Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Tính bất ổn của lạm phát

2 Tính bất ổn của lạm phát

Tải bản đầy đủ - 0trang

8



tương lai. Loại thứ hai của các ảnh hưởng diễn ra sau khi các quyết định đã được thực

hiện.

Các ảnh hưởng trước khi ra quyết định đề cập đến tình hình mà chủ thể đưa ra các

quyết định kinh tế khác với quyết định của họ trong trường hợp không có sự khơng

chắc chắn về lạm phát. Có ba kênh chính, thơng qua đó các tác động truyền dẫn vào

nền kinh tế. Thứ nhất, sự không chắc chắn về lạm phát làm cho lãi suất dài hạn tăng lên

trên thị trường tài chính. Trên thực tế, một yếu tố quyết định quan trọng của lãi suất dài

hạn là tỷ suất sinh lợi yêu cầu của các nhà đầu tư. Nếu lạm phát là không chắc chắn, lãi

suất danh nghĩa của các khoản nợ dài hạn sẽ rủi ro hơn. Kết quả là các nhà đầu tư sẽ

đưa ra tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cao hơn, hàm ý mức lãi suất dài hạn cao hơn. Cuối

cùng, lãi suất cao hơn sẽ hàm ý các nhà sản xuất đầu tư vào nhà máy và thiết bị ít hơn

người tiêu dùng đầu tư vào nhà ở và hàng hoá lâu bền khác. Thứ hai, sự không chắc

chắn về lạm phát làm cho các biến số kinh tế khác có ý nghĩa quan trọng đối với các

quyết định của doanh nghiệp trở nên không chắc chắn, cản trở khả năng của người tiêu

dùng và doanh nghiệp để đưa ra quyết định tối ưu và có thể làm giảm hiệu quả kinh tế.

Ví dụ khi các khoản thanh toán đến hạn trong hợp đồng không đề cập đến yếu tố lạm

phát, sự không chắc chắn về lạm phát làm cho giá trị thực của các khoản thanh tốn

trong tương lai khơng được xác định. Cuối cùng, sự không chắc chắn về lạm phát khiến

cho các doanh nghiệp chi tiêu các nguồn lực để tránh nguy cơ lạm phát trong tương lai.

Ví dụ, khi sự không chắc chắn về lạm phát trong tương lai là cao, các doanh nghiệp có

thể dành nhiều nguồn lực để đưa ra dự báo lạm phát chính xác hơn. Hơn nữa, một số

doanh nghiệp có thể cố gắng phòng ngừa lạm phát bất ngờ bằng cách sử dụng các công

cụ tài chính phái sinh.

Các phản ứng sau khi xảy ra lạm phát trong thực tế khác với lạm phát dự kiến. Do

đó, biến động lạm phát gây ra sự chuyển đổi của cải giữa các bên khác nhau khi họ sử

dụng đồng tiền danh nghĩa để thanh toán các khoản thanh toán trong hợp đồng. Đặc

biệt, nếu lạm phát tăng cao hơn mức dự đoán, các khoản thanh toán theo hợp đồng sẽ

thấp hơn dự kiến theo giá trị thực của chúng. Do đó, một bên phải chịu tổn thất do lạm

phát.



9



Tất cả những lập luận này chỉ ra rằng sự khơng chắc chắn về lạm phát trong

tương lai có thể gây ra những hậu quả kinh tế bất lợi. Mặc dù sự không chắc chắn

không thể được loại bỏ hồn tồn, có thể trường hợp việc thơng qua một chính sách cụ

thể có thể giảm thiểu sự khơng chắc chắn của lạm phát và giảm thiểu các chi phí do nó

gây ra. Đặc biệt, vì một số mơ hình lý thuyết dự đốn rằng sự khơng chắc chắn về lạm

phát sẽ tăng theo mức độ lạm phát, theo đuổi một chính sách ổn định mức giá có thể

giảm thiểu chi phí của sự khơng chắc chắn về lạm phát.

Friedman (1977) đề xuất một khung lý thuyết cho mối quan hệ giữa lạm phát và

sự không chắc chắn của lạm phát. Ông đưa ra hai tác động thực sự của lạm phát. Trong

phần thứ nhất, khi lạm phát tăng, sẽ có áp lực chính trị từ phía cơng chúng và các cử tri

buộc các nhà hoạch định chính sách phải giảm lạm phát. Tuy nhiên, các nhà hoạch

định chính sách có thể khơng thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng để giảm lạm phát vì

sợ các tác động suy thối. Do đó, chính sách tiền tệ trong tương lai là khơng thể đốn

trước được, dẫn đến sự khơng chắc chắn về lạm phát tăng lên trong tương lai. Trong

phần thứ hai, Friedman lập luận rằng sự bất ổn về lạm phát ngày càng tăng ảnh hưởng

tiêu cực đến sự tăng trưởng kinh tế của đất nước.

2.2.3 Cách đo tính biến động của lạm phát

Mặc dù có thể có một số cách để ước tính sự biến động của lạm. Tuy nhiên, phổ

biến nhất là ước tính biến động lạm phát bằng cách áp dụng phương pháp

ARCH/GARCH đề xuất bởi Engle (1983), Bollerslev (1986). Dựa trên phương pháp

ước lượng GARCH của Bollerslev (1986), một số nghiên cứu mô phỏng sự biến động

của lạm phát thông qua chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chẳng hạn như Brunner và Hess

(1993) áp dụng tại Mỹ, Joyce (1995) và Kontonikas (2004) cho Vương quốc Anh,

Della Mea và Perna (1996) cho Uruguay…. Tất cả những nghiên cứu này đều mơ hình

hố biến động lạm phát thơng qua mơ hình GARCH.

Fountas và Karanasos (2007) và Bordes và Maveyraud (2008) đo sự biến động

của lạm phát bằng cách sử dụng GJR-GARCH (TGARCH) của Glosten, Jagannathan,

và Runkle (1993) và Zakoian (1994) và mơ hình GARCH mũ (EGARCH) của Nelson

(1991).



10



Hầu hết các nghiên cứu sử dụng mơ hình chuẩn GARCH (1,1) để ước tính độ

biến động của lạm phát. Tuy nhiên, mơ hình này làm hạn chế các giả định về hành vi

của sự không chắc chắn về lạm phát không tương xứng với quan niệm không chắc chắn

của Friedman. Những vấn đề sau đây được đưa ra là khả năng liên kết này có thể phụ

thuộc vào mức độ lạm phát, chính sách tiền tệ và phát triển kinh tế, tất cả đều khác

nhau giữa các nước và theo thời gian.

2.3 Phân bổ nguồn cho vay của ngân hàng và những ảnh hưởng từ bất ổn vĩ mô:

Mô hình của Baum, Caglayan và Ozkan

Beaudry và cộng sự (2001), Baum và cộng sự (2005) đã đề xuất một mô hình để

mơ tả cách thiết lập danh mục đầu tư tối ưu. Trong nghiên cứu của họ, các nhà quản lý

ngân hàng hoạt động trong một môi trường rủi ro và trong từng thời kỳ có thể đầu tư

tiền gửi vào hai tài sản khác nhau: cho vay và đầu tư trái phiếu. Việc đầu tư vào trái

phiếu là giả định đơn giản cho sự đầu tư khơng có rủi ro phá sản, nhưng nó mang rủi ro

thị trường vì giá trị của chứng khốn có thể thay đổi do điều kiện thị trường thay đổi.

Tuy nhiên, rủi ro này có thể dự đốn được và quan trọng hơn nó có thể được quản lý và

phòng ngừa. Tỷ suất sinh lợi của khoản đầu tư này bằng với lãi suất phi rủi ro (rf).

Mặt khác, các khoản cho vay đối với khách hàng bao gồm hai loại rủi ro khác

nhau: rủi ro thị trường và rủi ro vỡ nợ. Rủi ro vỡ nợ là kết quả của một kết hợp xác suất

khách hàng không trả được nợ trong tương lai và các yếu tố hệ thống, tương quan tình

trạng của nền kinh tế. Trên thực tế, trong những thời điểm kinh tế vĩ mô đi xuống, rủi

ro của danh mục đầu tư ngân hàng càng có xu hướng gia tăng.

Đối với ngân hàng i vào thời điểm t, việc đầu tư vào các khoản cho vay rủi ro

mang lại lãi suất (ri) bằng lãi suất phi rủi ro cộng với phần bù rủi ro (rpi), bằng với tất

cả các khoản cho vay, giả định là đồng nhất và không phụ thuộc vào rủi ro của người

vay nhất định:

ri = rf + rpi

Giá trị kỳ vọng và phương sai của phần bù rủi ro lần lượt là (

Var(rpi) =



(1)

)=



và Var(rpi) =



. Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của khoản vay có thể được viết lại là:

ri = rf +



+



(2)



11



trong đó



là một thành phần ngẫu nhiên có phân phối chuẩn N (0,



). Baum và cộng



sự cũng giả định rằng mỗi ngân hàng có một danh mục đầu tư cụ thể với cấu trúc rủi ro

khác nhau và do đó các thành phần ngẫu nhiên của tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng

không tương quan với nhau







= 0.



Trong khuôn khổ này, các nhà quản lý ngân hàng giải quyết vấn đề tối ưu hóa danh

mục đầu tư. Họ cân bằng lại thành phần của tài sản để có được sự kết hợp tối ưu giữa

rủi ro và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng. Theo nguyên tắc tối đa hoá hữu dụng, họ phải chọn

cổ phần



và (1 -



) tài sản tương ứng để đầu tư vào các khoản vay và trái phiếu. Tuy



nhiên, trước khi ra quyết định, các ngân hàng không quan tâm đến phần bù rủi ro thực

tế cũng như yếu tố ngẫu nhiên



, họ chỉ quan tâm đến tín hiệu nhiễu của chúng:

=



trong đó



+



(3)



là một biến ngẫu nhiên độc lập với



có phân phối chuẩn N (0,



).



Giả định, yếu tố nhiễu ( ) của các tín hiệu ngân hàng nhận được giống hệt nhau, trong

khi các tín hiệu chung còn lại



vẫn khác nhau. Trên thực tế, mặc dù tất cả các ngân



hàng đều có khả năng khơng đối mặt với vấn đề bất cân xứng thông tin, nhưng vẫn tồn

tại các thông tin riêng khác biệt. Về nguyên tắc,



có thể được quan sát và sự khơng



chắc chắn có thể được loại bỏ nếu tất cả các ngân hàng chia sẻ thông tin riêng của họ.

Tuy nhiên, chia sẻ thông tin dường như là điều không thể trên thị trường tín dụng cạnh

tranh.

Yếu tố nhiễu



có thể được hiểu là mức độ không chắc chắn về các điều kiện



kinh tế vĩ mơ trong tương lai. Tác động của nó lên các ngân hàng là đồng nhất, bất kể

khả năng dự đoán của các nhà quản lý về thành phần ngẫu nhiên



của tỷ suất sinh lợi



khoản cho vay. Khi sự bất định của kinh tế vĩ mơ tăng thì phương sai của



cũng tăng



làm cho các ước tính về tỷ suất sinh lợi của các khoản vay khơng chính xác. Giả thiết

về sự độc lập giữa



và bây giờ rõ ràng hơn, thực tế là cú sốc kinh tế vĩ mô tổng thể



không tương quan với thành phần của tỷ suất sinh lợi từ khoản cho vay.

Để xác định tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của khoản vay, các nhà quản lý ngân hàng

phải dự đốn giá trị của



. Khi khơng có tín hiệu nhiễu, dự báo của ngân hàng (khơng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Tính bất ổn của lạm phát

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×