Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
VI. Cấu trúc sáng kiến kinh nghiệm.

VI. Cấu trúc sáng kiến kinh nghiệm.

Tải bản đầy đủ - 0trang

PHẦN II. NỘI DUNG

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1.Tổng quan về các phẩm chất trí tuệ.

Mơn Tốn góp phần quan trọng vào việc phát triển năng lực trí tuệ, hình thành

khả năng suy luận đặc trưng của Toán học cần thiết cho cuộc sống. Một trong những

mục đích dạy học mơn Tốn ở trường phổ thơng đó là giúp học sinh phát triển năng

lực và các phẩm chất trí tuệ.

Phát triển năng lực trí tuệ nhằm: Rèn luyện tư duy lơgic và ngơn ngữ chính xác;

phát triển khả năng suy đoán và tưởng tượng; rèn luyện những hoạt động trí tuệ cơ

bản. Khi giải tốn, trước tiên HS phải nhìn bao quát một cách tổng hợp, phải biết phân

tích cái đã cho và cái phải tìm để từ đó tìm được mối liên hệ giữa chúng. Sau đó dựa

vào các kiến thức đã lĩnh hội được HS linh hoạt, độc lập tìm ra tất cả các lời giải của

bài toán để chọn ra cách giải hay nhất, sáng tạo nhất.

Bên cạnh đó xuất phát từ tính chất đặc thù của mơn Tốn: tính trừu tượng cao

độ, tính chính xác cao, suy luận logic chặt chẽ và là “mơn thể thao của trí tuệ”, tốn

học có khả năng phong phú trong việc rèn luyện và phát triển ở HS óc trừu tượng, tư

duy chính xác, phù hợp với logíc, đặc biệt là rèn luyện các phẩm chất trí tuệ như tính

linh hoạt, tính độc lập, tính sáng tạo.

1.1.1. Tính linh hoạt

Theo tâm lí học, tính linh hoạt của trí tuệ được biểu hiện ở các mặt sau:

*) Khả năng thay đổi phương hướng giải quyết vấn đề phù hợp với sự thay đổi

của các điều kiện, biết tìm ra phương hướng mới để nghiên cứu và giải quyết vấn đề,

khắc phục thái độ dập khuôn theo mẫu định sẵn.

*) Khả năng nhìn nhận một vấn đề, một hiện tượng dưới nhiều khía cạnh hay

góc độ, quan điểm khác nhau: là khả năng giúp học sinh có thói quen nhìn nhận một

vấn đề, một bài tốn trong nhiều trường hợp, nhiều cách khác nhau.

1.1.2. Tính độc lập

Tính độc lập của tư duy thể hiện ở khả năng tự mình nhìn thấy vấn đề phải giải

quyết, tự mình tìm ra lời giải đáp cho vấn đề đó. Ngồi ra tính độc lập liên hệ mật thiết

với tính phê phán của tư duy.

Rèn luyện khả năng hoạt động tư duy độc lập cho HS để chiếm lĩnh kiến thức

là cách hiệu quả nhất để các em hiểu được kiến thức một cách sâu sắc và có ý thức.



Tính độc lập thực sự của HS biểu hiện ở khả năng độc lập suy nghĩ, biết cách

tổ chức cơng việc của mình một cách hợp lí dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của GV.

1.1.3. Tính sáng tạo

Ta thấy tính linh hoạt, tính độc lập, tính phê phán của trí tuệ là điều kiện cần

thiết của tư duy sáng tạo.

Tính sáng tạo của tư duy thể hiện ở khả năng tạo ra cái mới: phát hiện vấn đề

mới, tìm ra hướng đi mới, tạo ra kết quả mới.

Ngồi ra tính sáng tạo bắt nguồn từ lòng say mê học tập, ham muốn hiểu biết,

biến nó thành một nhu cầu, một niềm vui lớn của cuộc sống. Như vậy người GV phải

rèn luyện cho HS sự nhiệt tình tiến lên khơng ngừng, ln ln sáng tạo, có ý thức chủ

động trong học tập.

Trong giải tốn, tính sáng tạo còn được thể hiện các em rất hào hứng tìm nhiều

cách giải khác nhau cho một bài tốn, so sánh đánh giá các cách giải và tìm ra cách

giải hay nhất, đẹp nhất.

1.2. Đặc điểm phát triển trí tuệ của học sinh THCS

Lứa tuổi HS THCS bao gồm các em có độ tuổi từ 11, 12 tuổi đến 14, 15 tuổi.

Đó là những HS đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trường THCS. Lứa tuổi này còn

gọi là lứa tuổi thiếu niên và nó có một vị trí đặc biệt trong thời kỳ phát triển đặc biệt

của trẻ em.

Ở gia đình và nhà trường, thiếu niên có một vị trí mới. Đây là lứa tuổi chuyển

tiếp, là tuổi bắc cầu từ trẻ em lên người lớn. Điều đó được thể hiện ở sự phát triển

mạnh mẽ, thiếu cân đối ở cơ thể, sự phát dục và việc xây dựng lại các quá trình, hoạt

động tâm lý cơ bản ở các em và sự hình thành những phẩm chất mới về các mặt đạo

đức, trí tuệ.

Sự thay đổi tính chất, các hình thức hoạt động học tập cùng với sự phát triển

của nhu cầu nhận thức, hứng thú học tập đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển trí

tuệ của HS THCS nhất là đối với các em HS cuối cấp thì sự biến đổi đó càng rõ rệt

hơn.

1.2.1. Những đặc điểm về hoạt động học tập của học sinh THCS.

Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của HS nên đòi hỏi các em phải thực

hiện nghiêm túc và có trách nhiệm hơn. Việc học tập đã có sự thay đổi căn bản về nội

dung và phương pháp. Lúc này, HS chuyển sang nghiên cứu có hệ thống và việc học



tập đã có sự phân mơn. Mỗi mơn học là những khái niệm, những quy luật được sắp

xếp thành một hệ thống tương đối sâu sắc và độc lập, điều này thúc đẩy khả năng tư

duy trừu tượng và tư duy khái qt của các em. Do đó đòi hỏi các em phải hoạt động

tích cực độc lập, từ chỗ chưa có kĩ năng để tổ chức việc tự học, đến chỗ các em độc lập

làm bài tập ở nhà và ở mức độ cao hơn đó là chuẩn bị tài liệu về bài học mới. Dần dần

hoạt động học tập được xem như là hoạt động tự học nhằm thoả mãn nhu cầu nhận

thức.

Quan hệ giữa GV và HS cũng khác trước. Các em được học với nhiều GV, mỗi

GV có trình độ nghề nghiệp, phương pháp giảng dạy, yêu cầu khác nhau... gây cho

các em những khó khăn nhất định trong học tập, nhưng mặt khác nó cũng tạo điều kiện

để các em phát triển dần phương thức nhận thức từ người khác.

Thái độ tự giác đối với học tập ở tuổi thiếu niên cũng tăng lên rõ rệt, các em ý

thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của học tập nhưng thái độ tự giác tích cực ở

mỗi em là khác nhau. Vì vậy, người GV cần thấy được mức độ phát triển cụ thể ở mỗi

em để kịp thời động viên, hướng dẫn các em khắc phục những khó khăn trong học tập

nhằm khơi gợi nhu cầu tìm tòi sáng tạo và hình thành nhân cách của các em một cách

tốt nhất.

1.2.2. Đặc điểm phát triển trí tuệ của hoc sinh THCS.

Những đặc điểm của hoạt động học tập cùng với sự phát triển của nhu cầu nhận

thức, hứng thú học tập ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển trí tuệ.

Tri giác có chủ định chiếm ưu thế, kĩ năng quan sát được nâng cao, có kế

hoạch, trình tự và tồn diện về mọi mặt.

Trí nhớ của học sinh THCS cũng có sự thay đổi về chất. Năng lực ghi nhớ được

nâng cao rõ rệt. Các em bắt đầu sử dụng một cách có ý thức những thủ thuật ghi nhớ.

Các em đã biết lựa chọn phương pháp ghi nhớ cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của

từng bài, từng môn học, biết thiết lập giữa kiến thức cũ và kiến thức mới, điều này

giúp các em nhớ lâu và đúng hơn.

Tư duy phát triển mạnh đặc biệt là tư duy trừu tượng. Do nội dung của môn học

phong phú, đa dạng, phức tạp đòi hỏi các em phải có năng lực tư duy độc lập cùng sự

vận động liên tục của các thao tác tư duy trong quá trình lĩnh hội tri thức. Tính phê

phán của tư duy cũng được phát triển, các em biết lập luận, giải quyết vấn đề một cách

có căn cứ, biết phân biệt cái đúng, sai trong học tập và trong cuộc sống. Nhưng không



phải lúc nào tư duy của các em cũng là sự suy nghĩ có phê phán mà đôi khi chỉ là

bướng bỉnh, tranh cãi khơng có căn cứ hay nghi ngờ. Điều này ta cần khắc phục ở các

em.

Tưởng tượng của học sinh THCS phát triển hơn so với HS lớp dưới và càng về

cuối cấp trí tưởng tượng ở HS càng phong phú, những biểu tượng của tưởng tượng tái

tạo càng gần hiện thực hơn, tưởng tượng sáng tạo biểu hiện rõ nét khi các em làm thơ,

kể chuyện, giải tốn,...

Ngơn ngữ: do tiếp xúc với nhiều môn học, vốn từ ngữ, thuật ngữ tăng lên rõ rệt

nên ngôn ngữ của HS trở nên phong phú và chính xác hơn.

Với những đặc điểm về phát triển trí tuệ của học sinh THCS nói trên sẽ giúp

các em có khả năng tư duy độc lập và có sự vận động liên tục của các thao tác tư duy

trong quá trình lĩnh hội tri thức.

1.3.Kết luận chương 1

Trong xu thế dạy học mới, tiếp cận với các phương pháp dạy học mới nhằm

hình thành và phát triển những tri thức mới trên nền những tri thức đã có sẵn là yêu

cầu cơ bản nhất trong q trình học tập của HS. Dạy học khơng chỉ cung cấp cho HS

những kiến thức kĩ năng, phương pháp tốn học cơ bản, thiết thực mà còn góp phần

quan trọng vào sự phát triển các phẩm chất trí tuệ cho HS. Việc rèn luyện các phẩm

chất trí tuệ cho học sinh THCS cần tập chung vào ba yếu tố cơ bản đó là tính linh hoạt,

tính độc lập và tính sáng tạo.

Trong chương trình tốn THCS thì bài tốn suy luận lơgic rất rộng và sâu,

tương đối khó với HS. Nó liên quan trực tiếp và mang tính thực tiễn cao, nên có nhiều

tiềm năng khai thác rèn luyện và phát triển các phẩm chất trí tuệ cho HS. Để nâng cao

chất lượng dạy học mơn Tốn và giúp HS hứng thú học tập mơn Tốn nói chung và dạng

tốn suy luận lơgic nói riêng thì người GV cần trang bị cho mình một khối lượng kiến

thức sâu rộng, có phương pháp giảng dạy tích cực, củng cố kiến thức cũ cho HS và là

cầu nối linh hoạt giữa kiến thức và HS, tạo điều kiện cho các em phát huy năng lực của

bản thân. Đó chính là vấn đề người GV THCS cần quan tâm, khai thác nhằm rèn luyện

cho HS các phẩm chất trí tuệ.



CHƯƠNG 2

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN CÁC PHẨM CHẤT TRÍ TUỆ

CHO HỌC SINH QUA GIẢNG DẠY GIẢI BÀI TOÁN SUY LUẬN LƠGIC

2.1. Tư tưởng chủ đạo

Mơn tốn là mơn học có tính trừu tượng cao đòi hỏi phải có sự sáng tạo khơng

ngừng. Vì vậy trong q trình dạy học phải đảm bảo sự thống nhất giữa hoạt động dạy

của thầy và hoạt động học của trò. Thầy giữ vai trò chủ đạo, trò giữ vai trò chủ động,

phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo. Thầy là người điều khiển, hướng

dẫn HS phát hiện và chiếm lĩnh tri thức một cách độc lập từ đó HS phát huy khả năng

tự học và kĩ năng vận dụng những kiến thức vào những tình huống khác nhau trong

học tập và vào thực tiễn.

Để thực hiện các mục tiêu dạy học đối với tất cả HS, đồng thời phát triển tối đa

và tối ưu những khả năng cá nhân, việc kết hợp giữa giáo dục đại trà và giáo dục mũi

nhọn, giữa phổ cập với nâng cao trong dạy học toán ở THCS để đề xuất biện pháp chủ

yếu bồi dưỡng cho học sinh khá, giỏi thông qua việc xác định hình thành bài tập, cần

tiến hành theo các tư tưởng chủ đạo sau:

Lấy trình độ phát triển chung của HS trong lớp làm nền tảng.

Thực hiện theo chuẩn kiến thức kĩ năng, thời lượng quy định của bộ giáo dục và

đào tạo, sở, phòng giáo dục và đào tạo.

Sử dụng biện pháp phân hoá để phân loại HS, đưa diện HS yếu kém lên trình độ

chung.

Xây dựng những nội dung bổ sung và biện pháp để rèn luyện HS lớp 9 đạt được

những yêu cầu cơ bản.

Các dạng hoạt động toán học phải liên quan mật thiết với nội dung mơn tốn ở

trường phổ thơng: Nhận dạng và thể hiện; những hoạt động toán học phức hợp; những

hoạt động trí tuệ phổ biến trong tốn học; những hoạt động trí tuệ chung và những hoạt

động ngơn ngữ. Vì vậy, trong quá trình dạy học GV trong mọi tình huống (tường minh

hay ẩn tàng) cũng đều có ý tưởng góp phần rèn luyện hoạt động tốn học cho HS.

2.2. Đề xuất một số biện pháp rèn luyện các phẩm chất trí tuệ: Rèn luyện phẩm

chất trí tuệ thơng qua các chủ đề

2.2.1 Chủ đề 1: Một số phương pháp giải bài tốn suy luận lơgic

1. Phương pháp 1: Phương pháp lập bảng.



Các bài toán giải bằng phương pháp lập bảng thường xuất hiện hai nhóm đối

tượng (chẳng hạn tên người và nghề nghiệp, hoặc vận động viên và giải thưởng, hoặc

tên sách và màu bìa, ... ). Khi giải ta thiết lập 1 bảng gồm các hàng và các cột. Các cột

ta liệt kê các đối tượng thuộc nhóm thứ nhất, còn các hàng ta liệt kê các đối tượng

thuộc nhóm thứ hai.

Dựa vào điều kiện trong đề bài ta loại bỏ đần (Ghi số 0) các ô (là giao của mỗi

hàng và mỗi cột). Những ơ còn lại (khơng bị loại bỏ) là kết quả của bài tốn.

Bài tốn 1.1.1: Trong 1 buổi học nữ cơng ba bạn Cúc, Đào, Hồng làm 3 bông hoa cúc,

đào, hồng. Bạn làm hoa hồng nói với Cúc: Thế là trong chúng ta chẳng ai làm loại hoa

trùng với tên mình cả. Hỏi ai đã làm hoa nào?

Bài làm

Ta có bảng chân lí sau :

Hoa



cúc



đào



hồng



khơng







Khơng



khơng







Bạn

Cúc

Đào

Hồng







khơng



Nhìn vào bảng ta thấy : Cúc làm hoa đào

Đào làm hoa hồng

Hồng làm hoa cúc.

Bài toán 1.1.2 : Ba người thợ hàn, thợ tiện, thợ điện đang ngồi trò chuyện trong giờ

giải lao. Người thợ hàn nhận xét :

Ba ta làm nghề trùng với tên của 3 chúng ta nhưng không ai làm nghề trùng với

tên của mình cả.

Bác Điện hưởng ứng: Bác nói đúng.

Em cho biết tên và nghề nghiệp của mỗi người thợ đó.

Bài làm

Nghề



hàn



tiện



điện



Tên

Hàn



0



x



Tiện



x



0



Điện



0



X



0



Bác Điện hưởng ứng lời bác thợ hàn nên bác Điện không làm thợ hàn

→ Bác Điện làm thợ tiện.

Bác Hàn phải làm thợ điện.

Bác Tiện phải làm thợ hàn.

Bài toán 1.1.3: Năm người thợ tên là: Da, Điện, Hàn, Tiện và Sơn làm 5 nghề khác

nhau trùng với tên của tên của 5 người đó nhưng khơng có ai tên trùng với nghề của

mình. Tên của bác thợ da trùng với nghề của anh vợ mình và vợ bác chỉ có 2 anh em.

Bác tiện khơng làm thợ sơn mà lại là em rể của bác thợ hàn. Bác thợ sơn và bác thợ da

là 2 anh em cùng họ. Em cho biết bác Da và bácTiện làm nghề gì?

Bài làm

Tên

Nghề



Da



da



0



điện



0



hàn



x



Điện



Hàn



Tiện



Sơn



0

0



tiện



x

0



0

0



sơn



0



0



0



Bác Tiện không làm thợ sơn. Bác Tiện là em rể của bác thợ hàn nên bác Tiện

không làm thợ hàn → Bác Tiện chỉ có thể là thợ da hoặc thợ điện.

Nếu bác Tiện làm thợ da thì bác Da là thợ điện. Như vậy bác Tiện vừa là em rể

của bác thợ tiện vừa là em rể của bác thợ hàn mà vợ bác Tiện chỉ có 2 anh em. Điều

này vơ lí.

→ Bác Tiện là thợ điện

Bác Da và bác thợ sơn là 2 anh em cùng họ nên bác Da không phải là thợ

sơn. Theo lập luận trên bác Da không là thợ tiện → Bác Da là thợ hàn.

Bài toán 1.1.4 : Trên bàn là 3 cuốn sách giáo khoa : Văn, Toán và Địa lí được bọc 3

màu khác nhau : Xanh, đỏ, vàng. Cho biết cuốn bọc bìa màu đỏ đặt giữa 2 cuốn Văn

và Địa lí, cuốn Địa lí và cuốn màu xanh mua cùng 1 ngày. Bạn hãy xác định mỗi cuốn

sách đã bọc bìa màu gì?

Bài làm

Ta có bảng sau :



Tên sách

Màu bìa



Văn



Tốn



Địa



x



Xanh



0

1



0



đỏ



3



2

x



4



0

5



6

x



vàng



7



8



9



Theo đề bài “Cuốn bìa màu đỏ đặt giữa 2 cuốn Văn và Địa lí” . Vậy cuốn sách

Văn và Địa lí đều khơng đặt màu đỏ cho nên cuốn toán phải bọc màu đỏ. Ta ghi số 0

vào ô 4 và 6, đánh dấu x vào ô 5.

Mặt khác, “Cuốn Địa lí và cuốn màu xanh mua cùng ngày”. Điều đó có nghĩa

rằng cuốn Địa lí khơng bọc màu xanh. Ta ghi số 0 vào ô 3.

- Nhìn vào cột thứ 4 ta thấy cuốn địa lí không bọc màu xanh, cũng không bọc màu đỏ.

Vậy cuốn Địa lí bọc màu vàng. Ta đánh dấu x vào ô 9.

- Nhìn vào cột 2 và ô 9 ta thấy cuốn Văn không bọc màu đỏ, cũng không bọc màu

vàng. Vậy cuốn Văn bọc màu xanh. Ta đánh dấu x vào ô 1.

Kết luận : Cuốn Văn bọc màu xanh, cuốn Tốn bọc màu đỏ, cuốn Địa lí bọc

màu vàng.

* Bài tập đề xuất :

Bài tập 1.1.1 : Giờ Văn cô giáo trả bài kiểm tra. Bốn bạn Tuấn, Hùng, Lan, Quân ngồi

cùng bàn đều đạt điểm 8 trở lên. Giờ ra chơi Phương hỏi điểm của 4 bạn, Tuấn trả lời :

- Lan khơng đạt điểm 10, mình và Qn khơng đạt điểm 9 còn Hùng khơng đạt

điểm 8.

Hùng thì nói :

- Mình khơng đạt điểm 10, Lan khơng đạt điểm 9 còn Tuấn và Qn đều khơng

đạt điểm 8.

Bạn hãy cho biết mỗi người đã đạt mấy điểm?.

Bài tập 1.1.2 : Ở 3 góc vườn trồng cây cảnh của ơng nội trồng 4 khóm hoa cúc, huệ,

hồng và dơn. Biết rằng hai góc vườn phía tây và phía bắc khơng trồng huệ. Khóm huệ

trồng giữa khóm cúc và góc vườn phía nam, còn khóm dơn thì trồng giữa khóm hồng

và góc vườn phía bắc.



Bạn hãy cho biết mỗi góc vườn ơng nội đã trồng hoa gì?

Bài tập 1.1.3: Ba thầy giáo dạy 3 mơn văn, tốn, lí trò chuyện với nhau. Thầy dạy lí

nhận xét : “Ba chúng mình có tên trùng với 3 mơn chúng ta dạy, nhưng khơng ai có

tên trùng với mơn mình dạy”. Thầy dạy tốn hưởng ứng : “Anh nói đúng”.

Em hãy cho biết mỗi thầy dạy mơn gì?

Bài tập 1.1.4: Trong đêm dạ hội ngoại ngữ, 3 cô giáo dạy tiếng Nga, tiếng Anh và

tiếng Nhật được giao phụ trách. Cô Nga nói với các em : “Ba cơ dạy 3 thứ tiếng trùng

với tên của các cơ, nhưng chỉ có 1 cơ có tên trùng với thứ tiếng mình dạy”. Cơ dạy

tiếng Nhật nói thêm : “Cơ Nga đã nói đúng” rồi chỉ vào cơ Nga nói tiếp : “Rất tiếc cô

tên là Nga mà lại không dạy tiếng Nga”. Em hãy cho biết mỗi cô giáo đã dạy tiếng gì?

Bài tập 1.1.5: Ba thầy giáo Văn, Sử, Hố dạy 3 mơn văn, sử, hố trong đó chỉ có 1

thầy có tên trùng với mơn mình dạy. Hỏi mỗi thầy dạy mơn gì, biết thầy dạy mơn hố

ít tuổi hơn thầy văn, thầy sử.

2. Phương pháp 2. Phương pháp lựa chọn tình huống

Bài tốn 1.2.1: Trong kì thi HS giỏi tỉnh có 4 bạn Phương, Dương, Hiếu, Hằng tham

gia. Được hỏi quê mỗi người ở đâu ta nhận được các câu trả lời sau :

Phương : Dương ở Thăng Long còn tơi ở Quang Trung

Dương : Tơi cũng ở Quang Trung còn Hiếu ở Thăng Long

Hiếu



: Khơng, tơi ở Phúc Thành còn Hằng ở Hiệp Hồ



Hằng



: Trong các câu trả lời trên đều có 1 phần đúng 1 phần sai.



Em hãy xác định quê của mỗi bạn.

Bài làm

Vì trong mỗi câu trả lời đều có 1 phần đúng và 1 phần sai nên có các trường

hợp :

- Giả sử Dương ở Thăng Long là đúng → Phương ở Quang Trung là sai

→ Hiếu ở Thăng Long là đúng

Điều này vô lí vì Dương và Hiếu cùng ở Thăng Long.

-



Giả sử Dương ở Thăng Long là sai → Phương ở Quang Trung và do đó Dương ở

Quang Trung là sai → Hiếu ở Thăng Long

Hiếu ở Phúc Thành là sai → Hằng ở Hiệp Hồ

Còn lại → Dương ở Phúc Thành.



Bài tốn 1.2.2: Năm bạn Anh, Bình, Cúc, Doan, An q ở 5 tỉnh : Bắc Ninh, Hà Tây,

Cần Thơ, Nghệ An, Tiền Giang. Khi được hỏi quê ở tỉnh nào, các bạn trả lời như sau :

Anh : Tôi quê ở Bắc Ninh còn Doan ở Nghệ An

Bình : Tơi cũng quê ở Bắc Ninh còn Cúc ở Tiền Giang

Cúc : Tơi cũng q ở Bắc Ninh còn Doan ở Hà Tây

Doan : Tơi q ở Nghệ An còn An ở Cần Thơ

An : Tơi q ở Cần Thơ còn Anh ở Hà Tây

Nếu mỗi câu trả lời đều có 1 phần đúng và 1 phần sai thì quê mỗi bạn ở đâu?

Bài làm

Vì mỗi câu trả lời có 1 phần đúng và 1 phần sai nên có các trường hợp :

- Nếu Anh ở Bắc Ninh là đúng → Doan khơng ở Nghệ An → Bình và Cúc ở Bắc

Ninh là sai → Cúc ở Tiền Giang và Doan ở Hà Tây.

Doan ở Nghệ An là sai →An ở Cần Thơ và Anh ở Hà Tây là sai.

Còn bạn Bình ở Nghệ An (Vì 4 bạn quê ở 4 tỉnh rồi)

- Nếu Anh ở Bắc Ninh là sai → Doan ở Nghệ An

Doan ở Hà Tây là sai → Cúc ở Bắc Ninh. Từ đó Bình ở Bắc Ninh phải sai

→ Cúc ở Tiền Giang

Điều này vơ lí vì cúc vừa ở Bắc Ninh vừa ở Tiền Giang (loại)

Vậy : Anh ở Bắc Ninh; Cúc ở Tiền Giang; Doan ở Hà Tây; An ở Cần Thơ và Bình ở

Nghệ An.

Bài tốn 1.2.3: Asian cup 2012 có 4 đội lọt vào vòng bán kết : Việt Nam, Singapor, Thái

Lan và Inđơnêxia. Trước khi vào đấu vòng bán kết ba bạn Dũng, Quang, Tuấn dự đốn

như sau

Dũng : Singapor nhì, còn Thái Lan ba.

Quang : Việt Nam nhì, còn Thái Lan tư.

Tuấn : Singapor nhất và Inđơnêxia nhì.

Kết quả mỗi bạm dự đoán đúng một đội và sai một đội. Hỏi mỗi đội đã đạt giải mấy ?

Bài làm

- Nếu Singapor đạt giải nhì thì Singapor khơng đạt giải nhất.Vậy theo Tuấn thì

Inđơnêxia đạt giải nhì. Điều này vơ lý, vì hai đội đều đạt giải nhì .

- Nếu Singapor khơng đạt giải nhì thì theo Dũng, Thái Lan đạt giải ba. Như vậy Thái

Lan không đạt giải tư. Theo Quang, Việt Nam đạt giải nhì.Thế thì Inđơnêxia khơng đạt



giải nhì. Vậy theo Tuấn, Singapor đạt giải nhất, cuối cùng còn đội Inđônêxia đạt giải

tư.

Kết luận : Thứ tự giải của các đội trong cúp Asian cup 2012 là :

Nhất: Singapor



;



Nhì :



Việt Nam.



Ba : Thái Lan



;



Tư :



Inđơnêxia



Bài tốn 1.2.4: Gia đình Lan có 5 người :ơng nội, bố, mẹ, Lan và em Hồng. Sáng chủ

nhật cả nhà thích đi xem xiếc nhưng chỉ mua được 2 vé. Mọi người trong gia đình đề

xuất 5 ý kiến : Hồng và Lan đi

Bố và mẹ đi

Ơng và bố đi

Mẹ và Hồng đi

Hồng và bố đi.

Cuối cùng mọi người đồng ý với đề nghị của Lan vì theo đề nghị đó thì mỗi đề

nghị của 4 người còn lại trong gia đình đều đư ợc thoả mãn 1 phần. Bạn hãy cho biết ai

đi xem xiếc hơm đó.

Bài làm

Ta nhận xét :

- Nếu chọn đề nghị thứ nhất thì đề nghị thứ hai bị bác bỏ hồn tồn. Vậy khơng

thể chọn đề nghị thứ nhất.

- Nếu chọn đề nghị thứ hai thì đề nghị thứ nhất bị bác bỏ hồn tồn. Vậy khơng

thể chọn đề nghị thứ hai.

- Nếu chọn đề nghị thứ ba thì đề nghị thứ tư bị bác bỏ hồn tồn. Vậy không thể

chọn đề nghị thứ ba.

- Nếu chọn đề nghị thứ tư thì đề nghị thứ ba bị bác bỏ hồn tồn. Vậy khơng thể

chọn đề nghị thứ tư.

- Nếu chọn đề nghị thứ năm thì cả 4 đề nghị trên đều thoả mãn một phần và bác

bỏ một phần. Vậy sáng hơm đó Hồng và bố đi xem xiếc.

*Bài tập đề xuất :

Bài tập 1.2.1: Trong 1 cuộc chạy thi 4 bạn An, Bình, Cường, Dũng đạt 4 giải : nhất,

nhì, ba, tư. Khi được hỏi : Bạn Dũng đạt giải mấy thì 4 bạn trả lời :

An : Tơi nhì, Bình nhất.

Bình : Tơi cũng nhì, Dũng ba.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

VI. Cấu trúc sáng kiến kinh nghiệm.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×