-dong/hoach-dinh-co-cau-so-huu-doanh-nghiep.html



8



hữu của cơng ty mẹ càng cao thì việc áp đặt các quyết định của công ty mẹ

diễn ra càng dễ dàng và ngược lại. Cũng giống như hình thái sở hữu thứ hai,

cơng ty mẹ chỉ có thể thơng qua người đại diện vốn góp để thực thi quyết định

của mình tại công ty con. Mức độ phân cấp quản lý giữa công ty mẹ và công

ty con đã rõ ràng hơn, và cơng ty con khơng còn hồn tồn lệ thuộc vào cơng

ty mẹ như hai hình thái sở hữu nêu trên nữa.

d. Hình thức sở hữu liên kết khơng hình thành pháp nhân

Trong hình thức này, khơng tồn tại một pháp nhân có cơ cấu tổ chức ổn

định do công ty mẹ nắm giữ vốn hoặc cổ phần chi phối mà chỉ đơn thuần là

một dự án trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa các bên. Do đặc tính

ổn định khơng cao cũng như khoảng thời gian tồn tại nhất định của hình thái

sở hữu này, do đó mức độ quản lý của cơng ty mẹ đối với hình thái này chỉ

dựa trên thỏa thuận của các bên về tỷ lệ hợp tác kinh doanh và phân chia lợi

nhuận cũng như trách nhiệm quản lý phụ trách của dự án.

đ. Hình thức sở hữu khơng liên kết

Các nhà đầu tư (bao gồm cả công ty mẹ đã đề cập ở trên) thực hiện các

hạng mục khác nhau trong cùng một dự án và thực hiện phân chia lợi nhuận

theo phần. Các bên tự chịu trách nhiệm theo phần góp vốn của mình và hưởng

lợi trong phạm vi số vốn đã góp. Trong trường hợp này, cơng ty phải lựa chọn

phương pháp quản lý nguồn vốn sở hữu phù hợp để khơng những tránh thất

thốt mà còn tạo ra lợi nhuận cho công ty.



1.2. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY

1.2.1. Khái niệm

“Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một

phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực,

vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định, nó biểu hiện mối quan hệ



9



tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó,

phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó”2.

Như vậy, hiệu quả của bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào cũng đều thể

hiện mối quan hệ giữa “Kết quả sản xuất và chi phí bỏ ra”. Hiệu quả hoạt động

của công ty thường được xem xét trên hai góc độ là hiệu quả kinh doanh và

hiệu quả tài chính. Trong đó, hiệu quả kinh doanh so sánh trên cơ sở đầu ra

(sản phẩm, dịch vụ) với đầu vào (vốn, chi phí, lao động, vật liệu,…) còn hiệu

quả tài chính là hiệu quả gắn với cơ cấu nguồn vốn, chính sách tài trợ (vay bao

nhiêu, nguồn vốn ở đâu) sao cho chi phí sử dụng vốn bình qn là thấp nhất.

Hiệu quả được xem xét giữa mối quan hệ đầu ra là kết quả của doanh

nghiệp (doanh thu, lợi nhuận, giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm…) với đầu vào

là các nguồn lực sử dụng (tài sản, vốn chủ sở hữu, nguồn nhân lực…)3.

Hiệu quả kinh doanh thể hiện quan hệ so sánh giữa kết quả (đầu ra) và

nguồn lực hoặc chi phí (đầu vào) để tạo ra kết quả trong một thời kỳ và được

tính như sau

Hiệu quả



=



Kết quả (Lợi nhuận,doanh thu,…)

Phương tiện (CP,TS,Doanh thu, VCSH,…)



1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty

Để đánh giá hiệu quả hoạt động công ty, việc sử dụng các chỉ tiêu tài

chính là rất cần thiết. Để phân tích hiệu quả kinh doanh của một cơng ty, ta

tiến hành phân tích ở 3 khía cạnh: phân tích hiệu quả sử dụng tài sản, phân

tích tốc độ luân chuyển vốn lưu động, phân tích khả năng sinh lời. Trong đó,

việc phân tích khả năng sinh lời phản ánh hiệu quả tổng hợp của cơng ty. Do

đó để phân tích hiệu quả kinh doanh của một cơng ty, ta sử dụng các chỉ tiêu

phản ánh khả năng sinh lời của công ty: tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu

2



GS.TS. Ngơ Đình Giao (1997), Giáo trình Quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp,



NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, tr.408).

3



GS.TS. Trương Bá Thanh, PGS.TS Trần Đình Khơi Ngun (2001), Giáo trình Phân tích hoạt động



kinh doanh – phần II, NXB Giáo dục.



10



(ROS), tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản

(RE), tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE).

Hiện nay có rất nhiều cách tiếp cận về đánh giá hiệu quả hoạt động của

công ty, phần lớn các nghiên cứu về tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả

hoạt động của công ty như Monsen (1968), Palmer (1973), Thomsen và

Pedersen (1996) đều cho rằng để đánh giá hiệu quả hoạt động nên sử dụng

các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời như ROA, ROE.

Ngoài ra, Stano (1976), Chen, Hexter và Hu (1993), Cho (1998), và

Vishny (1988) cho rằng nên sử dụng chỉ số Tobin’s Q là một chỉ số giá trị thị

trường của tài sản công ty thể hiện đánh giá của thị trường đối với công ty.

Tuy nhiên, một số nghiên cứu của Demsetz và Lehn (1985), McConnell và

Servaes (1990), Denis (1994) cho rằng nên sử dụng tổng hợp các chỉ tiêu

ROA, ROE và Tobin’s Q để đánh giá.

a. Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA)

Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA) được xác định như sau:

Lợi nhuận trước thuế (sau thuế)



x 100%

= biết 100 đồng tài sản bình quân tạo ra

Chỉ tiêuROA

này cho

bao nhiêu đồng

Tổng tài sản bình quân

lợi nhuận trước thuế (sau thuế), chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sử dụng tài

sản càng lớn.

Tỷ suất sinh lời của tài sản có thể được viết lại theo phương trình

Dupont như sau:



ROA =

Hay



Lợi nhuận trước

thuế (sau thuế)

Tổng doanh thu



x



Tổng doanh thu

Tổng TS bình quân



x 100%



suấttrên

lợi nhuận

trên doanh

x Hiệu

suất

tài sản

Các

phương

cho ta thấy

tỷ suấtthu

sinh

lời của

tài sử

sảndụng

có mối

quan

ROA

= Tỷtrình

hệ với tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản. Tuy nhiên

chỉ tiêu ROA chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả kinh doanh vì lợi nhuận còn

chịu tác động bởi chính sách tài trợ.

b. Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)



11



Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) phản ánh hiệu quả tài

chính của cơng ty được xác định như sau:

Lợi nhuận sau thuế

x 100%

=

ROE

Chỉ tiêu ROE cho biết Vốn

100 đồng

hữu bình quân tạo ra bao

chủ sởvốn

hữuchủ

bìnhsởquân

nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, chỉ tiêu càng cao thì khả năng sinh lời của vốn

chủ sở hữu càng lớn.

Phân tích ROE theo mơ hình Dupont như sau:



ROE =

Hay



Lợi nhuận

sau thuế

Doanh thu

Lợi nhuận

thuần

sau thuế



x

x



Doanh thu

thuần

Tổng TS

Doanh

thu

bình quân

thuần



x



Tổng TS

bình quân

Vốn CSH

bình1quân



x 100%



x

x 100%

Doanh thu

Tỷ suất tự

Tổng TS

Tỷ suất lợi nhuận

trên

doanh thu tài trợ

ROE = thuần

bình

quân



ROE =

Hay



Việc khai triểnx Dupont

ROE tài

chosản

ta thấy

mối liên hệ giữa

tỷ suất

x (1-T)/(1-Tỷ

suất nợ)

Hiệu đối

suấtvới

sử dụng

sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) với tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và hiệu

suất sử dụng tài sản. Hay khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) và hiệu

quả hoạt động kinh doanh có mối quan hệ với nhau.

Các tỷ số ROA và ROE là những chỉ báo hiệu quả cho kết quả sản xuất

kinh doanh và phản ánh khả năng lợi nhuận mà công ty đã đạt được trong các

kỳ kế toán đã qua. Hai chỉ tiêu này là cách nhìn về quá khứ hoặc đánh giá khả

năng lợi nhuận ngắn hạn của công ty (Hu và Izumida, 2008).

c. Chỉ số Tobin’s Q (Q)

Đối với các công ty niêm yết, chỉ số Tobin’s Q rất thông dụng như là

công cụ đánh giá tốt về hiệu quả công ty. Chỉ số Tobin’s Q được xem là một

thước đo tương lai về hiệu quả hoạt động của cơng ty vì nó có thể phản ánh

giá trị thị trường của tài sản của một công ty (Dezsõ và Ross, 2015). Q của

Tobin được định nghĩa là tỷ số giữa giá trị thị trường và giá trị thay thế của tài

sản (Brainard và Tobin, 1968; Tobin, 1969; Perfect và Wiles, 1994; Choi và

cộng sự, 2015). Một số nghiên cứu sử dụng giá trị sổ sách của tài sản thay cho



12



giá trị thay thế của tài sản ở mẫu số của công thức tính Tobin’s Q (Villalonga,

2004; Villalonga và Amit, 2006). Các cơng thức tính tốn Tobin’s Q như sau:

Tobin’s Q



=



Tổng giá trị vốn hóa của thị trường + Giá trị sổ sách của nợ

Giá trị sổ sách của tổng tài sản

Tổng giá trị vốn hóa của thị trường + Giá trị sổ sách của nợ



Tobin’s Q =

Giá ánh

trị thay

củatrường

tài sản của cổ phiếu và

Tóm lại, Chỉ số Tobin’s Q phản

giá thế

trị thị

phản ánh đánh giá của thị trường đối với hiệu quả hoạt động của công ty. Hai

chỉ tiêu ROA, ROE phản ánh tổng quan kết quả hoạt động sản xuất kinh

doanh của công ty về hiệu quả kinh doanh (ROA) và hiệu quả tài chính

(ROE). Mặc dù có thể có các cách tính khác nhau, chủ yếu do cách xác định

lợi nhuận trong tính tốn hệ số, sự kết hợp của các tỷ số này có thể đưa ra cho

nhà quản lý, lãnh đạo công ty, cổ đông và thị trường những đánh giá bao quát

về hiệu quả hoạt động trong quá khứ cũng như tiềm năng lợi nhuận và tăng

trưởng trong tương lai của công ty. Hiệu quả hoạt động của các cơng ty có thể

được đánh giá thơng qua các tỷ số trên kết hợp lại đê có cái nhìn bao qt hơn

về hiệu quả hoạt động của cơng ty.

1.3. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.3.1. Sở hữu nhà nước và hiệu quả hoạt động công ty

Capobianco và Christiansen (2014) cho rằng tác động bất lợi của sở hữu

nhà nước cho hoạt động cơng ty là bởi vì sở hữu nhà nước có các mục tiêu

khác nhau so với những người chủ sở hữu khác. Mục tiêu của cổ đông phổ

thông là tối đa hóa giá trị cơng ty. Tuy nhiên, sở hữu nhà nước có thể có

những mục tiêu về xã hội (ví dụ để tăng việc làm) hoặc về chính trị (ví dụ để

ngăn chặn sự xâm nhập của các nhà đầu tư nước ngoài và bảo vệ sản xuất

trong nước). Shleifer (1998) cũng cho rằng sở hữu nhà nước có chi phí đại

diện cao, thường từ quản trị cơng ty yếu kém, và do đó mà sở hữu nhà nước

có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của công ty.



13



Bằng phương pháp hồi quy sử dụng sở hữu nhà nước là một trong nhiều

biến độc lập, bao gồm sở hữu của ngân hàng, các công ty phi tài chính, gia

đình, nhà đầu tư nước ngồi, chính phủ, nhà đầu tư có tổ chức, sử dụng dữ

liệu chuỗi thời gian 6 năm (1990-1995) với 2.610 công ty lớn nhất ở 12 nước

châu Âu, Thomsen và Pedersen’s (2000) cho thấy rằng, quyền sở hữu của

chính phủ có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của công ty (được đo

lường bằng Q-Tobin và ROA). Đồng thời, các tác giả cũng cho thấy rằng nếu

cổ đông lớn nhất trong cơng ty là một gia đình, một cơng ty, hoặc chính phủ

thì tất cả các phần vốn này đều có tác động ngược đối với hiệu quả cơng ty (ví

dụ, vốn chính phủ tăng một đơn vị tương đương với hiệu quả tài chính giảm

một số đơn vị nhất định). Một ý nghĩa thực tế của nghiên cứu này là việc tái

cấu trúc cơ cấu sở hữu các công ty lớn nhất châu Âu là cần thiết nhằm tạo ra

sự phù hợp hơn giữa cấu trúc sở hữu và chiến lược cơng ty tại châu Âu nơi có

tỷ lệ tập trung sở hữu cao.

Ngoài tác động tiêu cực của sở hữu nhà nước bắt nguồn từ các vấn đề đại

diện, sở hữu nhà nước có thể được coi là một yếu tố đáng được cân nhắc

trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty. Firth et al. (2008) nhận

thấy rằng sở hữu nhà nước giúp một công ty huy động vốn dễ dàng từ các

khoản vay ngân hàng. Việc kết nối với nhà nước có thể giúp các cơng ty đối

phó với những u cầu quan liêu và có được sự ủng hộ từ chính phủ. Le và

Buck (2014) đã sử dụng các nhân tố trung gian trong mơ hình phân tích, thu

thập dữ liệu chuỗi thời gian 3 năm đối với hơn 1.000 công ty niêm yết trên thị

trường chứng khoán Trung Quốc và chỉ ra rằng các cơng ty có thể có được

các lợi ích từ quyền sở hữu nhà nước thông qua quản lý giám sát hoặc các cổ

đông cá nhân lớn.

Một số nghiên cứu cho thấy hiệu ứng phi tuyến tính của sở hữu nhà nước

lên hiệu quả hoạt động công ty. Wei và Varela (2003) đã chỉ ra một mối quan



14



hệ hình chữ U giữa sở hữu nhà nước và hiệu quả hoạt động công ty trong các

công ty tư nhân Trung Quốc vào năm 1994, 1995, và 1996. Điều này ngụ ý

rằng các công ty với sở hữu nhà nước đáng kể nhận được lợi ích từ sự hỗ trợ

của nhà nước và liên kết về chính trị và cho rằng một mức độ cao của sở hữu

nhà nước sẽ cải thiện hiệu quả hoạt động vì chính phủ đặt nhiều nỗ lực hơn

vào các cơng ty này.

Tại Việt Nam, có một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa sở hữu nhà

nước và hiệu quả hoạt động công ty như nghiên cứu của Lê Đức Hoàng

(2018) được thực hiện với 101 công ty xây dựng niêm yết trên 2 Sàn Giao

dịch chứng khốn thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Hà Nội (HNX) trong

giai đoạn từ 2008 – 2016. Luận án tiếp cận 2 sở hữu thành phần quan trọng là

sở hữu Nhà nước và sở hữu nước ngoài trong các công ty xây dựng niêm yết

và xét hiệu quả hoạt động theo các tiêu chí là Tobin’s Q, ROA và ROE. Tác

giả sử dụng kiểm định Hausman để kiểm tra dữ liệu thu được sẽ theo mơ hình

nào giữa mơ hình tác động cố định FEM và mơ hình tác động ngẫu nhiên

REM. Thông qua kết quả kiểm định, cho thấy sở hữu Nhà nước có tác động

tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của công ty, trong khi đó sở hữu nước ngồi

có tác động tích cực tới hiệu quả hoạt động của công ty xây dựng niêm yết.

Kết quả kiểm chứng cũng cho thấy sở hữu Nhà nước và sở hữu nước ngồi có

mối quan hệ phi tuyến tính với hiệu quả hoạt động của cơng ty.

Võ Thị Hồng Diễm (2016) cũng có kết quả tương tự về mối quan hệ giữa

cấu trúc sở hữu, quản trị công ty và giá trị doanh nghiệp của các công ty phi

tài chính niêm yết trên HOSE trong giai đoạn 2008-2015, tác giả đã sử dụng

dữ liệu bảng được hồi quy theo ba phương pháp: phương pháp bình phương

nhỏ nhất, phương pháp ảnh hưởng cố định và phương pháp ảnh hưởng ngẫu

nhiên. Kết quả nghiên cứu cho thấy sở hữu Nhà nước tác động ngược chiều

lên hiệu quả hoạt động của công ty trên cả ROA và Tobin’s Q.



15



Đỗ và Wu (2017) đã phân tích dữ liệu của 134 cơng ty phi tài chính niêm

yết trên thị trường chứng khốn Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2009

- 2015 và tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa sở hữu nhà nước và hiệu

quả hoạt động của công ty (được đo lường bằng ROA và ROE ).

Nhìn chung, quan điểm chi phối trong các nghiên cứu là các công ty cổ

phần hoạt động tốt hơn công ty nhà nước và q trình cổ phần hóa cơng ty

nhà nước sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty. Một số kết quả

nghiên cứu tương tự củng cố lập luận trên như Gunasekarage et al. (2007),

Alfaraih et al. (2015), Megginson et al. (1994), Sun et al. (2002) và Le,

Chizema (2014) đều cho thấy một ảnh hưởng tiêu cực của sở hữu nhà nước

lên hiệu quả hoạt động công ty.

1.3.2. Sở hữu nước ngoài và hiệu quả hoạt động công ty

Ongore (2014) đã nghiên cứu ảnh hưởng của các loại hình khác nhau của

quyền sở hữu lên hiệu quả hoạt động công ty đối với 42 công ty niêm yết ở

Kenya và xác nhận rằng trong khi sở hữu nhà nước có tác động tiêu cực đến

hiệu quả hoạt động cơng ty, thì sở hữu nước ngồi lại có tác động tích cực

đáng kể. Ơng cho rằng các nhà đầu tư nước ngoài giúp cải thiện hệ thống

quản lý và cung cấp khả năng truy cập vào các nguồn tài nguyên khổng lồ. Sở

hữu tổ chức nước ngoài mang đến các tài sản công ty đặc thù tiên tiến, là một

giám sát tốt trong một thị trường đang phát triển (Khanna và Palepu, 1999),

có liên hệ tích cực với chuyển giao kiến thức trong các công ty con với số

lượng các nhà quản lý và người lao động nước ngồi cao (Ghahroudi, 2014).

Khơng chỉ tại các thị trường mới nổi mà còn ở các thị trường phát triển, các

cơng ty với thành viên hội đồng quản trị nước ngoài (Anh - Mỹ) có quản trị

cơng ty tốt hơn, có thể nâng cao giá trị công ty.

Koo và Maeng (2006) cũng đã tiến hành một nghiên cứu về các công ty

sản xuất Hàn Quốc từ năm 1992 đến 2002 và khẳng định rằng sở hữu nước



16



ngoài tác động tiêu cực đến độ nhạy của dòng tiền. Điều này ngụ ý rằng sở hữu

nước ngồi có thể giúp cơng ty vượt qua những khó khăn tài chính và tăng tính

dễ tiếp cận với tài chính bên ngồi, do đó tăng đầu tư của mình và có lẽ dẫn đến

hiệu quả hoạt động cao hơn.

Ngoài ra, Kwangwoo Park (2002) cho thấy một mối quan hệ phi tuyến

tính giữa quyền sở hữu nước ngồi và hiệu quả hoạt động cơng ty được đo

lường bằng chỉ tiêu Tobin’s Q từ nghiên cứu 945 công ty được niêm yết trên

Sở Giao dịch chứng khoán Tokyo trong năm 1997. Cụ thể, chỉ tiêu Tobin’s Q

đã tăng cho tới khi tỷ lệ sở hữu nước ngoài đạt đến khoảng 40-45% và sau đó

giảm.

Tại Việt Nam, Nghiên cứu của Phạm Hữu Hồng Thái (2016) về mối quan

hệ giữa sở hữu và hiệu quả hoạt động công ty xác định mối quan hệ giữa cấu

trúc sở hữu và giá trị của các công ty niêm yết tại Việt Nam để tìm ra những

nhân tố tác động đến giá trị công ty. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi

quy dữ liệu chéo (OLS) để tiến hành hồi quy bội với dữ liệu của 646 cơng ty

trên 2 Sàn chứng khốn tại Việt Nam trong 2 năm 2014 và 2015. Kết quả cho

thấy sở hữu Nhà nước dường như không tác động đến giá trị cơng ty, trong

khi đó, sở hữu tư nhân và sở hữu nước ngồi có tác động tích cực đến giá trị

cơng ty ở mức ý nghĩa 5%.

Bằng một phương pháp khác là phương pháp GMM, Anil V. Mishra và

Duc Nam Phung (2018) kiểm tra mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả

hoạt động của công ty bằng phương pháp GMM, đối với các cơng ty niêm yết

trên sàn giao dịch chứng khốn Việt Nam, sử dụng 2.744 quan sát trong giai

đoạn từ 2007 đến 2015 cũng cho kết quả tương tự.

Mới đây nhất là bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Huệ, Đặng Tùng

Lâm (2017) nghiên cứu mối quan hệ giữa các nhân tố gồm cấu trúc sở hữu, đòn

bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động với bộ dữ liệu toàn bộ các công ty niêm yết



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×