Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (AEC)

TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (AEC)

Tải bản đầy đủ - 0trang

Cộng đồng Kinh tế ASEAN – ASEAN Economic Community (AEC) là một

trong ba trụ cột quan trọng của Hiệp hội các quốc gia Đơng Nam Á ASEAN:

kinh tế, chính trị – an ninh, văn hóa – xã hội. Đây là khối hợp tác kinh tế khu vực

của các quốc gia thành viên ASEAN nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra trong

Tầm nhìn ASEAN và những mục tiêu được khẳng định trong Tuyên bố Hòa hợp

ASEAN (Tuyên bố Bali II): “Tạo dựng một khu vực kinh tế ASEAN ổn định,

thịnh vượng và cạnh tranh cao, nơi có sự di chuyển tự do của hàng hóa,dịch vụ,

đầu tư, và có sự di chuyển tự do hơn của các luồng vốn, phát triển kinh tế đồng

đều và giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách chênh lệch về kinh tế - xã hội…”. Ngày

22/11/2015, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 27, lãnh đạo 10 nước thành

viên trực thuộc Hiệp hội các quốc gia Đơng Nam Á ASEAN đã chính thức thơng

qua Tun bố thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), cam kết thúc đẩy tự

do thương mại và đầu tư tài chính. Cộng đồng Kinh tế ASEAN sẽ chính thức có

hiệu lực vào ngày 31/12/2015 và hứa hẹn đánh dấu một cơ hội lớn về đầu tư và

thương mại cho tất cả các nước thành viên ASEAN và các nhà đầu tư nước

ngoài.



2.



Các nội dung của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)

Bốn đặc điểm đồng thời cũng là yếu tố cấu thành của Cộng đồng Kinh tế

ASEAN bao gồm tạo dựng:

Một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất thống nhất: xây dựng thông qua

các nội dung như Tự do lưu chuyển hàng hoá; Tự do lưu chuyển dịch vụ; Tự do

lưu chuyển đầu tư; Tự do lưu chuyển vốn và Tự do lưu chuyển lao động có tay

nghề. Các biện pháp chính mà ASEAN sẽ thực hiện để xây dựng một thị trường

chung và cơ sở sản xuất thống nhất bao gồm: dỡ bỏ thuế quan và các hàng rào

phi thuế quan; thuận lợi hóa thương mại, hài hòa hóa các tiêu chuẩn sản phẩm

(hợp chuẩn) và quy chế, giải quyết nhanh chóng hơn các thủ tục hải quan và xuất

nhập khẩu, hoàn chỉnh các quy tắc về xuất xứ, tạo thuận lợi cho dịch vụ, đầu tư,

tăng cường phát triển thị trường vốn ASEAN và tự do lưu chuyển hơn của dòng

vốn, thuận lợi hóa di chuyển lao động có tay nghề (di chuyển thể nhân) v.v., song

song với việc củng cố mạng lưới sản xuất khu vực thông qua đẩy mạnh kết nối

về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải,

công nghệ thông tin và viễn thông, cũng như phát triển các kỹ năng thích hợp.

Một khu vực cạnh tranh về kinh tế: xây dựng thông qua các khuôn khổ về

cạnh tranh, bảo hộ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng,

thuế quan và thương mại điện tử. ASEAN đã và đang thúc đẩy các chính sách

cạnh tranh, bảo vệ sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng như hệ thống đường bộ,

đường sắt, đầu tư cho năng lượng,…

Phát triển kinh tế cân bằng, đồng đều: được thực hiện thông qua các kế

hoạch phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và thực hiện sáng kiến hội

3



nhập nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN. ASEAN đã thông qua

và đang triển khai Khuôn khổ ASEAN về Phát triển Kinh tế Đồng đều (AFEED),

trong đó đáng chú ý là các biện pháp hỗ trợ các nước thành viên mới, khuyến

khích sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu: được thực hiện thông qua việc tham vấn

chặt chẽ trong đàm phán đối tác và trong tiến trình tham gia vào mạng lưới cung

cấp toàn cầu (WTO). ASEAN nỗ lực đẩy mạnh việc xây dựng và triển khai các

thoả thuận liên kết kinh tế ở khu vực Đông Á, với 6 Hiệp định Khu vực mậu dịch

tự do (FTAs) đã được ký với các Đối tác quan trọng là Trung Quốc, Nhật Bản,

Hàn Quốc, Ấn Độ, Ôx-trây-lia và Niu Di-lân, và đang trong q trình đàm phán

Hiệp định Đối tác Kinh tế Tồn diện Khu vực (RCEP) hướng đến hình thành một

khơng gian kinh tế mở tồn Đơng Á.



3.



Các Hiệp định quan trọng trong Cộng đồng kinh tế

ASEAN (AEC)

Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA): ATIGA là hiệp định

tồn diện đầu tiên của ASEAN điều chỉnh tồn bộ thương mại hàng hóa trong nội

khối và được xây dựng trên cơ sở tổng hợp các cam kết cắt giảm/loại bỏ thuế

quan đã được thống nhất trong CEPT/AFTA cùng các Hiệp định, Nghị định thư

có liên quan. Ngồi mục tiêu xóa bỏ hàng rào thuế quan, ATIGA hướng nỗ lực

chung của ASEAN tới việc xử lý tối đa các hàng rào phi thuế quan, hợp tác hải

quan và vệ sinh, kiểm dịch... đồng thời xác lập mục tiêu hài hòa chính sách giữa

các thành viên ASEAN trong bối cảnh xây dựng AEC.

Hiệp định Khung vê Dịch vụ ASEAN (AFAS): Hiệp định Khung về Dịch vụ

của ASEAN (AFAS) được ký năm 1995 và Nghị định thư sửa đổi AFAS ký năm

2003 nhằm điều chỉnh hoạt động cung cấp dịch vụ giữa các nước ASEAN. Nội

dung của AFAS tương tự Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ của WTO.

Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA): Hiệp định Đầu tư Toàn diện

ASEAN (ACIA) được ký kết tháng 2/2009 và có hiệu lực từ 29/3/2012 thay thế

cho Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư ASEAN (IGA) 1987 và Hiệp

định Khu vực đầu tư ASEAN (AIA) 1998). ACIA bao gồm 4 nội dung chính: Tự

do hóa đầu tư, Bảo hộ đầu tư, Thuận lợi hóa đầu tư và Xúc tiến đầu tư. Phạm vi

điều chỉnh của ACIA bao gồm cả đầu tư trực tiếp và gián tiếp.



4



CHƯƠNG II:

MỘT SỐ NỘI DUNG CAM KẾT VỀ LĨNH VỰC DỊCH VỤ CỦA

CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN

1.



Cam kết chung trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN



1.1.



Hiệp định khung ASEAN về lĩnh vực dịch vụ (AFAS)



Hiệp định Khung về Dịch vụ của ASEAN (AFAS) được ký năm 1995 và

Nghị định thư sửa đổi AFAS được ký vào năm 2003 nhằm điều chỉnh hoạt động

cung cấp dịch vụ giữa các nước ASEAN. Theo đó AFAS hướng tới các mục tiêu

sau:

Đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực dịch vụ ngay tại các quốc gia thành viên

ASEAN để nâng cao tính hiệu quả và khả năng cạnh tranh ngành dịch vụ

ASEAN, đa dạng hóa năng lực sản xuất, nguồn cung và phân phối dịch vụ.

Xóa bỏ rào cản thương mại trong lĩnh vực dịch vụ.

Tự do hóa thương mại dịch vụ bằng việc tự do hóa sâu và rộng hơn, khơng

chỉ dừng lại ở những dịch vụ được đề cập tới trong hiệp định thương mại chung

về dịch vụ của tổ chức thương mại thế giới.

Theo AFAS, các nước thành viên cam kết tiếp tục tham gia vào các vòng

đàm phán tự do hóa thương mại dịch vụ nội khối ASEAN. Các vòng đàm phán

đều hướng tới mức độ cam kết cao hơn trong lĩnh vực này, đây là những cam kết

nằm trong gói cam kết dịch vụ được đề cập đến trong phụ lục của Hiệp định

Khung.

Cho đến nay, các nước ASEAN đã đạt được 8 gói cam kết về dịch vụ, 5

gói cam kết dịch vụ tài chính, 7 gói dịch vụ vận tải đường hàng không và đưa ra

các ngành dịch vụ ưu tiên tự do hoá trong khối. Hiện tại các nước ASEAN đang

đàm phán Hiệp định Thương mại dịch vụ ASEAN (ATISA) nhằm nâng cấp Hiệp

định AFAS và tổng hợp các cam kết dịch vụ trong các FTA ASEAN với các đối

tác bên ngoài ASEAN.



1.2.



Thỏa ước thừa nhận lẫn nhau (MRA) trong ngành dịch vụ



Thỏa ước thừa nhận lẫn nhau (MRA) trong ngành dịch vụ, một ngành khá

phát triển gần đây trong ASEAN, cho phép chứng chỉ của các nhà cung cấp dịch

vụ được cấp bởi các cơ quan chức năng tương ứng tại quốc gia của mình sẽ được

thừa nhận bởi các nước thành viên khác trong khu vực. Việc này sẽ tạo động lực

cho các nhà cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp trong ASEAN hoạt động theo đúng

những nguyên tắc và quy định tương ứng trong nước.

Hiệp định khung ASEAN trong ngành dịch vụ (AFAS) đã ghi nhận tầm

quan trọng của MRA trong việc hội nhập toàn bộ ngành dịch vụ trong ASEAN.

Điều khoản số V của AFAS thể hiện: “Mỗi nước thành viên có thể thừa nhận

5



trình độ giáo dục, kinh nghiệm, tiêu chuẩn, hoặc bằng cấp, chứng chỉ được cấp

tại một nước thành viên ASEAN khác miễn là chúng phản ánh đúng mục đích

cấp bằng hoặc chứng chỉ. Sự thừa nhận này có thể căn cứ vào hiệp định hoặc

thỏa ước giữa các nước thành viên liên quan hoặc được chấp nhận một cách tự

động”. Các nguyên thủ ASEAN tại hội nghị thượng đỉnh lần thứ 7 diễn ra vào

năm 2001 tại Bandar Seri Begawan, Brunei Darussalam đã đồng ý bắt đầu đàm

phán MRA để tăng cường dòng chu chuyển dịch vụ chuyên nghiệp theo AFAS.

Ủy ban điều phối dịch vụ ASEAN (CCS) đã lập một nhóm chuyên gia MRA

trong ngành dịch vụ vào tháng 7 năm 2003 để đàm phán MRAs dịch vụ. Đến

nay, ASEAN đã ký kết 7 MRAs trong các lĩnh vực sau: dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ

điều dưỡng, dịch vụ kiến trúc, thừa nhận lẫn nhau đối với chứng chỉ giám sát,

người hành nghề y, người hành nghề nha khoa, kế tốn và du lịch.



2.



Cam kết trong một số nhóm ngành dịch vụ



2.1.



Dịch vụ du lịch



Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong ASEAN (MRA – TP) được ký vào

tháng 1 năm 2009 và có hiệu lực vào tháng 5/2015. MRA – TP là một hệ thống

tiêu chuẩn nghề của ngành Du lịch được cơng nhận và tương thích đồng đều về

chất lượng nhân sự và dịch vụ trong toàn khối ASEAN. Nhiệm vụ của MRA - TP

là tạo ra một cơ chế giúp thống nhất và công nhận tương đương trình độ năng lực

nghề Du lịch - Nhà hàng - Khách sạn trong toàn ASEAN để lao động ngành này

của một nước có thể được cơng nhận tay nghề và làm việc tại bất kỳ nước nào

khác trong khu vực mặc dù mỗi nước hiện còn có những quy định, hệ thống tiêu

chuẩn nghề về đánh giá, cấp chứng chỉ, công nhận năng lực nghề của người lao

động là khác nhau.



2.2.



Dịch vụ công nghệ thông tin (ITC)



Hội nghị Bộ trưởng viễn thông và Công nghệ thông tin ASEAN (ASEAN

TELMIN) lần thứ 15 ngày 27/11/2015 tại Hà Nội đã công bố Kế hoạch tổng thể

về Công nghệ thông tin và truyền thơng ASEAN 2020. Đây là văn kiện có tính

chất định hướng cho các hoạt động hợp tác và phát triển ITC giữa các nước

ASEAN trong giai đoạn 2016 – 2020. Văn kiện đã nêu tám định hướng chiến

lược triển khai trong 5 năm tới, bao gồm: ITC đối với chuyển đổi và phát triển

kinh tế; hội nhập và nâng cao vai trò của con người thơng qua ITC; đẩy mạnh

sáng tạo; phát triển cơ sở hạ tầng ITC; phát triển nguồn nhân lực ITC; một thị

trường ITC chung; các nội dung và thơng tin truyền thơng mới, an tồn an ninh

thông tin.

Cũng tại hội nghị này, các Bộ trưởng các nước thành viên ASEAN cũng

đã ký Biên bản ghi nhớ (MoU) giữa ASEAN và Liên minh Viễn thông quốc tế

6



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (AEC)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×