Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
5 Phân loại bảo lãnh

5 Phân loại bảo lãnh

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths Võ Hoàng Diễm Trinh



1.5.2 Căn cứ vào phương thức phát hành bảo lãnh:

- Bảo lãnh trực tiếp: là loại bảo lãnh mà trong đó, ngân hàng phát hành bảo lãnh

chịu trách nhiệm trực tiếp cho bên được bảo lãnh, người được bảo lãnh chịu trách

nhiệm bồi hoàn trực tiếp cho ngân hàng phát hành bảo lãnh.

Sơ đồ bảo lãnh trực tiếp

Error: Reference source not found



NGÂN HÀNG PHÁT

HÀNH



(2)



(3)



(1)

NGƯỜI ĐƯỢC BẢO

LÃNH



NGƯỜI THỤ HƯỞNG

BẢO LÃNH



(1) Hợp đồng chính ký kết giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng.

(2) Khách hàng yêu cầu phát hành bảo lãnh.

(3) Ngân hàng phát hành thư bảo lãnh và chuyển trực tiếp cho người thụ hưởng

( sau khi xét duyệt và chấp nhận ).

- Bảo lãnh gián tiếp: là loại bảo lãnh mà trong đó, ngân hàng bảo lãnh đã phát

hành bảo lãnh theo chỉ thị của một ngân hàng trung gian phục vụ cho người được bảo

lãnh dựa trên một bảo lãnh khác gọi là bảo lãnh đối ứng. Người được bảo lãnh khơng

phải bồi hồn trực tiếp cho ngân hàng phát hành bảo lãnh mà chính ngân hàng trung

gian chịu trách nhiệm bồi hoàn.

Sơ đồ bảo lãnh gián tiếp



NGÂN

HÀNG

PHÁT

Error:

Reference

source

not found



(3)



HÀNH ( NGÂN HÀNG

THỨ HAI )

(4)



NGƯỜI THỤ HƯỞNG

BẢO LÃNH



(1)



NGÂN HÀNG CHỈ ĐỊNH

(NGÂN HÀNG THỨ

NHẤT )

(2)

NGƯỜI ĐƯỢC BẢO

LÃNH



(1) Hợp đồng gốc.

(2) Khách hàng yêu cầu ngân hàng phục vụ mình ra chỉ thị cho ngân hàng chính

phát hành bảo lãnh.



SVTH: Lê Thị Thu Hằng



Trang: 6



Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths Võ Hoàng Diễm Trinh



(3) Ngân hàng thứ nhất chỉ thị cho ngân hàng thứ hai phát hành bảo lãnh, đồng

thời cam kết bồi hoàn bảo lãnh đối ứng.

(4) Ngân hàng thứ hai phát hành bảo lãnh : có thể chuyển trực tiếp cho người thụ

hưởng.

1.5.3 Căn cứ vào mục đích của bảo lãnh

-Bảo lãnh vay vốn: bao gồm bảo lãnh trong nước và bảo lãnh vay vốn nước

ngoài. Bảo lãnh vay vốn là một bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng phát hành cho

bên nhận bảo lãnh về việc cam kết trả nợ thay cho khách hàng trong trường hợp khách

hàng không trả nợ hoặc không trả nợ đầy đủ, đúng hạn.

- Bảo lãnh thanh toán : là một bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng phát hành

cho bên nhận bảo lãnh cam kết sẽ thanh toán thay cho khách hàng trong trường hợp

khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện khơng đầy đủ về nghĩa vụ của mình khi

đến hạn.

- Bảo lãnh dự thầu: là một bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng phát hành cho

bên mời thầu để đảm bảo nghĩa vụ tham gia dự thầu của khách hàng. Trường hợp

khách hàng bị phạt do vi phạm quy định dự thầu mà không nộp hoặc nộp khơng đủ

tiền phạt cho bên mời thầu thì tổ chức tín dụng thực hiện nghĩa vụ đã cam kết.

- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là một bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng

phát hành cho bên nhận bảo lãnh đảm bảo việc thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ

của khách hàng với bên nhận bảo lãnh theo hợp đồng đã ký kết. Trong trường hợp

khách hàng không thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ trong hợp đồng, tổ chức tín

dụng thực hiện nghĩa vụ đã cam kết.

- Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm: là một bảo lãnh ngân hàng do tổ chức

tín dụng phát hành cho bên nhận bảo lãnh đảm bảo khách hàng thực hiện đúng thỏa

thuận về chất lượng của sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh.

Trong trường hợp khách hàng bị phạt tiền do không thực hiện đúng các thỏa thuận

trong hợp đồng về chất lượng sản phẩm với bên nhận bảo lãnh mà không nộp hoặc

không đủ tiền phạt cho bên nhận bảo lãnh, tổ chức tín dụng thực hiện nghĩa vụ bảo

lãnh đã cam kết.

- Bảo lãnh hoàn thành thanh tốn : Bảo lãnh hồn trả tiền ứng trước: là một bảo

lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng phát hành cho bên nhận bảo lãnh về việc bảo đảm

nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước của khách hàng theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận

bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi phạm các cam kết với bên nhận bảo lãnh và phải

hoàn trả tiền ứng trước nhưng khơng hồn trả hoặc hồn trả khơng đủ số tiền ứng



SVTH: Lê Thị Thu Hằng



Trang: 7



Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths Võ Hồng Diễm Trinh



trước cho bên nhận bão lãnh thì tổ chức tín dụng sẽ hồn trả số tiền ứng trước cho bên

nhận bảo lãnh.

- Các loại bảo lãnh khác: như bảo lãnh đối ứng, xác nhận bảo lãnh và các bảo

lãnh tất cả các lĩnh vực khác mà pháp luật khơng cấm và việc bảo lãnh đó cũng phù

hợp với thông lệ quốc tế.

1.5.4 Phân loại theo đối tượng bảo lãnh

- Bảo lãnh trong nước : là loại bảo lãnh mà người yêu cầu bảo lãnh, người được

bảo lãnh và ngân hàng bảo lãnh ở trong phạm vi một quốc gia. Các hình thức áp dụng

cho loại bảo lãnh này là: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền

ứng trước...được thực hiện thông qua ngân hàng phát hành thư bảo lãnh.

- Bảo lãnh ngoài nước: là loại hình bảo lãnh mà trong đó chỉ có một bên ở trong

nước, còn bên kia ở nước ngồi. Loại hình này thường sử dụng một trong các hình

thức bảo lãnh sau :

+ Mở thư tín dụng mua hàng trả chậm.

+ Ký bảo lãnh trên hối phiếu nhận nợ với nước ngoài.

+ Phát hành thư bảo lãnh.

+ Lập giấy chứng nhận kỳ hạn.

1.5.5 Phân loại theo hình thức sử dụng.

- Bảo lãnh vô điều kiện (Bảo lãnh theo yêu cầu): là loại bảo lãnh mà trong đó việc

thanh toán sẽ được thực hiện ngay sau khi ngân hàng nhận được yêu cầu đầu tiên của

người thụ hưởng mà không cần bất cứ một chứng từ hay một tờ giấy nào kèm theo.

Ngân hàng xem đó như một lệnh thanh tốn khơng thể từ chối. Điều đó thể hiện loại

bảo lãnh này có tính độc lập rất cao. Nó được sử dụng khá phổ biến vì nó có lợi cho

người thụ hưởng, do đó có thể xảy ra lừa đảo, gian lận nếu người thụ hưởng khơng

trung thực. Vì vậy, khi sử dụng loại bảo lãnh này các bên đối tác phải có độ tin cậy

cao.

- Bảo lãnh có điều kiện : là loại bảo lãnh mà khi người thụ hưởng muốn được trả

tiền phải xuất trình chứng từ hoặc giấy tờ chứng minh sự vi phạm nghĩa vụ trong hợp

đồng đối tác. Loại bảo lãnh này có nhược điểm là người thụ hưởng sẽ phải chịu sự

chậm trễ trong thanh tốn bồi thường, nó còn có thể gây ra tranh chấp giữa các đối tác.

Với các điều kiện về chứng từ như thế thì đấy là một loại bảo lãnh kém linh hoạt nên ít

được sử dụng trong các dịch vụ của ngân hàng thương mại.

* Như vậy, với những ý nghĩa của nghiệp vụ bảo lãnh cũng như xu hướng phát

triển chung của nền kinh tế thế giới, áp dụng trong điều kiện kinh tế nước ta đang



SVTH: Lê Thị Thu Hằng



Trang: 8



Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths Võ Hoàng Diễm Trinh



chuyển sang nền kinh tế thị trường, việc ra đời và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh Ngân

hàng là một tất yếu khách quan.

1.6 Sự cần thiết của bảo lãnh ngân hàng.

1.6.1 Nhu cầu của khách hàng: Hiện nay, việc sử dụng bảo lãnh đang ngày càng

phát triển, doanh số của nó đang ngày càng gia tăng, nhiều loại hình bảo lãnh lần lượt

ra đời để đáp ứng nhu cầu bảo lãnh của nền kinh tế. Sự tăng trưởng này một phần là do

bảo lãnh ngân hàng được dùng để hỗ trợ cho tất cả các dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tài

chính lẫn dịch vụ phi tài chính như hợp đồng thương mại, hợp đồng xây dựng... và

những cam kết tài chính khác. Bảo lãnh ngân hàng đảm bảo sự tăng trưởng ổn định và

bền vững của nền kinh tế.

1.6.2 Cơ chế thị trường: sự phát triển của cơ chế thị trường đã có khơng ít những

biến tướng xấu của nền kinh tế như lừa đảo, chiếm đoạt… ln rình rập các nhà kinh

doanh đồng thời, trong quan hệ với quốc tế, các nhà kinh doanh nước ngồi do chưa có

nhiều thơng tin về nhà kinh doanh Việt Nam nên họ cũng rất cần một sự bảo đảm của

một đơn vị có uy tín lớn (thường là NH) để đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán của

người mua (nhà nhập khẩu Việt Nam). Cơ chế thị trường cũng tác động làm cho sự

cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày một gay gắt, các ngân hàng ngồi những chính

sách phát triển những sản phẩm truyền thống thì cũng sẽ đa dạng hố sản phẩm của

mình nhằm thu hút khách hàng và tăng thu nhập cho mình. Qua đó hoạt động bảo lãnh

cũng được xem là một trong những sản phẩm có thể lơi cuốn khách hàng và ngày một

được phát triển.

Vì thế, việc thực thi nghiệp vụ bảo lãnh thanh toán của các Ngân hàng thực sự là

cần thiết trong đà phát triển kinh tế hiện nay của nước ta.

1.7 Rủi ro hoạt động bảo lãnh ngân hàng.

1.7.1 Khái niệm.

Rủi ro trong hoạt động bảo lãnh là những biến cố, những sự kiện bất ngờ xảy ra

trong hoạt động bảo lãnh của NHTM, gây mất mát thiệt hại về tài sản ảnh hưởng xấu

đến hoạt động kinh doanh của NHTM” . Hay “Rủi ro bảo lãnh ngân hàng là rủi ro xảy

ra khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh”

1.7.2 Biểu hiện của rủi ro trong hoạt động BLNH:

+ Khách hàng không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết:Tức là đến hạn nhưng khách hàng

vẫn không thực hiện nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh, ngân hàng phải thực hiện nghĩa

vụ thay cho khách hàng.



SVTH: Lê Thị Thu Hằng



Trang: 9



Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths Võ Hoàng Diễm Trinh



+ Xuất hiện nợ quá hạn: khi ngân hàng thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho khách

hàng, và khoản nợ đó được xem như một khoản vay bình thường ở ngân hàng. Và nếu

quá thời hạn cho phép thì khoản nợ đó được chuyển sang nợ quá hạn.

+ Sự mất cân đối vốn của khách hàng: cụ thể là sự gia tăng đột biến của tỷ lệ

nợ/Vốn chủ sở hữu, tỷ lệ khả năng thanh toán nhanh và thanh toán tức thời có dấu hiệu

sụt giảm liên tục. Báo cáo tài chính khơng có dấu hiệu tốt.

+ Chậm gửi hoặc trì hỗn việc gửi các báo cáo tài chính theo u cầu của ngân

hàng mà khơng có sự giải thích minh bạch và thuyết phục.

+ Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn.

+ Trì hỗn hoặc gây khó khăn, trở ngại đối với ngân hàng trong quá trình kiểm

tra theo định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính, hoạt động

sản xuất kinh doanh của khách hàng mà khơng có sự giải thích minh bạch, thuyết

phục.

1.7.3 Nguyên nhân của rủi ro BL ngân hàng:

* Rủi ro từ phía ngân hàng bảo lãnh:

- Trình độ chun mơn nghiệp vụ: cán bộ tín dụng khơng đủ trình độ đánh giá

khách hàng hoặc đánh giá khơng tốt, cố tình làm sai… sẽ ảnh hưởng đến việc hoạt

động ngân hàng cũng như là những người liên quan.

- Các văn bản thể lệ, chính sách tín dụng: do Ngân hàng ban hành chưa được rõ

ràng và phù hợp, còn chồng chéo lên nhau, chưa sát với thực tế đã gây nên sơ hở để

khách hàng lợi dụng chiếm đoạt vốn của Ngân hàng, gây khó khăn cho Ngân hàng.

- Áp lực cạnh tranh, các Ngân hàng tìm cách kéo khách hàng về mình vì mục

tiêu tăng dư nợ mà giảm nhẹ việc phân tích đánh giá nhận định sai về khách hàng, xem

nhẹ đảm bảo tín dụng.

- Khơng thực hiện hoặc thực hiện khơng tốt các hình thức đảm bảo tín dụng,

khách hàng khơng hội đủ các điều kiện về tài sản thế chấp nhưng Ngân hàng vẫn thực

hiện bảo lãnh.

- Uy tín năng lực tài chính của ngân hàng: Nếu trong một cam kết bảo lãnh mà

ngân hàng phát hành khơng có nghiệp vụ bảo lãnh vững mạnh, tinh thông thương mại

quốc tế, hay là năng lực tài chính vững mạnh thì sẽ khơng tạo được sự tin tưởng cho

phía người thụ hưởng. Họ có thể tìm được một ngân hàng khác chấp nhận làm ngân

hàng phát hành thư bảo lãnh đối ứng. Ngoài ra nguy cơ ngân hàng không thể đảm bảo



SVTH: Lê Thị Thu Hằng



Trang: 10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

5 Phân loại bảo lãnh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×