Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cấu trúc của luận văn

Cấu trúc của luận văn

Tải bản đầy đủ - 0trang

14



Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến phát triển thể chất của sinh

viên

1.1.1. Phát triển thể chất

Có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển thể chất, tuy nhiên các nhà

nghiên cứu về GDTC cho rằng “Phát triển thể chất của con người là quá trình

phát triển biến đổi các tính chất hình thái và chức năng tự nhiên của cơ thể

con người suốt cả cuộc sống cá nhân của nó” [14] [24] [29]. Phát triển thể

chất biểu hiện qua các chỉ số bên ngồi như kích thước trong khơng gian và

trọng lượng cơ thể, còn sự phát triển về chức năng thể hiện sự biến đổi các

khả năng chức phận của cơ thể theo các thời kì và các giai đoạn phát triển

theo lứa tuổi của nó, sự biến đổi này thể hiện qua các tố chất thể lực như: Sức

nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo, mềm dẻo. Sự biến đổi năng lực hoạt

động của hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ thần kinh, tâm lý và ý chí

tuân theo các quy luật tự nhiên, trong các quy luật đó có quy luật tác động lẫn

nhau giữa xu hướng phát triển do yếu tố di truyền chi phối và xu hướng phát

triển dưới tác động của điều kiện sống qui định; quy luật tác động lẫn nhau

của các biến đổi cấu trúc và chức năng; các thời kì theo lứa tuổi phát triển từ

từ và thay thế nhau (các thời kì phát triển nhanh được thay thế bằng các thời

kỳ ổn định tương đối về cấu trúc và chức năng, sau đó đến thời kì biến đổi sút

kém)…

Phát triển thể chất con người còn phụ thuộc vào các điều kiện sống và

hoạt động của con người (điều kiện phân phối và sử dụng sản phẩm vật chất,

giáo dục, lao động, sinh hoạt…) và do đó sự “phát triển thể chất của con

người là do xã hội tác động và tác động ở mức độ quyết định”[5].



15



Tổng hợp quan điểm của nhiều tác giả cho thấy, sự phát triển thể chất

của con người là quá trình biến đổi tổng hợp các yếu tố thể chất và tinh thần,

quá trình này diễn ra trong suốt cuộc đời của một cá thể theo hai giai đoạn cơ

bản là giai đoạn phát triển thuận chiều (dương tính) và phát triển ngược chiều

(âm tính hay giai đoạn suy thối). Phát triển thể chất phụ thuộc vào tổng hoà

các yếu tố tự nhiên và xã hội.

Phát triển thể chất là một quá trình diễn ra liên tục trong suốt cuộc đời

một cá thể. Những biến đổi về hình thái, chức năng và các tố chất vận động là

những yếu tố cơ bản để đánh giá sự phát triển thể chất. Phát triển thể chất là

một quá trình chịu sự tác động tổng hợp các yếu tố tự nhiên - xã hội. Các yếu

tố xã hội đóng vai trò tác động trực tiếp và quyết định sự phát triển thể chất

của cơ thể con người.

Từ những quan điểm trên, rõ ràng, phát triển thể chất chịu ảnh hưởng

của nhiều yếu tố, và có thể ghép chúng vào các nhóm. Nói cách khác, phát

triển thể chất có thể nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như: tự nhiên

(bẩm sinh, di truyền, điều kiện địa lý, khí hậu, thời tiết), xã hội (điều kiện

kinh tế, giáo dục, GDTC, lao động, vệ sinh, sinh hoạt…). Các chỉ tiêu nghiên

cứu dùng trong đánh giá phát triển thể chất cũng đa dạng, như: Các chỉ tiêu về

hình thái (chiều cao, cân nặng, Quetelet,..), các chỉ tiêu về chức năng (cơng

năng tim, dung tích sống, huyết áp…), các chỉ tiêu về tố chất vận động (bật

xa, chạy 30m xuất phát cao, dẻo gập thân, chạy 5 phút…).

Để đánh giá chính xác sự phát triển thể chất của sinh viên cần phải tìm

hiểu và phải thống nhất một số khái niệm có liên quan sau:

1.1.2. Thể chất

Thể chất là chất lượng cơ thể con người. Đó là những đặc trưng về hình

thái và chức năng của cơ thể được thay đổi và phát triển theo từng giai đoạn

và các thời kì kế tiếp nhau theo quy luật sinh học. Thể chất được hình thành



16



và phát triển do bẩm sinh di truyền và những điều kiện sống tác động [24]

[26] [27].

1.1.3. Giáo dục thể chất

GDTC là quá trình giải quyết những nhiệm vụ giáo dục - giáo dưỡng nhất

định mà đặc điểm của q trình này là có tất cả các dấu hiệu chung của quá

trình sư phạm và vai trò chỉ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động tương

ứng với các nguyên tắc sư phạm [14] [26].

1.1.4. Giáo dưỡng thể chất

Về bản chất của giáo dưỡng thể chất là làm sao để học, tách riêng các

cử động ra và so sánh chúng với nhau, điều khiển có ý thức các cử động đó và

thích nghi với các trở ngại đó sao cho khéo léo và kiên trì nhất, nói một cách

khác, rèn luyện để với sức lực ít nhất, trong một khoảng thời gian ngắn nhất

có thể tiến hành có ý thức một hoạt động thể lực lớn nhất, có nghĩa là hình

thành và hồn thiện từ kỹ năng tiến đến kỹ xảo [18].

1.1.5. Hoàn thiện thể chất

Hoàn thiện thể chất là tổng hợp các ý niệm về phát triển thể chất cân

đối ở mức độ hợp lý và về trình độ huấn luyện thể lực toàn diện của con

người [14] [27].

1.1.6. Sức khoẻ

Theo tổ chức Y tế thế giới (World Health Organisation), sức khoẻ được

hiểu là trạng thái hài hoà về thể chất, tinh thần và xã hội, mà khơng chỉ nghĩa

là khơng có bệnh hay thương tật, cho phép mỗi người thích ứng nhanh chóng

với các biến đổi về mơi trường, giữ được lâu khả năng lao động và lao động

có kết quả [40].



17



1.1.7. Sức nhanh

Sức nhanh là một tổ hợp những đặc điểm chức năng của con người xác

định trực tiếp và chủ yếu tính chất nhanh của động tác, cũng như xác định

thời gian của phản ứng vận động [27] [38].

1.1.8. Sức mạnh

Sức mạnh là khả năng của con người chống lại lực cản hoặc khắc phục

một lực cản nào đó nhờ sự nỗ lực cơ bắp” hoặc “ là khả năng sinh lực cực lớn

của cơ bắp để thực hiện các hoạt động khác nhau trong cuộc sống [27].

Sức mạnh là tiền đề cho sự phát triển của các tố chất thể lực khác.

Trong quá trình phát triển sức mạnh, người ta sử dụng các bài tập động lực

trước. Sau đó mới đưa cái “hãm” tĩnh lực vào để nhằm phát triển khả năng tập

trung, nỗ lực.

1.1.9. Sức bền

Sức bền là năng lực thực hiện một hoạt động với cường độ cho trước,

hay là năng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể

có thể chịu đựng được [27]. Sức bền là khả năng cơ thể chống lại mệt mỏi

trong một số hoạt động nào đó, là khả năng duy trì hoạt động khi mệt mỏi

xuất hiện trong thời gian dài.

1.1.10. Khéo léo và khéo léo (năng lực phối hợp vận động)

Là khả năng của con người thực hiện một hoạt động vận động nhất

định, chính xác và có hiệu quả cao phù hợp với yêu cầu của bài tập thể chất

nào đó đề ra. Theo quan điểm tâm lý học, khéo léo là một phức hợp các tiền

đề của vận động viên để thực hiện thắng lợi một hoạt động thể thao nhất định.

Năng lực này được xác định thơng qua các q trình điều khiển và được vận

động viên hình thành, phát triển trong tập luyện. Khéo léo quan hệ chặt chẽ

với phẩm chất tâm lý và các tố chất thể lực của con người, có thể nói “khéo

léo là khả năng của con người trong một hoạt động [27] [37].



18



Khéo léo là khả năng thực hiện những bài tập thể chất có biên độ lớn

đòi hỏi các nhóm cơ, khớp, dây chằng tham gia vào hoạt động có độ đàn hồi

cao đáp ứng được những yêu cầu của bài tập [27] [37].

1.2. Chủ trưởng, chính sách phát triển thể dục thể thao của Đảng và

Nhà nước

TDTT quần chúng là bộ phận cấu thành quan trọng nhất của một nền

TDTT nhà nước. Phát triển TDTT quần chúng là mục tiêu, nhiệm vụ ưu tiên

hàng đầu trong định hướng phát triển sự nghiệp TDTT nhà nước. Bởi chỉ có

chăm lo, xây dựng phong trào thể thao quần chúng tốt mới có thể tạo dựng

được nền tảng và những điều kiện, tiền đề cần thiết để phát triển thể thao

thành tích cao, mở rộng mối quan hệ Quốc tế và qua đó đưa sự nghiệp TDTT

nước nhà tiến nhanh, tiến mạnh, tiếng vững chắc.

Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X nêu rõ: “Đẩy mạnh

hoạt động TDTT, nâng cao thể trạng và tầm vóc người Việt Nam. Phát triển

phong trào TDTT quần chúng với mạng lưới cơ sở rộng khắp”

Nghị quyết còn đặc biệt nhấn mạnh đến mục tiêu phát triển nguồn nhân

lực thực hiện thành cơng sự nghiệp cơng nghiệp hố - hiện đại hóa đất nước.

Yêu cầu mới đối với việc phát triển nguồn nhân lực nước ta trong những năm

tới là nguồn nhân lực đó phải phát triển hài hồ cả về vị trí lẫn thể lực. Vì vậy,

cơng tác TDTT trong những năm tới phải được đẩy mạnh hơn nữa để góp

phần vào việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp cơng nghiệp hố hiện đại hoá đất nước. Nghị quyết của Đảng đã khẳng định: “Xây dựng nền

TDTT có tính dân tộc, khoa học và nhân dân … phát triển rộng rãi phong trào

TDTT quần chúng với khẩu hiệu “Khoẻ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…

Phát huy TDTT là trách nhiệm của các cấp Đảng uỷ, các cấp chính quyền,

các đồn thể nhân dân và tổ chức xã hội là nhiệm vụ của tồn xã hội trong đó

có ngành TDTT giữ vai trò nòng cốt”.



19



Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển TDTT nước nhà, Thủ

tướng Chính Phủ đã có chỉ thị 133/TTG về xây dựng và quy hoạch phát triển

ngành TDTT “Ngành TDTT phải xây dựng định hướng phát triển có tính

chiến lược trong đó quy định rõ các mơn thể thao và các hình thức hoạt động

mang tính phổ cập đối với mọi đối tượng, lứa tuổi tạo thành phong trào tập

luyện rộng rãi của quần chúng” [7].

Chủ trương xã hội hố trong cơng tác TDTT quần chúng và tập trung

phát triển TDTT ở cơ sở là định hướng chủ đạo, phù hợp với thực tiễn phong

trào TDTT ở nước ta hiện nay. Hướng dẫn các môn thể thao mới phát triển,

các hiện tượng mới của TDTT quần chúng ở các địa phương. Trong những

năm qua, trong thành tựu công cuộc đổi mới và đạt được những kết quả nhất

định. Các hình thức tập luyện TDTT quần chúng được đa dạng hố, nhiều mơ

hình khác nhau như câu lạc bộ TDTT gia đình thể thao, cụm văn hố TDTT

… Hoạt động GDTC trong trường đại học tuy còn nhiều hạn chế song cũng

được quan tâm và chú trọng hơn trước. Các hoạt động TDTT quần chúng

trong trường học chủ yếu chỉ phát triển bề nổi qua các đại hội TDTT HS-SV

các khu vực, các giải vơ địch tồn quốc.

Bên cạnh những kết quả nêu trên, trong công tác chỉ đạo và tổ chức

phong trào thể dục cho quần chúng còn nhiều khó khăn, hạn chế đó là:

- Nhiều cấp Đảng uỷ và chính quyền các cấp chưa thật sự xem xét công

tác TDTT nhà nước là mục tiêu của nền TDTT xã hội chủ nghĩa.

- Hoạt động TDTT quần chúng chưa mang tính tự giác cao đặc biệt là

đối tượng thanh thiếu niên, hiệu quả tập luyện chưa cao, chưa trở thành thói

quen nếp sống hàng ngày của mọi người, nhất là vùng sâu vùng xã vùng

miền núi hải đảo…



20



- Cơ sở vật chất kỹ thuật, sân bãi còn quá ít chỉ đáp ứng 30% nhu cầu

tập luyện của mọi người.

1.3. Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC trong

trường học

Các quan điểm của Đảng về phát triển TDTT là những định hướng cơ

bản để xác định vị trí và mối quan hệ của tồn bộ sự nghiệp TDTT đối với

các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội … các mối quan hệ nội tại của TDTT. Vì

vậy đó chính là các cơ sở để lựa chọn, xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải

pháp để xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp TDTT trong một

thời kỳ tương đối dài.

Các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, thứ VII và thứ

VIII, IX, X, XI và XII của Đảng đã xác định những quan điểm cơ bản và chủ

trương lớn để chỉ đạo công tác TDTT trong sự nghiệp đổi mới.

Quan điểm 1: Phát triển TDTT là một yêu cầu khách quan, một mặt

quan trọng của chính sách xã hội, một biện pháp tích cực để giữ gìn và nâng

cao sức khỏe, làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, góp

phần mở rộng giao lưu quốc tế, phục vụ tích cực các nhiệm vụ kinh tế - xã

hội, an ninh và quốc phòng của đất nước.

Quan điểm 2: Phát triển TDTT phải đảm bảo tính dân tộc, tính khoa

học và nhân dân.

Quan điểm 3: Kết hợp Phát triển phong trào TDTT quần chúng với xây

dựng lực lượng vận động viên, nâng cao thành tích các môn thể thao là

phương châm quan trọng đảm bảo cho TDTT phát triển nhanh và đúng

hướng.

Quan điểm 4: Thực hiện xã hội hóa tổ chức, quản lý TDTT, kết hợp

chặt chẽ sự quản lý của nhà nước, của các tổ chức xã hội.



21



Quan điểm 5: Kết hợp phát triển TDTT trong nước với mở rộng các

quan hệ quốc tế về TDTT.

GDTC trong nhà trường là một bộ phận quan trọng trong hệ thống

GDTC quốc dân là cơ sở của phong trào thể dục thể thao quần chúng và thể

thao thành tích cao của đất nước. Mục tiêu đến năm 2025 của ngành TDTT

nước ta là: Phải hoà nhập đua tranh mọi thành tích so với các nước trong khu

vực và châu lục. Từ khi thành lập nước đến nay, Đảng và nhà nước ta rất quan

trọng công tác thể dục thể thao trường học. Quan điểm đó xuất phát từ nền

tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và những chính sách của Đảng và

Nhà nước ta. Đường lối TDTT trong suốt các thời kỳ cách mạng cho đến nay

thể hiện trong lời kêu gọi toàn dân tập thể dục của Hồ Chí Minh, ngày

31/01/1960 Ban Bí thư lại ra chỉ thị 181/CTTW về tăng cường công tác

TDTT, nhấn mạnh cần chú ý phát triển công tác TDTT trong lực lượng vũ

trang và trường học.

TDTT là một bộ phận cấu thành nền văn minh nhân loại. Nhận thức rõ

vai trò, tác dụng của TDTT với sự nghiệp cách mạng, ngay sau khi cách mạng

Tháng Tám thành công, Bác Hồ của chúng ta dù bận trăm cơng nghìn việc

nhưng ngày 27/3/1946 Bác Hồ đã viết “Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục”

[19]. Lời kêu gọi của Bác như ánh dương soi sáng, định hướng cho sự hình

thành và phát triển một nền TDTT mới do Người sáng lập.

Cuộc vận động “Toàn dân RLTT theo gương Bác Hồ vĩ đại” đã trở

thành tư tưởng Hồ Chí Minh về TDTT Việt Nam “TDTT là một công tác

trong những công tác cách mạng khác”. Tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc đặt

các nền tảng xây dựng sự nghiệp TDTT của đất nước ta là: Khẳng định TDTT

là một công tác cách mạng, vừa là nhu cầu, vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ

của quần chúng, một sự nghiệp của toàn dân, do dân và vì dân. Mục tiêu của

TDTT là bảo vệ và tăng cường sức khoẻ của toàn dân, góp phần cải tạo nòi



22



giống Việt Nam, làm cho dân cường, nước thịnh. Tư tưởng tiêu biểu của Bác

về TDTT là: “Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục”, trong đó Bác viết: “…giữ gìn

dân chủ xây dựng nước nhà, gây đời sống mới việc gì cũng cần có sức khoẻ

mới thành công, mỗi người dân yêu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một

phần, mỗi người dân khoẻ mạnh là góp phần làm đất nước khoẻ mạnh. Vậy

nên tập thể dục bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân yêu nước…”

[19].

Để thực hiện tâm nguyện của Bác, trong những năm qua Đảng ta đang

lãnh đạo công tác TDTT bằng việc hoạch định đường lối, quan điểm TDTT,

kiểm tra đôn đốc thực hiện đường lối quan điểm đó. Đường lối quan điểm

được thể hiện qua các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng về TDTT trong suốt thời

kỳ lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và tiến lên Chủ nghĩa xã

hội. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đã nêu: “Để đảm bảo cho

sự nghiệp TDTT nước ta phát triển vững chắc, đem lại những hiệu quả thiết

thực, từng bước xây dựng nền TDTT xã hội chủ nghĩa phát triển cân đối. có

tính dân tộc, khoa học và nhân dân”

Đảng và Nhà nước ta đã đề ra đường lối, chính sách về phát triển thể

dục thể thao thể hiện trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI

của Đảng, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01 tháng 12 năm 2011 của Bộ

Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tăng cường sự lãnh

đạo của Đảng tạo bước phát triển mạnh mẽ về Thể dục thể thao đến 2020

[23], chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020, nhằm

phát triển sự nghiệp thể dục thể thao ở nước ta trong thời kỳ mới, đáp ứng yêu

cầu nâng cao sức khỏe, thể lực của nhân dân, góp phần chuẩn bị nguồn nhân

lực phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để

đường lối, chính sách về TDTT đi vào cuộc sống, một trong những giải pháp



23



mà Bộ VHTTDL lựa chọn là tổ chức vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể

theo gương Bác Hồ vĩ đại” giai đoạn 2012 - 2020.

Cuộc vận động nhằm hướng tới mục đích: Nâng cao nhận thức cho

lãnh đạo các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội và nhân dân hiểu rõ đường

lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về cơng tác thể dục thể thao, qua đó

nhận thức đúng vị trí, vai trò, tác dụng của thể dục thể thao trong việc nâng

cao sức khỏe, thể lực, giáo dục đạo đức, nhân cách, đẩy lùi các tệ nạn xã hội,

đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt

Nam XHCN. Vận động mọi người dân tự chọn cho mình mơn thể thao để tập

luyện và tạo thói quen hoạt động, vận động hợp lý, suốt đời nhằm nâng cao

sức khoẻ vì mục tiêu: “Mỗi một người dân mạnh khỏe, tức là cả nước mạnh

khỏe”, “Dân cường thì nước thịnh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính u hằng

mong muốn. Góp phần nâng cao chất lượng GDTC và thể thao trường học,

bảo đảm yêu cầu phát triển con người toàn diện, xây dựng lối sống lành mạnh

trong thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên. Phát triển mạnh mẽ phong trào thể

dục, thể thao trong lực lượng vũ trang, giúp cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ

trang rèn luyện, nâng cao sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ

trang cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Với mục đích và ý nghĩa đó, ngày 24 tháng 3 năm 2012 Bộ Văn, Thể

thao và Du lịch đã chính thức phát động Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện

thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” giai đoạn 2012-2020 trên phạm vi toàn

quốc với yêu cầu triển khai Cuộc vận động này gắn kết chặt chẽ với việc thực

hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

và phong trào “Tồn dân đồn kết xây dựng đời sống văn hoá” [4].

Để Cuộc vận động đạt được mục đích trên, một số nhiệm vụ đã được

xác định và triển khai:



24



- Tuyên truyền sâu rộng các quan điểm, chủ trương, đường lối của

Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển sự nghiệp thể dục thể thao theo

tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nghị

quyết số 08-NQ/TW ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị, Chiến lược phát triển

thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020 và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí

Minh về cơng tác thể dục thể thao đến các cấp, các ngành, các đoàn thể và

nhân dân.

- Xây dựng, biên soạn tài liệu hướng dẫn các phương pháp tập luyện

thể dục thể thao trên cơ sở đó đẩy mạnh cơng tác tun truyền, phổ biến về

tác dụng của luyện tập thể dục thể thao nhằm động viên, khuyến khích, hướng

dẫn mọi đối tượng quần chúng tham gia tập luyện, thi đấu thể dục thể thao.

- Tổ chức các hình thức tập luyện thể dục thể thao phong phú nhằm tạo

ra phong trào tập luyện và thi đấu thể dục thể thao quần chúng sôi nổi, rộng

khắp ở các cấp, các ngành, đoàn thể và toàn xã hội.

Các cơ quan, tổ chức xây dựng kế hoạch và tổ chức các hoạt động thể

dục thể thao của đơn vị, tạo điều kiện để các thành viên trong đơn vị tham gia

tập luyện thể dục thể thao, phát triển các câu lạc bộ thể dục thể thao.

- Củng cố và phát triển hệ thống thiết chế về thể dục thể thao quần

chúng. Xây dựng mơ hình điểm về cơ sở vật chất và tổ chức hoạt động thể

dục, thể thao tại các thôn, bản và xã.

Các cấp, các ngành triển khai xây dựng quy hoạch phát triển phong

trào thể dục thể thao quần chúng gắn với quy hoạch phát triển chung của

ngành, địa phương; tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân phát triển

các cơ sở tập luyện thể dục thể thao cho cộng đồng, phát triển tài năng thể

thao.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cấu trúc của luận văn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×