Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

7



luyện trong quá trình giảng dạy và học tập. Đề tài đã phỏng vấn 50 chuyên

gia, bao gồm các nhà khoa học, các nhà quản lý, giáo viên, huấn luyện viên

thông qua phương pháp phỏng vấn gián tiếp bằng phiếu hỏi để có thêm cơ sở

thực tiễn và độ tin cậy trong việc lựa chọn các chỉ số điều tra hình thái và

chức năng cơ thể sinh viên trường Đại học Kinh tế Nghệ An.

6.3. Phương pháp quan sát sư phạm

Sử dụng phương pháp này nhằm đánh giá về cơ sở vật chất, các trang

thiết bị đảm bảo cho giờ học GDTC, phong trào tập luyện và thi đấu các mơn

TDTT ngồi giờ học, điều tra các yếu tố về sinh viên học tập môn GDTC

trong nhà trường; về nội dung cũng như số tiết môn học thể dục trong trong

kỳ học; về các chỉ tiêu đánh giá, kiểm tra kinh phí phục vụ cho GDTC và hoạt

động TDTT của nhà trường trong những năm gần đây. Kết quả của phương

pháp này được xem là những cơ sở thực tiễn để đề xuất, lựa trọn các biện

pháp cần thiết.

6.4. Phương pháp kiểm tra y học

Phương pháp kiểm tra y học được sử dụng để đánh giá hình thái và chức năng

của đối tượng nghiên cứu theo phương pháp quan sát dọc

Chiều cao đứng (cm)

Là chiều cao đo được từ mặt phẳng đối tượng đứng đến đỉnh đầu.

Dụng cụ đo: Thước thẳng của Trung Quốc, dài 2m, chính xác đến mm.

Kỹ thuật đo: Người được đo đứng ngay ngắn, hai gót chân chạm vào nhau,

hai tay buông xuôi sát hông, bàn tay úp vào mặt ngoài của đùi, duỗi hết các

khớp, cổ, cột sống, hơng, gối, mắt nhìn thẳng u cầu gờ dưới hốc mắt và ống

tai ngoài cùng nằm trên một mặt phẳng ngang.

Cân nặng (kg)

Dụng cụ kiểm tra: Cân bàn điện tử chính xác đến 0.01kg.



8



Cách thức kiểm tra: Người được kiểm tra mặc quần áo mỏng, chân không

đi giày, dép... Ngồi trên ghế, đặt 2 bàn chân lên bàn cân rồi mới từ từ đứng

thẳng lên. Đơn vị tính là kg với độ chính xác đến 0.01kg.

Chỉ số Quetelet

Để so sánh quan hệ giữa chiều cao với cân nặng của mỗi người.

Quetelet = trọng lượng cơ thể (kg)/chiều cao đứng(dm)

Chỉ số Quetelet cho phép so sánh được trọng lượng tương đối của người có

chiều cao khác nhau. Cách tính như sau:

Quetelet



≥ 3,9 - 5,1



Béo



Quetelet



≥ 3,6 - 3,8



trung bình



Quetelet



≥ 2,9 - 3,5



gầy



Quetelet



< 2,9



rất gầy



Chỉ số công năng tim (HW)

Chỉ số công năng tim dùng để đánh giá khả năng đáp ứng của hệ tuần

hoàn đối một LVĐ nhất định, còn gọi là chỉ số Ruffier Phép thử hệ tim [Error:

Reference source not found].

Dụng cụ kiểm tra: Một đồng hồ bấm giây, một thiết bị đếm nhịp tim (thiết

bị đo nhịp tim Pulse Monitor Pu 711)

Phương pháp tiến hành kiểm tra: Hướng dẫn người được kiểm tra các yêu

cầu cần thiết khi được đo HW. Người được kiểm tra ngồi nghỉ 10 đến 15 phút,

sau đó lấy mạch lúc nghỉ trong 15 giây, lấy 3 lần liền, nếu cả 3 lần có số mạch

trùng nhau thì có mạch lúc nghỉ ký hiệu là P1. Nếu mạch của các lần bắt mạch

đó khơng trùng nhau phải cho ngồi nghỉ 10 phút và lấy lại mạch. Cho người

kiểm tra đứng lên ngồi xuống (ngồi xổm) theo nhịp đếm 30 lần trong 30 giây.

Nếu làm sai 01 nhịp phải ngồi nghỉ và sau 15 phút làm lại. Bắt mạch trong 15

giây ngay sau vận động và ký hiệu là P2. Bắt mạch trong 15 giây ngay sau

vận động 1 phút và ký hiệu là P3. Sau đó kết thúc kiểm tra.



9



Phương pháp tính và đánh giá kết quả : Chỉ số công năng tim được tính

theo cơng thức sau: HW =



( F1 + F 2 + F 3) − 200

10



Trong đó: HW (Heart Work): là chỉ số công năng tim

F1 (Frequence): là mạch đập lúc nghỉ trong một phút: F1= P1 x 4

F2 là mạch đập ngay sau vận động 1 phút:

F3 là mạch đập của phút hồi phục thứ 2:



F2= P2 x 4

F3= P3 x 4



Đánh giá kết quả theo Ruffien như sau:

HW < 1



Rất tốt



HW ≥ 1 – 5



Tốt



HW ≥ 6 – 10



Trung bình



HW ≥ 11 - 15



Kém



HW≥ 16



Rất kém



6.5. Phương pháp kiểm tra sư phạm

Được sử dụng để đánh giá trình độ phát triển thể chất của đối tượng nghiên

cứu thông qua các chỉ tiêu về thể lực bằng phương pháp quan sát dọc.

Lực bóp tay thuận (kg)

Để đánh giá sức mạnh của tay thuận, qua đó biết được mức độ phát triển sức

mạnh cơ bắp của tay đối tượng kiểm tra.

Dụng cụ kiểm tra: Sử dụng lực kế bóp tay điện tử sản xuất tại Cộng hoà

liên bang Nga.

Cách tiến hành kiểm tra: Người được kiểm tra đứng dạng 2 chân bằng vai,

tay thuận cầm lực kế đưa thẳng, tạo nên góc 45 độ so với trục dọc của cơ thể.

Tay còn lại duỗi thẳng tự nhiên xi theo 2 đùi lòng bàn tay hướng vào trong.

Cầm lực kế trong lòng bàn tay, kim có hướng ra ngồi lòng bàn tay, các ngón

tay nắm chặt tay cầm của lực kế và bóp hết sức, bóp đều, từ từ, gắng sức

trong vòng 2 giây. Khơng được bóp giật cục hay thêm các động tác trợ giúp



10



của thân người, hoặc động tác thừa. Cho người được kiểm tra bóp lực kế 02

lần, nghỉ giữa mỗi lần là 15 giây, lấy kết quả lần cao nhất.

Nằm ngửa co gối gập thân thành ngồi (số lần trong 30 giây)

Để đánh giá sức mạnh bền nhóm cơ bụng.

Dụng cụ kiểm tra: Thảm vng kích thước 1,5m x1,5m

Cách tiến hành kiểm tra: Người được kiểm tra nằm trên nền sân trải thảm.

Chân co 90 độ ở đầu gối, bàn chân áp sát sàn, các ngón tay đan chéo nhau,

lòng bàn tay áp chặt sau đầu, khuỷu tay chạm đùi. Người giúp đỡ ngồi lên mu

bàn chân, 02 tay giữ cổ chân để không cho bàn chân người được kiểm tra xê

dịch hoặc tách ra khỏi sàn. Người được kiểm tra nằm ngửa, 2 mu bàn tay và

bả vai chạm sàn. Khi nghe khẩu lệnh" bắt đầu" thì người được kiểm tra làm

động tác gập bụng thành ngồi để 2 khuỷu tay chạm đùi, sau đó động tác trở về

tư thế ban đầu, mỗi chu kỳ như vậy được tính 1 lần.

Bật xa tại chỗ (cm)

Để đánh giá sức mạnh bột phát của chân

Dụng cụ kiểm tra: Thước dài 3m rộng 0,5cm, kẻ vạch xuất phát, thước

băng đặt bên cạnh vng góc vạch xuất phát và làm điểm xuất phát. Thước

được ghim chặt xuống đất để không bị xê dịch trong khi kiểm tra.

Cách tiến hành: Người được kiểm tra đứng 2 chân tự nhiên, 2 mũi bàn

chân đặt sát mép vạch xuất phát, 2 tay giơ lên cao, rồi hạ thấp trọng tâm, gấp

khớp khuỷu, gập thân, người hơi lao về phía trước, đầu hơi cúi, 2 tay hạ

xuống dưới ra sau, dùng hết sức phối hợp tồn thân bấm mạnh đầu ngón chân

xuống đất bật nhảy ra xa đồng thời 2 tay vung về phía trước khi bật nhảy và

khi tiếp đất 2 chân tiến hành đồng thời cùng một lúc. Kết quả đo được tính

bằng độ dài từ vạch xuất phát đến điểm chạm cuối cùng của gót bàn chân,

chiều dài lần nhảy được tính bằng đơn vị cm lấy lẻ từng 1 cm. Thực hiện hai

lần lấy lần xa nhất

Chạy 30m xuất phát cao(s)

Để đánh giá sức nhanh và sức mạnh tốc độ

Dụng cụ kiểm tra: Đồng hồ bấm giây, cọc tiêu, cờ lệnh.



11



Cách tiến hành kiểm tra: 2 người kiểm tra, 1 người đứng ở vạch xuất phát,

1 người đứng ở ngang vạch đích theo dõi bấm giờ người được kiểm tra. Khi

có lệnh "vào chỗ" người được kiểm tra đi vào vạch xuất phát, chân trước và

chân sau cách nhau khoảng rộng bằng vai, trọng tâm hơi đổ về trước, 2 tay thả

lỏng tự nhiên, bàn chân trước ngay sau vạch xuất phát, tư thế thoải mái. Khi

nghe khẩu lệnh "sẵn sàng ", hạ thấp người, trọng tâm cơ thể dồn vào chân

trước, tay hơi co khuỷu đưa ra ngược chiều chân, thân người đổ về trước, đầu

hơi cúi, toàn thân giữ yên, tập trung chú ý đợi lệnh xuất phát. Khi có lệnh

"chạy" lập tức lao nhanh về phía đích, khi ngực hoặc vai của người chạy cách

mặt phẳng đích 20cm thì bấm đồng hồ và kết thúc.

Chạy con thoi 4x10m (s)

Để đánh giá khả năng phối hợp vận động và sức nhanh.

Dụng cụ kiểm tra: Đồng hồ bấm giây, cọc tiêu, cờ lệnh.

Cách tiến hành: Người được kiểm tra thực hiện các thao tác "vào chỗ-sẵn

sàng-chạy" giống như chạy 30m xuất phát cao. Khi chạy đến vạch 10m chỉ

cần 1chân chạm vạch lập tức quay người thật nhanh chạy về vạch xuất phát,

đến khi 1chân chạm vạch lại lặp lại tương tự như lần đầu, sau đó kết thúc.

Thành tích được tính từ khi có lệnh xuất phát đến khi đối tượng kiểm tra chạy

hết 4x10m.

Dẻo gập thân (cm)

Đánh giá độ mềm dẻo của cơ, khớp hông, dây chằng và độ mềm dẻo của cột

sống.

Dụng cụ kiểm tra: Thước gỗ dài 40cm mỏng có chia thang độ cm. Điểm 0

ở giữa thước. Từ điểm 0 chia về hai đầu thước mỗi đầu 20cm. Gắn điểm 0 của

thước vào mép mặt phẳng của bục gỗ hay ghế có chiều cao tối thiểu là 20cm.

Cách tiến hành kiểm tra: Người được kiểm tra đứng lên bục (ghế), hai

chân rộng bằng vai, đầu ngón chân sát mép bục, hai chân thẳng đầu gối không

được co, từ từ cúi xuống hai tay duỗi thẳng ngón tay duỗi thẳng lòng bàn tay

úp, cố gắng với ngón tay giữa chạm dọc theo thước đo sau đó cố gắng với sâu

qua mặt thẳng của bục đang đứng trên đó.

Cách xác định kết quả, có hai trường hợp:



12



Đầu ngón tay khơng qua được mặt phẳng của bục người được kiểm tra đang

đứng, đó là kết quả âm (-). Ví dụ: -3cm hoặc -5cm. Như vậy tay cách mặt

phẳng bàn chân 3cm, 5cm.

Đầu ngón tay với sâu quá mặt phẳng của bục, có kết quả dương (+), ví

dụ: +3cm, +5cm. Tức là với tay qua mặt phẳng mà chân người được kiểm tra

đứng là 3cm, 5cm. Trước khi vào kiểm tra người được kiểm tra cần khởi động

kỹ để cơ lưng dẻo ra.

Chạy 5 phút tùy sức (m)

Để đánh giá sức bền chung (khả năng ưa khí).

Dụng cụ kiểm tra: Đồng hồ, số đo và tích kê ứng với số đeo.

Cách tiến hành: Khi bắt đầu tiến hành test chạy 5phút các thao tác của

người được kiểm tra và người kiểm tra giống như "chạy con thoi" khi có lệnh

"chạy" người được kiểm tra chạy trong ơ chạy, hết đoạn đường 50m vòng trái



qua vật chuẩn chạy lặp lại trong khoảng thời gian 5phút. Trong

khi chạy nếu

mệt có thể đi bộ cho đến khi hết giờ. Mỗi người được kiểm tra có một số đeo

ở ngực và tay cầm 1Tíchkê có số tương ứng. Khi có lệnh báo hết 5 phút lập

tức thả ngay Tíchkê của mình xuống dưới chân để đánh dấu số lẻ quãng

đường chạy được, sau đó chạy chậm dần và thả lỏng kết thúc kiểm tra.

6.6. Phương pháp toán học thống kê

Các số liệu được xử lý bằng phương pháp toán học thống kê TDTT trên

máy vi tính theo chương trình phần mềm Microsoft Excel và SPSS phiên bản

18 để tính các tham số thống kê đặc trưng như: Trung bình cộng ( x ), Phương

sai (σ2), Độ lệch chuẩn (σ), Hệ số biến sai ( CV ), Hệ số tương quan (r), Sai số

chuẩn của giá trị trung bình ( σ x ), So sánh trung bình cộng của 2 mẫu (t).

Dùng thang độ C để lập thang điểm đánh giá theo hệ điểm 10 và dùng quy tắc

2σ để phân loại đánh giá theo 5 loại A; B; C; D; E,

Riêng nhịp độ phát triển thể chất của đối tượng nghiên cứu được tính theo

cơng thức của S. Brody (1927) như sau:

W =



100.(V 2 − V 1)

%

0,5.(V 1 + V 2)



13



Trong đó:



W: Nhịp độ tăng trưởng (%)

V1: Kết quả kiểm tra lần trước của các chỉ tiêu

V2: Kết quả kiểm tra lần sau của các chỉ tiêu

100 và 0,5: Các hằng số



7. Cấu trúc của luận văn

Mở đầu

Chương 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương 2. Lựa chọn hệ thống Test đánh giá sự phát triển thể chất của

sinh viên trường Đại học Kinh tế Nghệ An

Chương 3. Nghiên cứu diễn biến sự phát triển thể chất của sinh viên

trường Đại học Kinh tế Nghệ An

Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo



14



Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến phát triển thể chất của sinh

viên

1.1.1. Phát triển thể chất

Có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển thể chất, tuy nhiên các nhà

nghiên cứu về GDTC cho rằng “Phát triển thể chất của con người là quá trình

phát triển biến đổi các tính chất hình thái và chức năng tự nhiên của cơ thể

con người suốt cả cuộc sống cá nhân của nó” [14] [24] [29]. Phát triển thể

chất biểu hiện qua các chỉ số bên ngồi như kích thước trong khơng gian và

trọng lượng cơ thể, còn sự phát triển về chức năng thể hiện sự biến đổi các

khả năng chức phận của cơ thể theo các thời kì và các giai đoạn phát triển

theo lứa tuổi của nó, sự biến đổi này thể hiện qua các tố chất thể lực như: Sức

nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo, mềm dẻo. Sự biến đổi năng lực hoạt

động của hệ hơ hấp, hệ tuần hồn, hệ bài tiết, hệ thần kinh, tâm lý và ý chí

tuân theo các quy luật tự nhiên, trong các quy luật đó có quy luật tác động lẫn

nhau giữa xu hướng phát triển do yếu tố di truyền chi phối và xu hướng phát

triển dưới tác động của điều kiện sống qui định; quy luật tác động lẫn nhau

của các biến đổi cấu trúc và chức năng; các thời kì theo lứa tuổi phát triển từ

từ và thay thế nhau (các thời kì phát triển nhanh được thay thế bằng các thời

kỳ ổn định tương đối về cấu trúc và chức năng, sau đó đến thời kì biến đổi sút

kém)…

Phát triển thể chất con người còn phụ thuộc vào các điều kiện sống và

hoạt động của con người (điều kiện phân phối và sử dụng sản phẩm vật chất,

giáo dục, lao động, sinh hoạt…) và do đó sự “phát triển thể chất của con

người là do xã hội tác động và tác động ở mức độ quyết định”[5].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phương pháp nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×