Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths Võ Hoàng Diễm Trinh



đồng bảo lãnh được mô tả bởi sơ đồ 1 dưới đây:

Sơ đồ quan hệ giữa các bên trong hợp đồng bảo lãnh

HĐ mua bán dự thầu

Bên được bảo lãnh

Đơn xin bảo

lãnh (1)



2



Bên bảo lãnh (NH)



Bên nhận bảo lãnh

Thư bảo lãnh

(3)



* Cam kết bảo lãnh

Là cam kết đơn phương bằng văn bản của tổ chức tín dụng hoặc văn bản thoả thuận

giữa tổ chức tín dụng, khách hàng được bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh về việc tổ

chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng

không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.

1.2 Đặc điểm bảo lãnh ngân hàng.

Bảo lãnh ngân hàng có những đặc điểm sau:

- Bảo lãnh ngân hàng có mối quan hệ nhiều bên, phụ thuộc lẫn nhau: Trong

một nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng thường có sự kết hợp của 3 hợp đồng độc lập:

Hợp đồng giữa bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh, hợp đồng giữa bên được bảo

lãnh và bên bảo lãnh, hợp đồng gữa bên nhận bảo lãnh và bên bảo lãnh.

- Bảo lãnh ngân hàng có tính độc lập: Đây là đặc điểm rất quan trọng của bảo

lãnh, bởi độc lập tương đối so với các hợp đồng kinh tế, hợp đồng thương mại, tài

chính... Có nghĩa là ngân hàng bảo lãnh phải thực hiện cam kết bảo lãnh theo đúng

trách nhiệm của mình đã ghi trong thư bảo lãnh, không kể người được bảo lãnh vi

phạm hợp đồng vì lý do gì.

- Tính phù hợp của bảo lãnh: Khi người thụ hưởng bảo lãnh đến yếu cầu tổ chức

tín dụng thanh tốn thì tổ chức tín dụng có trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do người

thụ hưởng xuất trình. Tổ chức tín dụng có quyền từ chối thanh tốn nếu như chứng từ

có dấu hiệu không hợp lệ hay những điều kiện của bảo lãnh không được đáp ứng.

1.3 Chức năng bảo lãnh.

Đứng trên góc độ ngân hàng, bảo lãnh là một nghiệp vụ có thu tiền (phí bảo lãnh)

mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng. Tuy nhiên, nghiệp vụ này được xem là nghiệp

vụ ngoại bảng tức là nghiệp vụ khơng có ảnh hưởng đến nguồn vốn và sử dụng vốn



SVTH: Lê Thị Thu Hằng



Trang: 3



Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths Võ Hoàng Diễm Trinh



của ngân hàng. Đứng trên góc độ khách hàng, bảo lãnh là một công cụ quan trọng hỗ

trợ cho khách hàng. Điều này thể hiện rõ hơn qua các chức năng dưới đây của bảo

lãnh.

- Bảo lãnh là công cụ đảm bảo: Đây là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh.

Bằng việc cam kết chi trả bồi thường khi xảy ra sự cố vi phạm hợp đồng của người

được bảo lãnh, các ngân hàng phát hành bảo lãnh đã tạo ra một sự đảm bảo chắc chắn

cho người nhận bảo lãnh. Chính sự đảm bảo này tạo ra sự tin tưởng khiến cho các hợp

đồng được ký kết một cách dễ dàng và thuận lợi. Đây cũng là điểm khác biệt của bảo

lãnh so với tín dụng chứng từ.

- Bảo lãnh là công cụ tài trợ: Không chỉ là cơng cụ đảm bảo, bảo lãnh còn là

cơng cụ tài trợ cho người được bảo lãnh. Thông qua bảo lãnh người được bảo lãnh

không phải xuất quỹ, được thu hồi vốn nhanh, được vay nợ hoặc được kéo dài thời

gian thanh tốn tiền hàng hố, dịch vụ,…

Ví dụ : Một nhà thầu thay vì mang tiền đặt cọc thì chỉ cần có bảo lãnh của Ngân

hàng. Do vậy, mặc dù không trực tiếp cấp vốn như trong cho vay nhưng bảo lãnh ngân

hàng giúp cho khách hàng được hưởng những thuận lợi về ngân quỹ như trong trường

hợp cho vay.

Với ý nghĩa này, bảo lãnh được xem như là một trong những dịch vụ Ngân hàng

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đáp ứng kịp thời các yêu cầu phát triển và mở rộng sản

xuất kinh doanh, làm giảm bớt sự căng thẳng về nguồn vốn hoạt động của doanh

nghiệp.

1.4 Vai trò của bảo lãnh ngân hàng.

1.4.1 Đối với doanh nghiệp

Trong các quan hệ kinh tế không phải lúc nào các đối tác cũng tin tưởng nhau do

rất nhiều ngun nhân. Vì thế, để đảm bảo an tồn quan hệ làm ăn, bên cung cấp

thường yêu cầu bên kia phải có bảo lãnh của ngân hàng thì giao dịch mới thực hiện.

Do đó bảo lãnh ngân hàng đơi khi là yêu cầu bắt buộc để bước đầu giúp cho doanh

nghiệp có cơ hội tiếp cận với hợp đồng. Ngồi ra, bảo lãnh giúp cho doanh nghiệp tiết

kiệm được khoản vay vốn đáng kể, có thêm nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động và

doanh nghiệp chỉ phải trả một khoản phí tương đối thấp.

1.4.2 Đối với ngân hàng

Đối với ngân hàng, bảo lãnh là một trong các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp

cho nền kinh tế. Bảo lãnh đem lại lợi ích trực tiếp cho ngân hàng đó là phí bảo lãnh.



SVTH: Lê Thị Thu Hằng



Trang: 4



Chun đề tốt nghiệp



GVHD: Ths Võ Hồng Diễm Trinh



Phí bảo lãnh đóng góp vào lợi nhuận ngân hàng một khoản khơng nhỏ, chiếm tỷ lệ khá

lớn trong tổng phí dịch vụ của các ngân hàng hiện nay.

Khơng chỉ đóng góp vào lợi nhuận, bảo lãnh còn làm đa dạng hố các loại hình

dịch vụ, giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro mất vốn. Mặt khác, thực hiện nghiệp vụ bảo

lãnh giúp ngân hàng làm tốt hơn chính sách khách hàng, vừa giúp ngân hàng gắn bó

với khách hàng truyền thống, vừa thu hút khách hàng mới. Ngoài ra bảo lãnh nâng cao

uy tín và tăng cường quan hệ của ngân hàng đặc biệt là trên trường quốc tế. Thông qua

bảo lãnh, ngân hàng tạo được thế mạnh, uy tín giúp tăng thêm khách hàng và lợi

nhuận.

1.4.3 Đối với nền kinh tế

Sự tồn tại bảo lãnh ngân hàng là một khách quan đối với nền kinh tế,đáp ứng

yêu cầu làm cho nền kinh tế ngày một phát triển. Nó có vai trò như một chất xúc tác

làm điều hoà, xúc tiến hàng loạt các quan hệ trong hợp đồng kinh tế. Nhờ có bảo lãnh

mà các bên có thể tin tưởng yên tâm tham gia ký kết các hợp đồng kinh tế và có trách

nhiệm với hợp đồng của mình đã ký kết.

Bảo lãnh có vai trò quan trọng trong việc tăng thêm nguồn vốn cho các doanh

nghiệp, thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế, nhờ vào uy tín của ngân hàng, bảo lãnh trở

thành công cụ tiếp cận với các nguồn vốn của nước ngoài. Nguồn vốn này thường

được tập trung vào sản xuất, tạo điều kiện cho doanh nghiệp từ đó giúp doanh nghiệp

sản xuất ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường.

Bảo lãnh ngân hàng góp phần tăng cường mối quan hệ thương mại quốc tế giữa

các quốc gia.

1.5 Phân loại bảo lãnh

1.5.1 Căn cứ vào bản chất của bảo lãnh.

- Bảo lãnh đồng nghĩa vụ (còn gọi là bảo lãnh bổ sung): là loại bảo lãnh trong

đó ngân hàng và người được bảo lãnh được xem là có cùng nghĩa vụ. Tuy nhiên, nghĩa

vụ của người được bảo lãnh là nghĩa vụ đầu tiên, nghĩa vụ của ngân hàng chỉ là nghĩa

vụ bổ sung, nghĩa vụ bổ sung chỉ được thực hiện khi có bằng cứ xác nhận rằng nghĩa

vụ đầu tiên bị vi phạm.

- Bảo lãnh độc lập: là loại bảo lãnh hiện đại, trong đó nghĩa vụ của ngân hàng và

của người được bảo lãnh hoàn toàn tách rời nhau. Việc thực hiện thanh toán chỉ căn cứ

vào những điều kiện, điều khoản quy định trong văn bản bảo lãnh được thoả mãn mà

thôi.



SVTH: Lê Thị Thu Hằng



Trang: 5



Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths Võ Hoàng Diễm Trinh



1.5.2 Căn cứ vào phương thức phát hành bảo lãnh:

- Bảo lãnh trực tiếp: là loại bảo lãnh mà trong đó, ngân hàng phát hành bảo lãnh

chịu trách nhiệm trực tiếp cho bên được bảo lãnh, người được bảo lãnh chịu trách

nhiệm bồi hoàn trực tiếp cho ngân hàng phát hành bảo lãnh.

Sơ đồ bảo lãnh trực tiếp

Error: Reference source not found



NGÂN HÀNG PHÁT

HÀNH



(2)



(3)



(1)

NGƯỜI ĐƯỢC BẢO

LÃNH



NGƯỜI THỤ HƯỞNG

BẢO LÃNH



(1) Hợp đồng chính ký kết giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng.

(2) Khách hàng yêu cầu phát hành bảo lãnh.

(3) Ngân hàng phát hành thư bảo lãnh và chuyển trực tiếp cho người thụ hưởng

( sau khi xét duyệt và chấp nhận ).

- Bảo lãnh gián tiếp: là loại bảo lãnh mà trong đó, ngân hàng bảo lãnh đã phát

hành bảo lãnh theo chỉ thị của một ngân hàng trung gian phục vụ cho người được bảo

lãnh dựa trên một bảo lãnh khác gọi là bảo lãnh đối ứng. Người được bảo lãnh không

phải bồi hoàn trực tiếp cho ngân hàng phát hành bảo lãnh mà chính ngân hàng trung

gian chịu trách nhiệm bồi hồn.

Sơ đồ bảo lãnh gián tiếp



NGÂN

HÀNG

PHÁT

Error:

Reference

source

not found



(3)



HÀNH ( NGÂN HÀNG

THỨ HAI )

(4)



NGƯỜI THỤ HƯỞNG

BẢO LÃNH



(1)



NGÂN HÀNG CHỈ ĐỊNH

(NGÂN HÀNG THỨ

NHẤT )

(2)

NGƯỜI ĐƯỢC BẢO

LÃNH



(1) Hợp đồng gốc.

(2) Khách hàng yêu cầu ngân hàng phục vụ mình ra chỉ thị cho ngân hàng chính

phát hành bảo lãnh.



SVTH: Lê Thị Thu Hằng



Trang: 6



Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths Võ Hoàng Diễm Trinh



(3) Ngân hàng thứ nhất chỉ thị cho ngân hàng thứ hai phát hành bảo lãnh, đồng

thời cam kết bồi hoàn bảo lãnh đối ứng.

(4) Ngân hàng thứ hai phát hành bảo lãnh : có thể chuyển trực tiếp cho người thụ

hưởng.

1.5.3 Căn cứ vào mục đích của bảo lãnh

-Bảo lãnh vay vốn: bao gồm bảo lãnh trong nước và bảo lãnh vay vốn nước

ngoài. Bảo lãnh vay vốn là một bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng phát hành cho

bên nhận bảo lãnh về việc cam kết trả nợ thay cho khách hàng trong trường hợp khách

hàng không trả nợ hoặc không trả nợ đầy đủ, đúng hạn.

- Bảo lãnh thanh toán : là một bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng phát hành

cho bên nhận bảo lãnh cam kết sẽ thanh toán thay cho khách hàng trong trường hợp

khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ về nghĩa vụ của mình khi

đến hạn.

- Bảo lãnh dự thầu: là một bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng phát hành cho

bên mời thầu để đảm bảo nghĩa vụ tham gia dự thầu của khách hàng. Trường hợp

khách hàng bị phạt do vi phạm quy định dự thầu mà không nộp hoặc nộp không đủ

tiền phạt cho bên mời thầu thì tổ chức tín dụng thực hiện nghĩa vụ đã cam kết.

- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là một bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng

phát hành cho bên nhận bảo lãnh đảm bảo việc thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ

của khách hàng với bên nhận bảo lãnh theo hợp đồng đã ký kết. Trong trường hợp

khách hàng không thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ trong hợp đồng, tổ chức tín

dụng thực hiện nghĩa vụ đã cam kết.

- Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm: là một bảo lãnh ngân hàng do tổ chức

tín dụng phát hành cho bên nhận bảo lãnh đảm bảo khách hàng thực hiện đúng thỏa

thuận về chất lượng của sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh.

Trong trường hợp khách hàng bị phạt tiền do không thực hiện đúng các thỏa thuận

trong hợp đồng về chất lượng sản phẩm với bên nhận bảo lãnh mà không nộp hoặc

không đủ tiền phạt cho bên nhận bảo lãnh, tổ chức tín dụng thực hiện nghĩa vụ bảo

lãnh đã cam kết.

- Bảo lãnh hồn thành thanh tốn : Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước: là một bảo

lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng phát hành cho bên nhận bảo lãnh về việc bảo đảm

nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước của khách hàng theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận

bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi phạm các cam kết với bên nhận bảo lãnh và phải

hồn trả tiền ứng trước nhưng khơng hồn trả hoặc hồn trả khơng đủ số tiền ứng



SVTH: Lê Thị Thu Hằng



Trang: 7



Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths Võ Hoàng Diễm Trinh



trước cho bên nhận bão lãnh thì tổ chức tín dụng sẽ hoàn trả số tiền ứng trước cho bên

nhận bảo lãnh.

- Các loại bảo lãnh khác: như bảo lãnh đối ứng, xác nhận bảo lãnh và các bảo

lãnh tất cả các lĩnh vực khác mà pháp luật không cấm và việc bảo lãnh đó cũng phù

hợp với thơng lệ quốc tế.

1.5.4 Phân loại theo đối tượng bảo lãnh

- Bảo lãnh trong nước : là loại bảo lãnh mà người yêu cầu bảo lãnh, người được

bảo lãnh và ngân hàng bảo lãnh ở trong phạm vi một quốc gia. Các hình thức áp dụng

cho loại bảo lãnh này là: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền

ứng trước...được thực hiện thông qua ngân hàng phát hành thư bảo lãnh.

- Bảo lãnh ngồi nước: là loại hình bảo lãnh mà trong đó chỉ có một bên ở trong

nước, còn bên kia ở nước ngồi. Loại hình này thường sử dụng một trong các hình

thức bảo lãnh sau :

+ Mở thư tín dụng mua hàng trả chậm.

+ Ký bảo lãnh trên hối phiếu nhận nợ với nước ngoài.

+ Phát hành thư bảo lãnh.

+ Lập giấy chứng nhận kỳ hạn.

1.5.5 Phân loại theo hình thức sử dụng.

- Bảo lãnh vô điều kiện (Bảo lãnh theo yêu cầu): là loại bảo lãnh mà trong đó việc

thanh tốn sẽ được thực hiện ngay sau khi ngân hàng nhận được yêu cầu đầu tiên của

người thụ hưởng mà không cần bất cứ một chứng từ hay một tờ giấy nào kèm theo.

Ngân hàng xem đó như một lệnh thanh tốn khơng thể từ chối. Điều đó thể hiện loại

bảo lãnh này có tính độc lập rất cao. Nó được sử dụng khá phổ biến vì nó có lợi cho

người thụ hưởng, do đó có thể xảy ra lừa đảo, gian lận nếu người thụ hưởng khơng

trung thực. Vì vậy, khi sử dụng loại bảo lãnh này các bên đối tác phải có độ tin cậy

cao.

- Bảo lãnh có điều kiện : là loại bảo lãnh mà khi người thụ hưởng muốn được trả

tiền phải xuất trình chứng từ hoặc giấy tờ chứng minh sự vi phạm nghĩa vụ trong hợp

đồng đối tác. Loại bảo lãnh này có nhược điểm là người thụ hưởng sẽ phải chịu sự

chậm trễ trong thanh toán bồi thường, nó còn có thể gây ra tranh chấp giữa các đối tác.

Với các điều kiện về chứng từ như thế thì đấy là một loại bảo lãnh kém linh hoạt nên ít

được sử dụng trong các dịch vụ của ngân hàng thương mại.

* Như vậy, với những ý nghĩa của nghiệp vụ bảo lãnh cũng như xu hướng phát

triển chung của nền kinh tế thế giới, áp dụng trong điều kiện kinh tế nước ta đang



SVTH: Lê Thị Thu Hằng



Trang: 8



Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths Võ Hoàng Diễm Trinh



chuyển sang nền kinh tế thị trường, việc ra đời và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh Ngân

hàng là một tất yếu khách quan.

1.6 Sự cần thiết của bảo lãnh ngân hàng.

1.6.1 Nhu cầu của khách hàng: Hiện nay, việc sử dụng bảo lãnh đang ngày càng

phát triển, doanh số của nó đang ngày càng gia tăng, nhiều loại hình bảo lãnh lần lượt

ra đời để đáp ứng nhu cầu bảo lãnh của nền kinh tế. Sự tăng trưởng này một phần là do

bảo lãnh ngân hàng được dùng để hỗ trợ cho tất cả các dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tài

chính lẫn dịch vụ phi tài chính như hợp đồng thương mại, hợp đồng xây dựng... và

những cam kết tài chính khác. Bảo lãnh ngân hàng đảm bảo sự tăng trưởng ổn định và

bền vững của nền kinh tế.

1.6.2 Cơ chế thị trường: sự phát triển của cơ chế thị trường đã có khơng ít những

biến tướng xấu của nền kinh tế như lừa đảo, chiếm đoạt… luôn rình rập các nhà kinh

doanh đồng thời, trong quan hệ với quốc tế, các nhà kinh doanh nước ngoài do chưa có

nhiều thơng tin về nhà kinh doanh Việt Nam nên họ cũng rất cần một sự bảo đảm của

một đơn vị có uy tín lớn (thường là NH) để đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán của

người mua (nhà nhập khẩu Việt Nam). Cơ chế thị trường cũng tác động làm cho sự

cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày một gay gắt, các ngân hàng ngồi những chính

sách phát triển những sản phẩm truyền thống thì cũng sẽ đa dạng hố sản phẩm của

mình nhằm thu hút khách hàng và tăng thu nhập cho mình. Qua đó hoạt động bảo lãnh

cũng được xem là một trong những sản phẩm có thể lơi cuốn khách hàng và ngày một

được phát triển.

Vì thế, việc thực thi nghiệp vụ bảo lãnh thanh toán của các Ngân hàng thực sự là

cần thiết trong đà phát triển kinh tế hiện nay của nước ta.

1.7 Rủi ro hoạt động bảo lãnh ngân hàng.

1.7.1 Khái niệm.

Rủi ro trong hoạt động bảo lãnh là những biến cố, những sự kiện bất ngờ xảy ra

trong hoạt động bảo lãnh của NHTM, gây mất mát thiệt hại về tài sản ảnh hưởng xấu

đến hoạt động kinh doanh của NHTM” . Hay “Rủi ro bảo lãnh ngân hàng là rủi ro xảy

ra khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh”

1.7.2 Biểu hiện của rủi ro trong hoạt động BLNH:

+ Khách hàng không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết:Tức là đến hạn nhưng khách hàng

vẫn không thực hiện nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh, ngân hàng phải thực hiện nghĩa

vụ thay cho khách hàng.



SVTH: Lê Thị Thu Hằng



Trang: 9



Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths Võ Hoàng Diễm Trinh



+ Xuất hiện nợ quá hạn: khi ngân hàng thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho khách

hàng, và khoản nợ đó được xem như một khoản vay bình thường ở ngân hàng. Và nếu

quá thời hạn cho phép thì khoản nợ đó được chuyển sang nợ quá hạn.

+ Sự mất cân đối vốn của khách hàng: cụ thể là sự gia tăng đột biến của tỷ lệ

nợ/Vốn chủ sở hữu, tỷ lệ khả năng thanh tốn nhanh và thanh tốn tức thời có dấu hiệu

sụt giảm liên tục. Báo cáo tài chính khơng có dấu hiệu tốt.

+ Chậm gửi hoặc trì hỗn việc gửi các báo cáo tài chính theo yêu cầu của ngân

hàng mà khơng có sự giải thích minh bạch và thuyết phục.

+ Tài sản đảm bảo khơng đủ tiêu chuẩn.

+ Trì hỗn hoặc gây khó khăn, trở ngại đối với ngân hàng trong quá trình kiểm

tra theo định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính, hoạt động

sản xuất kinh doanh của khách hàng mà khơng có sự giải thích minh bạch, thuyết

phục.

1.7.3 Ngun nhân của rủi ro BL ngân hàng:

* Rủi ro từ phía ngân hàng bảo lãnh:

- Trình độ chun mơn nghiệp vụ: cán bộ tín dụng khơng đủ trình độ đánh giá

khách hàng hoặc đánh giá khơng tốt, cố tình làm sai… sẽ ảnh hưởng đến việc hoạt

động ngân hàng cũng như là những người liên quan.

- Các văn bản thể lệ, chính sách tín dụng: do Ngân hàng ban hành chưa được rõ

ràng và phù hợp, còn chồng chéo lên nhau, chưa sát với thực tế đã gây nên sơ hở để

khách hàng lợi dụng chiếm đoạt vốn của Ngân hàng, gây khó khăn cho Ngân hàng.

- Áp lực cạnh tranh, các Ngân hàng tìm cách kéo khách hàng về mình vì mục

tiêu tăng dư nợ mà giảm nhẹ việc phân tích đánh giá nhận định sai về khách hàng, xem

nhẹ đảm bảo tín dụng.

- Khơng thực hiện hoặc thực hiện khơng tốt các hình thức đảm bảo tín dụng,

khách hàng không hội đủ các điều kiện về tài sản thế chấp nhưng Ngân hàng vẫn thực

hiện bảo lãnh.

- Uy tín năng lực tài chính của ngân hàng: Nếu trong một cam kết bảo lãnh mà

ngân hàng phát hành khơng có nghiệp vụ bảo lãnh vững mạnh, tinh thông thương mại

quốc tế, hay là năng lực tài chính vững mạnh thì sẽ khơng tạo được sự tin tưởng cho

phía người thụ hưởng. Họ có thể tìm được một ngân hàng khác chấp nhận làm ngân

hàng phát hành thư bảo lãnh đối ứng. Ngồi ra nguy cơ ngân hàng khơng thể đảm bảo



SVTH: Lê Thị Thu Hằng



Trang: 10



Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths Võ Hồng Diễm Trinh



việc thực thi cam kết của mình hoặc ngân hàng bị mất khả năng thanh toán sẽ luôn là

mối đe dọa đối với giao dịch này.

* Rủi ro từ phía người nhận bảo lãnh.

Trong một nghiệp vụ bảo lãnh khi người thụ hưởng bảo lãnh yêu cầu ngân hàng

thanh tốn thì người thụ hưởng chỉ cần xuất trình những chứng từ theo yêu cầu, nên

ngân hàng rất dễ bị người thụ hưởng lừa đảo.

* Rủi ro từ phía khách hàng bảo lãnh:

- Tình hình tài chính yếu kém của khách hàng: Khách hàng làm ăn thua lỗ hoặc

kém hiệu quả, cố tình chây ỳ… dẫn đến khơng trả được nợ làm ảnh hưởng đến ngân

hàng. Tình trạng khó khăn về tài chính, vốn kinh doanh khơng được bảo tồn và q

trình trả nợ cho Ngân hàng.

- Tình hình tài chính của các doanh nghiệp khơng minh bạch: gây khó khăn

trong phân tích tín dụng, đánh giá doanh nghiệp dẫn đến đưa ra những quyết định sai.

- Thiếu thông tin về khách hàng: Mặc dù đa số những khách hàng được ngân

hàng tiến hành phát hành thư bảo lãnh đều là những khách hàng có quan hệ với ngân

hàng ít nhất là qua một vài lần tức là ngân hàng đã có những thơng tin về khách hàng

trước khi tiến hành bảo lãnh cho họ. Tuy nhiên, có thể trong suốt thời gian ngân hàng

bảo lãnh thì “Độ uy tín” của doanh nghiệp đối với ngân hàng đã bị giảm sút, doanh

nghiệp làm ăn thất bại dẫn đến khả năng khơng thể trả nợ.

- Trình độ quản lý của ban lãnh đạo yếu kém: thể hiện qua trình độ văn hố, trình

độ chun mơn nghiệp vụ thấp, khơng có năng lực tổ chức điều hành. Nhận thức về

kinh tế thị trường còn mơ hồ, tư cách đạo đức khơng tốt dẩn đến tham ơ lợi dụng gây

thất thốt đến tài sản của doanh nghiệp.

- Người yêu cầu phát hành bảo lãnh cố tình liên kết với người thụ hưởng tìm

cách chiếm đoạt tiền bồi thường bảo lãnh của ngân hàng,...

* Rủi ro khác:

- Rủi ro về Luật pháp: Những qui định về xuất nhập khẩu hàng hoá, quản lý

ngoại hối của quốc gia người phát hành bảo lãnh đóng vai trò rất quan trọng. Mặc dù,

bản chất tự nhiên của bảo lãnh là không liên quan đến hàng hố hay hợp đồng nhưng

đơi khi việc thay đổi các chính sách trên cũng tạo nên những biến cố gây thiệt hại cho

các bên tham gia. Bởi vì ngân hàng phát hành khơng thể thanh tốn hay tiến hành bảo

lãnh một khi Luật pháp không cho phép.



SVTH: Lê Thị Thu Hằng



Trang: 11



Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths Võ Hoàng Diễm Trinh



- Rủi ro bất khả kháng: Ngoài những rủi ro trên ngân hàng còn gặp phải một số

rủi ro khác như lỗi của công nghệ, hay là các rủi ro bất khả kháng như là thiên tai hoạn

nạn tất cả đều ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng….



SVTH: Lê Thị Thu Hằng



Trang: 12



Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths Võ Hoàng Diễm Trinh



CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI NGÂN

HÀNG NN & PTNT QUA 2 NĂM 2017-2018.

2.1 Khái quát về NHNN & PTNT huyện Đại lộc:

2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển của NHNN & PTNT Huyện Đại Lộc.

Ngay sau ngày miền Nam hồn tồn giải phóng, cùng với cả nước nhân dân Đại

Lộc bắt tay vào công cuộc khôi phục và xây dựng, phát triển kinh tế kéo theo đó là sự

ra đời và phát triển của các Ngân hàng.

Ngân hàng Đại Lộc được thành lập vào tháng 7/1975 theo quyết định của tổng

giám đốc Ngân hàng NNVN, với tên gọi là NHNN huyện Đại Lộc. Mơ hình hoạt động

theo cơ chế mơt cấp, nặng về tính chất quản lý NN hơn là hoạt động hạch toán kinh

doanh. Vừa quản lý quỹ ngân sách NN trên địa bàn huyện, vừa cấp phát tín dụng cho

hai thành phần kinh tế chủ yếu: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể.

Mãi đến năm 1988, hoà nhịp cùng đổi mới về phát triển kinh tế chung của cả

nước.Sau khi chính phủ cho phép áp dụng mơ hình ngân hàng hai cấp ở Việt Nam

( Nghị định 53 của HĐBT ngày 26/03/1988 ) và nhất là sau khi hai pháp lệnh ngân

hàng -HTX tín dụng và cơng ty tài chính, ngày 14/11/1990 của chủ tịch HĐBT (nay là

thủ tướng chính phủ ) ra quyết định số 400/CT thành lập ngân hàng nông nghiệp Việt

Nam. Ngân hàng huyện Đại Lộc có tên mới là chi nhánh NHNN & PTNT huyện Đại

Lộc, là đơn vị chi nhánh cấp II trực thuộc hoàn toàn vào NHNN & PTNT tỉnh Quảng

Nam.Đây là NHTM quốc doanh duy nhất hoạt động kinh doanh tiền tệ - tín dụng trên

địa bàn Huyện Đại Lộc. Do vậy ngoài chức năng hoạt động trên lĩnh vực nơng nghiệp

nơng thơn còn thực hiên chức năng kinh doanh đa năng khác nhằm phục vụ tốt cho sự

nghiệp phát triển kinh tế -xã hội của địa phương.

NHNN & PTNT huyện Đại Lộc có trụ sở tại khu 7 TT Ái Nghĩa huyện Đại Lộc

tỉnh Quảng Nam. NHNN & PTNT huyện Đại Lộc chịu sự chỉ đạo điều hành trực tiếp

của NHNN & PTNT tỉnh Quảng Nam. Chi nhánh có nhiệm vụ triển khai, tổ chức thực

hiện tuỳ theo điều kiện cụ thể của địa phương phù hợp với Nghị quyết của huyện đồng

thời có trách nhiệm thông tin điện báo, báo cáo định kỳ hoặc đột xuất tình hình kinh

doanh về Giám đốc NHNN & PTNT Quảng Nam.

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của NHNN & PTNT huyện Đại Lộc.

2.1.2.1 Chức năng

NHNN & PTNT huyện Đại Lộc là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, tín dụng và

các dịch vụ ngân hàng đối với mọi thành phần kinh tế.



SVTH: Lê Thị Thu Hằng



Trang: 13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×