Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

33



nhất. Ở đây, chúng ta thấy rằng sự biến động của lạm phát có ảnh hưởng ngược chiều

và đáng kể (ở mức 1%) đối với sự phân tán chéo của tỷ lệ cho vay trên tài sản. Trong

cột 2, biến lạm phát (Inflation) sẽ đưa thêm vào mơ hình, trong cột 3 chúng ta thêm tốc

độ tăng trưởng GDP (∆GDP). Trong cả hai cột, hệ số liên quan đến sự biến động của

lạm phát vẫn là âm và có ý nghĩa rất lớn (ở mức 1%).

Trong hai cột này và những cột phía sau, việc đưa thêm vào lần lượt các biến

kiểm sốt khơng làm ảnh hưởng đến kỳ vọng dấu và ý nghĩa của các tác động biến

động đối với sự phân tán tỷ lệ nợ ròng trên tài sản.

Tiếp theo, trong cột 4, tiếp tục đưa vào biến giả giai đoạn khủng hoảng tài chính

(dumFC) để kiểm tra xem sự phân tán trung bình của tỷ lệ cho vay trên tài sản có thay

đổi sau cuộc khủng hoảng tài chính hay khơng? Trong trường hợp này, hệ số liên quan

đến biến giả (dumFC) khơng có ý nghĩa. Nói cách khác, mơ hình khơng giải thích cho

sự thay đổi tỷ lệ nợ ròng trên tài sản sau cuộc khủng hoảng tài chính.

Trong tất cả các mơ hình, đúng như kỳ vọng, sự biến động của lạm phát có tác

động ngược chiều tương đối mạnh lên sự phân tán các khoản cho vay. Điều này cho

thấy rằng, khi sự biến động của lạm phát thấp, cơ chế giá sẽ được vận hành. Trong

những trường hợp như vậy, các nhà quản lý ngân hàng có thể xếp hạng các dự án liên

quan đến nhau và phân bổ quỹ khan hiếm để sử dụng tốt nhất. Tuy nhiên, nếu sự biến

động của lạm phát cao, do tín hiệu nhiễu cao nên khơng thể sử dụng cơ chế giá để khai

thác thông tin về tính xác đáng của dự án. Do đó, các ngân hàng trở nên thận trọng

trong hoạt động cho vay của họ và hành xử tương tự nhau.

4.2 Kết quả hồi quy bằng FEM

Bảng 4.2: Kết quả hồi quy bằng phương pháp

Với các ký hiệu *,**, và *** lần lượt đại diện cho các mức ý nghĩa 10%, 5%, và 1%

Độ lệch chuẩn được đặt trong dấu ngoặc đơn.

h

Inflation



(1)

-0.06059***

(0.0054787)



(2)

-0.06044***

(0.0049681)

-0.0000672



(3)

-0.060239***

(0.0055117)

-0.000054



(4)

-0.058894***

(0.0055602)

0.0000377



34

(1)



(2)

(0.0003462)



(3)

(0.0003461)

0.0000714

(0.0004133)



(4)

(0.0003228)

0.000231

(0.0004439)

0.0045524

(.0058353)



Yes

0.0244544***

(0.0017259)

301

0.0103



Yes

0.0240457***

(0.0029553)

300

0.0105



Yes

0.0206415***

(0.0046542)

300

0.0271



GPD

dumFC

dumFC*h

VolStock

VolOil

BankRisk

BankReturn

i.year

Country

Cons

N

R2



Yes

0.0241827***

(0.0000572)

302

0.0097



Bảng 4.3: Kết quả hồi quy bằng mơ hình tác động cố định (tiếp theo)

Với các ký hiệu *,**, và *** lần lượt đại diện cho các mức ý nghĩa 10%, 5%, và 1%

Độ lệch chuẩn được đặt trong dấu ngoặc đơn.

h

Inflation

GPD

dumFC

dumFC*h



(5)

-0.060989***

(0.0067725)

0.000027

(0.000327)

0.000216

(0.0004478)

0.0045772

(0.0058423)

-1.492143*

(0.753907)



(6)

-0.0498014***

(0.0169603)

0.0004624

(0.0002927)

0.000907

(0.0005586)

0.0255389**

(0.0100966)

-0.6416474

(1.06116)



VolStock

VolOil

BankRisk

BankReturn

i.year

Country

Cons

N

R2



Yes

0.0209408***

(0.0047319)

300

0.0279



Yes

Yes

-0.0073155

(0.010778)

300

0.2102



(7)

-0.0297922 **

(.0088954)

-0.0007096

(0.000493)

0.0007843

(0.0005574)

0.0046698

(0.0063967)

-6.482703***

(1.45145)

-4.60e-06

(3.36e-06)

0.0004829 **

(0.0002276)



(8)

-0.0316513 *

(0.0172095)

0.0002854

(.0005019)

0.0013898**

(0.0006262)

-0.0023782

(0.0366895)

-4.580407**

(1.936095)

-3.67e-06

(3.16e-06)

0.0073438

(0.0081506)



-8.51e-07***

(1.39e-07)



-7.39e-07**

(3.03e-07)

Yes

Yes

-0.0308999

(0.0210493)

253

0.2404



Yes

0.0176588 ***

(0.0058386)

253

0.0822



35



Bảng 4.2 trình bày kết quả hồi quy đầu khi dựa trên mơ hình hiệu ứng cố định.

Biến phụ thuộc là sự phân tán tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản. Cột 1 mô tả mô hình giản

đơn nhất khi biến động lạm phát là biến giải thích duy nhất. Ở đây, chúng ta thấy rằng

sự biến động của lạm phát có ảnh hưởng ngược chiều và đáng kể (ở mức 1%) đối với

sự phân tán chéo của tỷ lệ cho vay trên tài sản. Trong cột 2, biến lạm phát (Inflation) sẽ

đưa thêm vào mô hình, trong cột 3 chúng ta thêm tốc độ tăng trưởng GDP (∆GDP).

Trong cả hai cột, hệ số liên quan đến sự biến động của lạm phát vẫn là âm và có ý

nghĩa rất lớn (ở mức 1%).

Trong hai cột này và những cột phía sau, việc đưa thêm vào lần lượt các biến

kiểm sốt khơng làm ảnh hưởng đến kỳ vọng dấu và ý nghĩa của các tác động biến

động đối với sự phân tán tỷ lệ nợ ròng trên tài sản.

Tiếp theo, trong cột 4, tiếp tục đưa vào biến giả giai đoạn khủng hoảng tài chính

(dumFC) để kiểm tra xem sự phân tán trung bình của tỷ lệ cho vay trên tài sản có thay

đổi sau cuộc khủng hoảng tài chính hay khơng? Trong cột 5, mơ hình cho phép một sự

tương tác giữa sự biến động của lạm phát và biến giả khủng hồng tài chính (dumFC *

h) để kiểm tra xem mức độ tác động của sự biến động về sự thay đổi về tỷ lệ phân tán

tỷ lệ cho vay trên tài sản có thay đổi sau cuộc khủng hoảng tài chính. Trong trường hợp

này, hệ số liên quan đến biến giả (dumFC) không có ý nghĩa. Nói cách khác, mơ hình

của khơng giải thích cho sự thay đổi tỷ lệ nợ ròng trên tài sản sau cuộc khủng hoảng tài

chính. Tuy nhiên trong cột 5 hệ số liên quan đến biến tương tác (dumFC * h) lại có dấu

âm ở mức ý nghĩa 10%, điều này hàm ý rằng sau cuộc khủng hoảng tài chính, tác động

ngược chiều của sự biến động về phân bổ nguồn lực ngân hàng đã tăng lên.

Trong cột 6, chúng ta thêm biến giả năm, có thể thấy vẫn tồn tài mối tương quan

âm giữa biến động lạm phát và phân tán tỷ lệ cho vay trên tài sản, hơn nữa hệ số liên

quan đến biến giả (dumFC) lại dương và có ý nghĩa ở mức 5%, cho thấy sau cuộc

khủng hoảng tài chính các khoản tiền đã được bơm vào các thị trường tài chính.

Trong cột 7, biến giả năm được loại bỏ và đưa thêm vào mơ hình biến thị trường



36



chứng khốn (VolStock), biến biến động giá dầu (VolOil) và biến kiểm sốt lợi nhuận trung

bình của các ngân hàng, biến tương tác (dumFC * h) vẫn có tương quan âm và có ý

nghĩa rất lớn ở mức 1%, biến lợi nhuận ngân hàng (BankReturn) có tương quan âm ở mức

ý nghĩa 1% cho thấy sự ứng xử các nhà quản lý đều tăng cho vay nên độ phân tán giảm

xuống.

Trong cột 8, biến giả năm và tất cả các biến kiểm soát được đưa vào mơ hình.

Chúng ta thấy rằng tác động của tăng trưởng GDP là dương nhưng chỉ có ý nghĩa ở

mức 10% cho thấy các ngân hàng có thể mở rộng tín dụng, nhưng chỉ một số ngân

hàng nhất định do tốc độ tăng trưởng GDP thay đổi theo thời gian. Biến tương tác

(dumFC * h) và lợi nhuận ngân hàng (BankReturn) vẫn có tương quan âm và ở mức ý

nghĩa 5%.

Nhìn chung, kết quả từ các cột 1 đến cột 8 đều cho thấy sự biến động của lạm

phát có tác động ngược chiều tương đối mạnh lên sự phân tán các khoản cho vay theo

kỳ vọng của bài nghiên cứu. Điều này càng nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc ổn

định lạm phát trong vận hành cơ chế giá. Khi lạm phát biến động quá mức, hệ thống

giá cả bị nhiễu quá mức, các nhà quản lý ngân hàng sẽ hành động thận trọng hơn trong

việc phát hành các khoản vay mới vì họ khơng thể đánh giá chính xác mức tỷ suất sinh

lợi mong đợi từ khoản cho vay. Ngược lại, chất lượng thông tin tốt hơn sẽ dẫn đến sự

phân bổ các khoản vay không đồng đều giữa các ngân hàng vì các nhà quản lý khác

nhau có thể tận dụng dự đốn chính xác hơn của mình về các cơ hội cho vay khác

nhau.

4.3 Kết quả hồi quy bằng mơ hình IV – GMM

Bảng 4.4: Kết quả hồi quy bằng mơ hình IV-GMM

Với các ký hiệu *,**, và *** lần lượt đại diện cho các mức ý nghĩa 10%, 5%, và 1%

Độ lệch chuẩn được đặt trong dấu ngoặc đơn.

h

Inflation

GPD



(1)

-5.516257***

(3.294432)

0.0003941

(0.0005399)

0.0005603



(2)

-8.573269

(5.533571)

0.0005409

(0.0006677)

0.001416



(3)

-19.0303

(0.0055117)

0.0046638

(0.0034541)

0.0008301



(4)

-16.54046

(10.43489)

0.0037773

(0.0032216)

0.0001759



37



dumFC

dumFC*h



(1)

(0.0006295)

-0.0309894***

(0.0132321)

5.468333*

(3.293068)



(2)

(0.0011114)

-0.0408552

(0.0268494)

8.527576

(5.532476)



Yes

0.0464102 ***

(0.0102454)

262

0.2840

0.2069



Yes

Yes

0.0414541 ***

(0.0249242)

262

0.4535

0.2889



VolStock

VolOil

BankRisk

BankReturn

i.year

Country

Cons

N

R2

Hansen j test (pvalue)



(3)

(0.0011979)

-0.082466*

(0.0460172)

18.97098

(11.64138)

-2.80e-06

(9.28e-06)

0.0027922

(0.0019003)

-0.0819036

(0.1668577)

0.4484042

(0.3005222)

Yes

0.0560871*

(0.0288955)

227

0.0105



(4)

(0.0014705)

-0.0521919

(0.0586776)

16.4781

(10.42308)

-5.45e-06

(9.33e-06)

0.018552

(0.0138656)

-0.0298854

(0.157818)

0.4381429

(0.3197986)

Yes

Yes

0.0206415***

(0.0046542)

227

0.3587



Kết quả nghiên cứu tiếp tục được trình bày bằng phương pháp ước lượng IVGMM để khắc phục hiện tượng nội sinh. Bảng 4.4 trình bày kết quả IV-GMM cho các

mơ hình rộng nhất. Cột 1, 2 đưa thêm vào bốn biến kiểm soát lạm phát, tốc độ tăng

trưởng GDP, biến giả giai đoạn khủng hoảng tài chính và biến tương tác cũng như các

biến giả hàng năm. Cột 3, 4 cho kết quả với mơ hình đầy đủ nhất với thêm bốn biến

kiểm soát biến động thị trường chứng khoán, biến động giá dầu, rủi ro và lợi nhuận

ngành ngân hàng. Kết quả cho thấy có mối tương quan âm với mức ý nghĩa rất lớn 1%

giữa biến động lạm phát và độ phân tán tỷ lệ cho vay trên tài sản, tuy nhiên chỉ ở cột 1.

Biến giả khủng hoảng tài chính (dumFC) mang dấu âm ở cột 1 và cột 3 với mức ý

nghĩa lần lượt là 1% và 10%, điều này cho thấy các ngân hàng hạn chế cung cấp các

khoản vay trong giai đoạn khủng hoảng mặc dù các nỗ lực của NHTW và Chính phủ.

Kết quả cũng chỉ ra rằng lạm phát, tốc độ tăng trưởng GDP, biến động thị trường

chứng khoán và giá dầu cũng khơng có tác động rõ ràng, khơng có vai trò quan trọng

trong việc giải thích sự phân tán tỷ lệ cho vay / tổng tài sản.

Kết hợp với các nghiên cứu thực nghiệm đã được trình bày trước đây, chúng ta



38



thấy rằng các khoản cho vay của ngân hàng có xu hướng giảm sau cú sốc về tài chính

và tiền tệ, gây khó khăn cho các khách hàng vay phụ thuộc vào ngân hàng khi dựa vào

nguồn tài trợ bên ngồi. Hơn nữa, chu kỳ vay nợ có thể cản trở phân bổ nguồn lực hiệu

quả. Ví dụ, trong giai đoạn tăng trưởng của chu kỳ, kết quả từ việc hạ thấp tiêu chuẩn

cho vay ngân hàng, do cạnh tranh ngày càng gia tăng và việc đánh giá thấp rủi ro, các

khoản vay có thể được cấp cho các dự án đầu tư có giá trị hiện tại ròng NPV thấp hoặc

thậm chí âm. Ngược lại, trong giai đoạn suy thối kinh tế, ngay cả những khoản đầu tư

có giá trị hiện tại ròng dương cũng có thể bị từ chối do phần bù rủi ro gia tăng, điều

này phản ánh sự e dè rủi ro gia tăng của các ngân hàng trong khoảng thời gian này.

Việc thay đổi các ưu tiên rủi ro của ngân hàng trong chu kỳ kinh doanh cũng có thể dẫn

đến những thay đổi trong hành vi cho vay của các ngân hàng. Ví dụ, các ngân hàng

được kỳ vọng sẽ cho vay nhiều hơn trong giai đoạn đi lên của chu kỳ hơn giai đoạn đi

xuống, bởi vì nói chung, các nhà cho vay ít bị ảnh hưởng bởi các vấn đề bất cân xứng

thông tin trong thời kỳ mở rộng nền kinh tế. Ngồi ra, do theo dõi chi phí thay đổi theo

chu kỳ kinh doanh, điều này có thể ảnh hưởng đến sự biến động của tín dụng ngân

hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy các khoản vay ngân hàng sẽ không được phân bổ

cho mục đích sử dụng tốt nhất trong thời kỳ biến động lạm phát cao. Do dữ liệu được

thu thập từ bộ số liệu tổng hợp, bài nghiên cứu cũng thể hiện rõ tầm quan trọng của sự

ổn định về giá trong việc phân bổ hiệu quả các khoản vay ngân hàng ở cả các nền kinh

tế mới nổi và các nước phát triển.



39



CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN

5.1 Kết luận

Bài nghiên cứu xem xét những ảnh hưởng của sự biến động của lạm phát đối với

việc phân bổ hiệu quả nguồn lực khan hiếm của các ngân hàng. Để tiến hành kiểm tra

mối liên hệ này, bài nghiên cứu sử dụng một bảng dữ liệu ngân hàng xuyên quốc gia

được xây dựng cho 19 quốc gia khu vực Châu Á bao gồm Bangladesh, Trung Quốc,

Hongkong, Ấn Độ, Indonesia, Israel, Jordan, Kazakhstan, Kuwait, Lào, Malaysia,

Paskita, Philippin, Singapore, Hàn Quốc, SriLanka, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam

trong giai đoạn 1988-2016.

Kết quả hồi quy cung cấp bằng chứng cho thấy sự bất ổn lạm phát có ảnh hưởng

ngược chiều đến sự phân tán tỷ lệ cho vay trên tài sản. Điều này cho thấy các nhà quản

lý ngân hàng (i) có thể dễ dàng cho vay nhiều hơn khi biến động lạm phát thấp, vì họ

có thể dự đoán được tỷ suất sinh lợi từ mỗi dự án thành công; (ii) phản ứng tương tự

trong thời kỳ biến động lạm phát cao. Hành động này ngụ ý rằng, khi sự biến động của

lạm phát cao, nguồn vốn ngân hàng khan hiếm sẽ không được phân bổ hiệu quả. Trong

thời kỳ sau khủng hoảng tài chính, việc phân bổ các khoản vay của các nước càng phụ

thuộc vào độ biến động lạm phát, phân bổ tỏ ra càng hiệu quả hơn khi lạm phát ổn định

và ngược lại.

Các kết quả trình bày trong bài nghiên cứu cung cấp bằng chứng cho thấy sự

không chắc chắn, biến động lạm phát bóp méo sự phân bổ nguồn lực hiệu quả của các

ngân hàng. Những phát hiện này rất quan trọng vì các ngân hàng thương mại được coi

là nguồn tín dụng trung gian quan trọng, sự phân bổ khơng hiệu quả các khoản vốn vay

có thể sẽ ảnh hưởng lớn đến người đi vay phụ thuộc vào ngân hàng. Kết quả này càng

nhấn mạnh vai trò trong việc ổn định giá cả để tăng trưởng kinh tế.

5.2 Một số kiến nghị để tối đa hoá nguồn lực của ngân hàng

 Vai trò của Ngân hàng nhà nước trong việc ổn định và duy trì lạm phát ở mức thấp.

Đầu tiên, Chính phủ và NHTW phải tập trung kiểm sốt lạm phát, xem đây là một

trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Các chính sách phải minh bạch, được cơng bố

và thực hiện nhanh chóng bất cứ khi nào có nguy cơ lạm phát. Các cơ quan chức năng



40



phải giám sát quá trình thực hiện, đảm bảo rằng các chính sách có hiệu quả nhanh,

mạnh, ổn định và có thể dự đoán được. Những phản ứng nhanh và giám sát chặt chẽ sẽ

củng cố niềm tin của các nhà đầu tư và cơng chúng; do đó sự khơng chắc chắn về lạm

phát có thể giảm đi cả trong ngắn và dài hạn.

Thứ hai, chính phủ và NHTW phải giảm thiểu bất cân xứng thơng tin để cơng

chúng có thơng tin về nguyên nhân, tình trạng, các giải pháp và dự báo lạm phát. Cụ

thể, thông tin về giá cả lương thực, nhiên liệu, tỷ giá, chính sách lãi suất, mục tiêu tăng

trưởng tín dụng, dự báo giá nhập khẩu, giá xuất khẩu cần thiết ... cần được giải thích và

phổ biến rộng rãi hơn thơng qua các hình thức phương tiện truyền thông. Những hành

động này giúp truyền đạt chính sách, kìm hãm lạm phát. Minh bạch thơng tin sẽ góp

phần làm giảm sự khơng chắc chắn về lạm phát.

Thứ ba, cơ quan chính chịu trách nhiệm về chống lạm phát, NHTW phải tăng

cường xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ hiệu quả hơn. Hiện tại, NHTW tại một

số quốc gia có nhiều khiếm khuyết như tính tự chủ yếu. Những hạn chế này do yếu tố

chính trị cũng như cơng cụ kỹ thuật. Về khía cạnh chính trị, thống đốc khơng có đầy đủ

quyền tự chủ để thực hiện các biện pháp tiền tệ nhằm đạt được mục tiêu lạm phát. Do

đó, NHTW phải được cơ cấu lại, về mặt tổ chức, hoạt động để tăng tính độc lập và thực

hiện tốt chức năng của mình. Điều này sẽ làm tăng tính minh bạch và trách nhiệm của

NHTW, giúp loại bỏ sự không chắc chắn trong tương lai.

6.3 Hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Nhìn chung, bài nghiên cứu đã tìm ra mối tương quan giữa biến động lạm phát và

hiệu quả phân bổ nguồn cho vay của các ngân hàng. Tuy nhiên, câu hỏi đặt liệu rằng

biến động lạm phát có tác động tới từng loại hình cho vay cụ thể hay chỉ có tổng cho

vay bị ảnh hưởng bới tính khơng chắc chắn của lạm phát. Do đó, một số hướng nghiên

cứu có thể được phát triển thêm dựa trên báo cáo chi tiết của ngân hàng. Cụ thể hơn, có

thể kiểm tra hành động phân bổ của các nhà quản lý ngân hàng cho các khoản vay

doanh nghiệp, khoản cho vay cá nhân, hộ gia đình, khoản cho vay bất động sản, cho

vay nông nghiệp… Một vấn đề nữa cần được xem xét thêm là liệu các ngân hàng có

các đặc điểm khác nhau cư xử khác nhau dưới sự khơng chắc chắn của lạm phát? Ví



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×