Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP LĨNH VỰC DỊCH VỤ VỚI CỘNG ĐỒNG ASEAN

VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP LĨNH VỰC DỊCH VỤ VỚI CỘNG ĐỒNG ASEAN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bên cạnh đó, Luật đầu tư 2005 được áp dụng thống nhất cho các nhà đầu tư trong

nước và nước ngồi, giúp Việt Nam có thể thực hiện tốt ngun tắc đối xử quốc

gia (NT) nhằm đảm bảo sự đối xử bình đẳng giữa nhà cung cấp dịch vụ trong

nước và nước ngoài.

Đối với thực hiện các cam kết chung liên quan đến vấn đề Hiện diện thể

nhân (Mode 4), việc cung cấp dịch vụ thông qua Hiện diện thể nhân hiện nay

được điều chỉnh bởi các văn bản chủ yếu gồm: Luật Đầu tư 2005; Pháp lệnh năm

2000 về Nhập cảnh, Xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài ở Việt Nam; Bộ

luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động. Tuy nhiên,

cần lưu ý là cũng giống như các nước thành viên ASEAN khác, Việt Nam hầu

như không cam kết đối với Hiện diện thể nhân. Do đó, trong khi Việt Nam tích

cực rà sốt và sửa đổi các văn bản pháp luật của Việt Nam theo hướng chú trọng

đến việc thực hiện cam kết trong Hiện diện thương mại, thì các cam kết chung

trong Hiện diện thể nhân dường như bị bỏ qua. Có thể thấy các quy định của

Pháp lệnh cũng như Luật đầu tư nhìn chung chưa đáp ứng cam kết của Việt Nam.

Nhiều Điều, Khoản trong Pháp lệnh chưa rõ ràng, chính xác, bộc lộ nhiều bất

cập, mâu thuẫn. Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đang tiến hành sửa đổi một số

văn bản liên quan đến lao động để đảm bảo tuân thủ cam kết của Việt Nam trong

GATS cũng như AFAS.



2.2.



Tình hình phát triển một số nhóm ngành dịch vụ



2.2.1. Dịch vụ Du lịch

Việt Nam cũng đã ký kết Nghị định thư Hội nhập ngành du lịch ASEAN

cũng như đã tham gia tích cực, tồn diện và có những đóng góp quan trọng đối

với du lịch ASEAN. Trong lĩnh vực đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch,

Việt Nam đã chủ trì xây dựng Sách hướng dẫn thực hiện Thỏa thuận công nhận

lẫn nhau đối với các nghề du lịch ASEAN. Từ năm 2013, Việt Nam đã đảm

nhiệm vai trò Trưởng nhóm cơng tác Marketing và Truyền thơng, phát huy vai

trò chủ động, tích cực trong hợp tác du lịch ASEAN, được các nước đánh giá

cao. Bên cạnh đó, Việt Nam đang chủ trì nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch

đường sông ASEAN, với sự hỗ trợ và hợp tác của Tổ chức Du lịch thế giới,

Malaysia và các nước ASEAN.

Từ khi trở thành thành viên của ASEAN, du lịch Việt Nam đã coi trọng

đẩy mạnh hợp tác đa phương với các nước bạn và đạt được kết quả đáng khích lệ,

thu hút ngày càng nhiều khách quốc tế đến từ khu vực ASEAN. Những năm gần

đây, lượng khách từ thị trường ASEAN vào Việt Nam có tốc độ tăng trưởng khá

cao.Số lượt khách du lịch ASEAN đến Việt Nam chỉ đạt khoảng 8,5% năm 2009

thì đến năm 2012 đã tăng lên gần 20%. Việt Nam hiện nằm trong tốp 5 điểm đến

hàng đầu khu vực ASEAN và tốp 100 điểm đến hấp dẫn của du lịch thế giới.

Theo Số liệu của Tổng cục du lịch năm 2014, số lượt khách du lịch ASEAN sang

9



Việt Nam năm 2013 là hơn 1,5 triệu lượt trong tổng số hơn 7,5 triệu lượt khách

du lịch đến Việt Nam, chiếm khoảng 20%.



2.2.2. Dịch vụ Logistics

Việt Nam đã ký Nghị định thư về lộ trình hội nhập ASEAN về Dịch vụ

Logistics và cam kết tự do hóa hầu hết các phân ngành chủ yếu trong dịch vụ

Logistics đến năm 2013. Đến nay, Việt Nam đang trong q trình hồn thiện hệ

thống văn bản luật lệ, nâng cao năng lực quản lý nhà nước và có chính sách cụ

thể về Logistics phù hợp với các cam kết trong ASEAN. Việt Nam cũng đã đạt

mức tự do hóa có ý nghĩa với một lộ trình hợp lý đối với các phân ngành bổ trợ

cho dịch vụ Logistics. Đối với một số phân ngành dịch vụ mà Việt Nam có lợi

thế cung cấp như dịch vụ xếp dỡ container với hàng hóa vận chuyển đường biển,

đại lý kho bãi và đại lý vận tải hàng hóa, dịch vụ thơng quan…Việt Nam đặt hạn

chế vốn góp nước ngồi khơng vượt q 50% hoặc đặt ra lộ trình cho phép tăng

vốn góp của phía nước ngoài từ 5 -7 năm. Trong nội bộ ASEAN. Việt Nam được

đánh giá chúng ta đã phát huy hiệu quả chương trình kết nối Logistics trong khu

vực ASEAN.



2.2.3. Dịch vụ Công nghệ thông tin

Việt Nam đã và đang tăng cường hợp tác song phương về Viễn thông và

Công nghệ thông tin với các nước ASEAN. Hội nghị ASEAN TELMIN lần thứ

15 tổ chức tại Việt Nam cũng góp phần thúc đẩy các cơ hội phát triển của ngành

Công nghệ thông tin Việt Nam với các nước trong khu vực. Việt Nam cũng đã có

những nỗ lực để hình thành một nền tảng cho sự phát triển của Chính phủ điện tử

theo đúng tinh thần của Nghị định thư Hội nhập e-ASEAN như: xây dựng và

triển khai thành công nhiều Dự án, Đề án ứng dụng công nghệ thông tin; xây

dựng và đưa vào hoạt động thử nghiệm Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp

luật; xây dựng và triển khai các phần mềm ứng dụng. Bên cạnh đó, Việt Nam

cũng đã có những nỗ lực để thực hiện điện tử hố các biện pháp liên quan trong

đó nổi bật là Hải quan điện tử như áp dụng thủ tục hải quan điện tử và Hệ thống

quản lý & cấp chứng nhận xuất xứ điện tử.



3.



Cơ hội và thách thức



3.1.



Cơ hội



Việt Nam đã có những nỗ lực mở cửa thị trường dịch vụ trong gói AFAS

8, điều này giúp Việt Nam đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ trong

việc hội nhập AEC trong lĩnh vực thương mại dịch vụ.Việt Nam được đánh giá là

đã thực hiện nghiêm túc các cam kết chung, cam kết cụ thể và có động thái chủ

động trong việc tham gia vào mở cửa các lĩnh vực dịch vụ ưu tiên của ASEAN.



10



Việc gia nhập AEC cũng hứa hẹn mang đến cho Việt Nam nhiều cơ hội tiềm

năng để phát triển lĩnh vực dịch vụ của mình:

Cơ hội có được thị trường rộng lớn hơn: ASEAN có tổng GDP trên 2,7

nghìn tỷ USD, tăng trưởng trung bình 5%-6% hàng năm. Dân số trên 600 triệu

người, với cơ cấu dân số tương đối trẻ. Thu nhập bình quân đầu người trên 4.500

USD/người/năm. Thu hút đầu tư nước ngoài năm 2012 đạt 110 tỷ USD. AEC với

việc tự do hóa dịch chuyển dịch vụ trong khu vực ASEAN sẽ khuyến khích các

hoạt động kinh doanh và đầu tư lớn hơn ở khu vực. Đầu tư nước ngoài trực tiếp

gia tăng và hoạt động kinh tế ở khu vực đương nhiên sẽ mang lại việc gia tăng

nhu cầu bảo hiểm ở Đông Nam Á. Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có thể đầu tư

vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ nhiều hơn. Đây là cơ hội tốt để các

doanh nghiệp Việt Nam nắm bắt thời cơ mở rộng thị trường dịch vụ.

Cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ: Khi AEC

được thành lập, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có thị trường rộng lớn hơn. Điều này

cũng dẫn tới sự thiết yếu của việc nâng cao chất lượng, quy mô của các sản phẩm

dịch vụ của Việt Nam để có thể chiếm được ưu thế và cạnh tranh được với các

sản phẩm dịch vụ từ các nền kinh tế thành viên khác của ASEAN. Thêm vào đó,

khi thuế suất trong ASEAN giảm xuống 0%, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có

điều kiện giảm chi phí, hạ giá thành các sản phẩm thuộc lĩnh vực dịch vụ, góp

phần gia tăng năng lực cạnh tranh.

Cơ hội thu hút các nguồn đầu tư: Cơ hội được trông đợi nhất từ việc gia

nhập AEC là sự đầu tư và hợp tác đến từ các nền kinh tế lớn, phát triển. Việc kết

nối và xây dựng một ASEAN thống nhất, bớt chia cắt hơn sẽ khiến các nhà đầu

tư lớn nhìn ASEAN như một sân chơi chung, ở đó có khối nguồn lực thống nhất,

đặc biệt là nguồn nhân lực có kỹ năng với giá còn tương đối rẻ. AEC cũng sẽ

giúp Việt Nam cải thiện tốt hơn môi trường dịch vụ từ thủ tục hải quan, thủ tục

hành chính cho tới việc tạo ra ưu đãi đầu tư cân bằng hơn. Thu hút đầu tư nhiều

hơn đồng nghĩa với quá trình chuyển giao cơng nghệ diễn ra nhanh và tích cực

hơn, góp phần nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ.

Nếu phát huy được các tiềm năng sẵn có, kết hợp với việc đẩy mạnh giao

lưu, hợp tác cùng phát triển với các quốc gia trong ASEAN và ngoài khu vực,

ngành dịch vụ của Việt Nam có thể phát triển mạnh mẽ và vươn lên nhóm đầu

trong khu vực. Điều này sẽ góp phần khơng nhỏ giúp nâng cao vị thế của Việt

Nam trên thế giới, tạo điều kiện để mở rộng thị trường dịch vụ, thu hút được

nhiều vốn đầu tư trong và ngồi nước.



3.2.



Thách thức



Q trình tiến tới hội nhập thương mại dịch vụ tại Việt Nam hứa hẹn đem

lại nhiều tiềm năng phát triển nhưng cũng đồng thời đặt ra khơng ít thách thức

đối với lĩnh vực thương mại dịch vụ:

11



Chênh lệch về trình độ phát triển: Hiện tại Việt Nam vẫn đang phải đối

diện với thách thức về chênh lệch trình độ phát triển so với các nước ASEAN - 6.

Khi đã gia nhập AEC, Việt Nam sẽ phải tập trung nguồn lực để phát triển thị

trường dịch vụ ở cả quy mô vốn, chất lượng doanh nghiệp, trình độ khoa học

cơng nghệ,… để có thể bắt kịp với một số nền kinh tế lớn của ASEAN.

Sự cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp nước ngoài: Với việc đẩy

mạnh tự do hóa thương mại dịch vụ nội khối, hàng rào thuế quan và phi thuế

quan giữa các nước thành viên AEC sẽ dần bị xóa bỏ. Điều này cũng đồng nghĩa

với việc Việt Nam phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt của các doanh nghiệp

dịch vụ từ các nước thành viên ASEAN. Hiện nay các rào cản, điều kiện đối với

nhà cung cấp dịch vụ nước ngồi vào Việt Nam vẫn còn tương đối cao, do đó các

doanh nghiệp dịch vụ Việt Nam đang được “bao bọc” khá kỹ lưỡng trong nhiều

lĩnh vực dịch vụ. Tuy nhiên việc gia nhập AEC đòi hỏi các doanh nghiệp sẽ phải

ứng biến nhanh nhạy, tự làm mới mình để có thể nâng cao sức cạnh tranh trong

một môi trường dịch vụ khốc liệt.

Theo đánh giá thực trạng chung của ASEAN, trong đó có Việt Nam, đó là

lĩnh vực tự do hoá thương mại dịch vụ chưa đạt được hiệu quả cao. Việt Nam

trong các giai đoạn vừa qua có mức thực thi khá cao, tuy nhiên tự do hố dịch vụ

ln là lĩnh vực nằm trong số các vấn đề còn cần cải thiện và phát triển. Điều đó

đồng nghĩa với việc Việt Nam cùng các nước ASEAN phải có những nỗ lực lớn

đề hồn thành nốt các cơng việc để hiện thực hố Kế hoạch AEC 2015 trong lĩnh

vực dịch vụ.



4.



Giải pháp



Để có thể mở rộng thị trường dịch vụ và nhanh chóng tiến tới tự do hóa

dịch vụ, Việt Nam cần có quan điểm thống nhất và kiên định về vấn đề hội nhập

nói chung và hội nhập AEC nói riêng. Mặc dù cần hiểu rõ các thách thức từ AEC,

Việt Nam cần nhìn nhận AEC như một cơ hội và từ đó có các chính sách, biện

pháp thích hợp để thu được lợi ích từ AEC. Nói cách khác, Việt Nam cũng như

các nước ASEAN khác cần có cái nhìn mang tính khu vực để đảm bảo lợi ích lâu

dài cho tồn bộ khu vực.

Đối với Nhà nước, chúng ta cần hỗ trợ doanh nghiệp về thông tin qua các

cuộc hội thảo, đào tạo giới thiệu về thị trường các nước trong ASEAN, giới thiệu

những ưu đãi và thuận lợi mà doanh nghiệp VN được hưởng cũng như những

khó khăn mà doanh nghiệp có thể gặp phải nhằm giúp cho doanh nghiệp định

hướng chiến lược phát triển sản phẩm tại các thị trường dịch vụ. Bên cạnh đó,

Nhà nước cần tiếp tục hồn thiện các chính sách, cơ chế quản lý trong các ngành

dịch vụ, đặc biệt là các ngành ưu tiên và các ngành ASEAN có gói cam kết riêng

như tài chính, vận tải hàng khơng, logistics và thương mại điện tử,… Ngồi ra,

12



để chuẩn bị tốt hơn cho việc thực hiện các MRAs trong khuôn khổ AEC, Việt

Nam cần chuẩn bị tốt hơn cho việc di chuyển lao động lành nghề trong ASEAN.

Đối với doanh nghiệp, bản thân các doanh nghiệp cần linh hoạt, nhạy bén,

nhận diện và nắm bắt được các cơ hội phát triển, đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ.

Doanh nghiệp cũng phải luôn trong thế chủ động nâng cao sức cạnh tranh, sẵn

sàng hội nhập với các xu thế mới như tự do hóa đầu tư, giảm và xóa bỏ thuế

quan, đơn giản hóa thủ tục,…Doanh nghiệp cũng cần tự nỗ lực đổi mới công

nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, có những điều chỉnh trong cơ cấu hoạt

động để thích ứng với những quy định, tiêu chí mới trong AEC để có thể hưởng

ưu đãi từ các chính sách thuế quan. Cuối cùng, bản thân các doanh nghiệp cũng

nên trang bị các phương thức quản lý rủi ro hiệu quả, thường xuyên cập nhật,

nắm rõ thông tin và các cơ sở pháp lý, giải quyết tranh chấp để có thể bảo vệ

quyền lợi của mình và xử lý hiệu quả những vấn đề nảy sinh.



13



KẾT LUẬN

Bài tiểu luận xin được kết thúc tại đây, với hy vọng đã đem lại một cái

nhìn khái quát nhất về Cộng đồng Kinh tế ASEAN với lĩnh vực dịch vụ nói

chung và vấn đề thực hiện quá trình hội nhập lĩnh vực dịch vụ tại Việt Nam

nói riêng, cũng như đưa ra một số giải pháp khả dụng trong việc xây dựng

và thực hiện hội nhập dịch vụ đối với nền kinh tế Việt Nam. Tham gia vào

Cộng đồng Kinh tế ASEAN, nếu như có thể hiểu rõ và giải quyết hiệu quả

các vấn đề còn tồn đọng, đồng thời nhanh nhạy nắm bắt được các cơ hội,

tiềm năng phát triển thì nền kinh tế Việt Nam đặc biệt là trong lĩnh vực dịch

vụ sẽ có thể khẳng định được vị thế của mình và vươn xa hơn nữa trên

trường quốc tế. Một lần nữa, bài viết không thể tránh khỏi nhiều sai sót do

sự hạn chế về nhận thức và hiểu biết của người viết; nhóm em xin chân

thành mong cơ và các bạn đọc và đóng góp ý kiến để bài tiểu luận về vấn

đề này được hoàn thiện hơn.



14



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.



Th.S Vũ Thanh Hương, Th.S Trần Việt Dũng – “Việt Nam với q trình



tự do hóa thương mại dịch vụ hướng tới Cộng đồng Kinh tế ASEAN năm

2015” ( Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN)

2.

TS. Ngô Tuấn Anh – “Hướng tới Cộng đồng Kinh tế ASEAN 2015:

Những vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp Việt Nam” – (Trường Đại học

Kinh tế quốc dân)

3.

“Cộng đồng Kinh tế ASEAN - Sổ tay kinh doanh” – (Ban thư ký

ASEAN, Jakarta, năm 2011)

4.

“Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)” – (Ban Thư ký ASEAN Quốc

gia Việt Nam, Vụ ASEAN, Bộ Ngoại giao)

(http://asean.mofa.gov.vn/vi/review )

5.

“Tổng quan về AFTA và AEC” – (Sở Công thương tỉnh Ninh Thuận,

năm 2014)

(http://www.ninhthuan.gov.vn/chinhquyen/soct/Pages/Ky-2-TONGQUAN-VE-AFTA--AEC.aspx)

6.

“Việt Nam tăng cường hợp tác song phương về viễn thông và CNTT

với các nước ASEAN” – (Tạp chí Cơng nghệ thơng tin và truyền thơng, Bộ

Thông tin và Truyền thông)

(http://www.tapchibcvt.gov.vn/viet-nam-tang-cuong-hop-tac-songphuong-ve-vien-thong-va-cntt-voi-cac-nuoc-asean.htm)



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP LĨNH VỰC DỊCH VỤ VỚI CỘNG ĐỒNG ASEAN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×