Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chủ trương của Đảng về phân tích nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu Hội nhập Kinh tế

Chủ trương của Đảng về phân tích nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu Hội nhập Kinh tế

Tải bản đầy đủ - 0trang

nhanh những chuyển biến trên thương trường quốc tế để ứng xử kịp thời, nắm

được kỹ năng thương thuyết và có trình độ ngoại ngữ tốt. Nghị quyết 07/NQ-TW

cũng chỉ ra sự cần thiết phải coi trọng việc đào tạo đội ngũ cơng nhân có trình độ

tay nghề cao. Bên cạnh đó, cùng với việc đào tạo nguồn nhân lực, cần phải có

chính sách thu hút, bảo vệ và sử dụng nhân tài; bố trí, sử dụng cán bộ đúng với

ngành nghề được đào tạo và với sở trường năng lực từng người.

Tới Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011), Đảng ta cũng đã

chỉ ra “Con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển của đất

nước trong thời kì cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” và cũng đã

khẳng định: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân

lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền

vững đất nước”. Việc đào tạo nguồn nhân lực cũng phải đáp ứng yêu cầu đa

dạng, đa tầng của cơng nghệ và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề.

Nguồn nhân lực cho công cuộc hội nhập quốc tế đòi hỏi phải đủ số lượng, cân

đối về cơ cấu và trình độ, có khả năng nắm bắt và sử dụng các thành tựu khoa

học và công nghệ tiên tiến của thế giới và có khả năng sáng tạo công nghệ mới.

Đại hội XI đã xác định cần phải “gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực

với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ”. Để thực hiện chiến lược này,

Đảng ta đưa ra nhiều giải pháp: “xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con

người Việt Nam; đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân theo hướng

chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi

mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là

khâu then chốt”, “xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về nâng cao sức

khỏe, tầm vóc con người Việt Nam”. Đảng ta nêu rõ 4 định hướng chiến lược về

phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập: gắn phát triển nguồn nhân lực

với việc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội; gắn việc phát triển nguồn

nhân lực với quá trình dân chủ hóa, nhân văn hóa đời sống xã hội, khai thác có

hiệu quả các giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại; nâng cao chất lượng sử

dụng đội ngũ cán bộ khoa học, cơng nghệ; có chiến lược phát triển con

người trên cơ sở một hệ thống chính sách đồng bộ hướng tới con người vừa là

mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Giải quyết tốt các vấn đề này sẽ tạo

được yếu tố nội sinh của nguồn nhân lực, cơ sở bền vững cho phát triển và hội

nhập. Trong đó, một trong vấn đề mấu chốt được Đảng nêu ra là: “Đổi mới

chính sách đào tạo, sử dụng và đãi ngộ trí thức, trọng dụng và tôn vinh nhân tài,

kể cả người Việt Nam ở nước ngoài”. Nghị quyết khẳng định: Việt Nam chỉ có

thể đi tắt đón đầu sự phát triển trên thế giới trong thời kỳ hội nhập bằng cách đầu

tư vào yếu tố con người.

Trong bối cảnh đất nước ta vừa kí kết nhiều hiệp định thương mại quan

trọng, đặc biệt là việc tham gia vào Cộng đồng Kinh tế ASEAN và kí kết Hiệp

định Đối tác xun Thái Bình Dương TPP, phát triển nguồn lực con người đang

là một trong những yêu cầu tối quan trọng và có ý nghĩa sống còn đối với việc

hội nhập tồn diện và sâu rộng. Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao việc phát triển

nguồn nhân lực một cách nhanh chóng và hiệu quả để có thể khai thác được

những tiềm năng con người lao động Việt Nam cũng như tranh thủ những lợi ích

có được khi tham gia hội nhập quốc tế. Những chính sách của Đảng đã góp phần

nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trên nhiều mặt và chuẩn bị một lực lượng

10



lao động chất lượng cao sẵn sàng tham gia vào xu hướng chuyển dịch lao động

giữa các quốc gia trên thế giới.



11



CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VIỆT NAM

1. Thực trạng chung nguồn nhân lực Việt Nam

1.1 Quy mô, cơ cấu nguồn nhân lực Việt Nam

a. Quy mô lao động

Theo số liệu của tổng cục thống kê, dân số Việt Nam năm 2014 là 90.728

triệu người, lực lượng lao động của Việt Nam tính từ 15 đến 60 tuổi hiện nay là

53.7 triệu người chiếm 59% tổng dân số cả nước.

b. Cơ cấu



- Theo độ tuổi: Cơ cấu lực lượng lao động trẻ.

Việt Nam có “cơ cấu dân số vàng” từ 2007. Giai đoạn “cơ cấu dân số vàng”

sẽ kéo dài trong khoảng 30-35 năm. Cơ cấu dân số vàng tức là ít nhất có 2 người

trong tuổi lao động “nuôi” 1 người trong độ tuổi phụ thuộc. Lực lượng lao động

trẻ góp phần to lớn cho công cuộc sản xuất, xây dựng đất nước. Theo số liệu của

tổng cục thống kê Việt Nam năm 2014, lực lượng lao động độ tuổi 15-24 là 7.585

triệu người, lực lượng lao động độ tuổi 25-44 là 32 triệu người. Như vậy lực

lượng lao động trẻ ở độ tuổi 15-44 ở nước ta chiếm 73.9% tổng lực lượng lao

động cả nước. Lực lượng lao động dồi dào là ưu thế hàng đầu của nước ta trong

thời gian hiện nay.



- Theo ngành nghề:

Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc của khu vực nông, lâm nghiệp và

thủy sản chiếm 46.6% tổng số (năm 2012 là 47.4%; năm 2013 là 46.8%); khu vực

công nghiệp và xây dựng chiếm 21.4% (năm 2012 và 2013 cùng ở mức 21.2%);

khu vực dịch vụ chiếm 32.0% (Năm 2012 là 31.4%; năm 2013 là 32%).



Nguồn: Tổng Cục Thống kê

12



1.2 Chất lượng nguồn nhân lực

a. Trình độ chun mơn kỹ thuật chưa đồng đều, còn hạn chế

Nguồn nhân lực của Việt Nam trẻ và dồi dào nhưng trình độ chun mơn kỹ

thuật thấp. Năm 2013, lực lượng lao động qua đào tạo chiếm gần 18%, năm 2015

tỷ lệ này là 12,5%. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đang rất

thiếu lao động có trình độ tay nghề, cơng nhân kỹ thuật bậc cao, ảnh hưởng đến

năng suất và chất lượng lao động. Đây là một thực trạng rất đáng lo ngại. Học

vấn thấp, kỹ năng nghề nghiệp chưa cao là một trong các nguyên nhân dẫn đến

năng suất lao động của lao động Việt Nam nói chung và lao động thanh niên nói

riêng còn thấp. Về học vấn, vẫn còn trên 15% số lao động chưa tốt nghiệp tiểu

học, trong đó chưa biết chữ chiếm gần 4%.

Cũng có sự chênh lệch về chuyên môn kĩ thuật của lao động trẻ ở nông thôn

và thành thị. Ở nông thôn, số lao động trong độ tuổi từ 15- 34 có chun mơn kĩ

thuật chiếm 3.36% (trong đó nhóm tuổi 15-24 chiếm 1.98% và nhóm 25-34

chiếm 5.07%); Trong khi đó ở thành thị, số lao động trong nhóm tuổi 15-34 có

chun mơn kĩ thuật chiếm 13.36% (trong đó, nhóm 15-24 chiếm 7.2% và nhóm

25-34 chiếm 20.16%).

Vì vậy, đây là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay trong thị trường

lao động trẻ ở nước ta, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt và chất

lượng lao động là vũ khí mạnh mẽ để cạnh tranh có hiệu quả.



b. Nhân lực phổ thơng chiếm số đông so với nhân lực chất lượng cao

Nhân lực phổ thơng hiện tại vẫn chiếm số đơng, trong khi đó, tỷ lệ nhân lực

chất lượng cao lại chiếm tỷ lệ rất thấp. Cái thiếu của Việt Nam hiện nay không

phải là nhân lực phổ thông, mà là nhân lực chất lượng cao. Theo số liệu thống kê

năm 2010, trong số 20,1 triệu lao động đã qua đào tạo trên tổng số 48,8 triệu lao

động đang làm việc, thì chỉ có 8,4 triệu người có bằng cấp, chứng chỉ do các cơ

13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chủ trương của Đảng về phân tích nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu Hội nhập Kinh tế

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×