Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Lý luận chung về nguồn nhân lực

Lý luận chung về nguồn nhân lực

Tải bản đầy đủ - 0trang

Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực từ nơng dân, cơng nhân,

trí thức,… chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực để cùng phối hợp thực hiện sự

nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Dù ở thời kì phát triển nào của

đất nước thì liên minh cơng nhân – nơng dân – trí thức cũng đóng vai trò quyết

định thúc đẩy mạnh mẽ nền kinh tế, tuy nhiên, hiện nay, liên minh này chưa phát

huy tối đa được tác dụng vì sự phân bổ nguồn lực còn chưa hợp lý, đồng đều,

tinh thần đồn kết suy thối cũng như thiếu đi mối quan hệ tương hỗ cho nhau để

tạo thành một bộ máy hoàn chỉnh trong nền kinh tế hội nhập.

-



Nguồn nhân lực chưa được quan tâm và khai thác đúng mức



Nguồn nhân lực trong nông dân ở nước ta vẫn chưa được khai thác, chưa

được tổ chức đầy đủ. Hiện có từ 80 đến 90% lao động nông, lâm, ngư nghiệp và

những cán bộ quản lý nông thôn chưa được đào tạo. Điều này phản ánh chất

lượng nguồn nhân lực trong nông dân còn rất yếu kém. Sự yếu kém này đẫ dẫn

đến tình trạng sản xuất nơng nghiệp nước ta vẫn còn đang trong tình trạng sản

xuất nhỏ, manh mún, sản xuất theo kiểu truyền thống, hiệu quả sản xuất thấp.

Việc liên kết "bốn nhà" (nhà nước, nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp)

hiện đang còn là hình thức. Tình trạng đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, làm

cho một bộ phận lao động ở nông thôn dư thừa ra, khơng có việc làm. Hàng năm

theo ước tính, mỗi năm nhà nước thu hồi khoảng 72 nghìn ha đất nơng nghiệp để

phát triển cơng nghiệp, xây dựng đơ thị. Chính vì nguồn nhân lực trong nơng

thơn chưa được khai thác, đào tạo, cho nên một bộ phận nhân dân ở nơng thơn

khơng có việc làm ở các khu cơng nghiệp, cơng trường. Tình trạng hiện nay là

các doanh nghiệp đang thiếu nghiêm trọng thợ có tay nghề cao, trong khi đó, lực

lượng lao động ở nơng thơn lại dư thừa rất nhiều, chất lượng lao động rất thấp.

b. Vai trò của nguồn nhân lực Việt Nam

-



Nguồn nhân lực là động lực quan trọng tác động tới sự phát triển



Nguồn nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lược: Trong điều kiện xã hội

đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, thì các nhân tố cơng nghệ, vốn, ngun vật

liệu đang giảm dần vai trò của nó. Bên cạnh đó, nhân tố tri thức của con người

ngày càng chiếm vị trí quan trọng: Nguồn nhân lực có tính năng động, sáng tạo

và hoạt động trí óc của con người ngày càng trở nên quan trọng. Xã hội không

ngừng tiến lên, nền kinh tế ngày càng phát triển và nguồn lực con người là vơ

tận, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ

phát huy được tác dụng khi kết hợp với nguồn nhân lực một cách có hiệu quả .

Nếu biết khai thác nguồn lực này đúng cách sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất cho

xã hội, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người. Ngày nay một quốc gia

có thể khơng giàu về tài ngun, điều kiện thiên nhiên khơng mấy thuận lợi

nhưng nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững nếu nguồn

nhân lực được đầu tư và phát triển đúng đắn. Như vậy để xã hội thực sự phát

triển thì động lực lớn nhất, quan trọng nhất đó chính là năng lực của con người.

Chính vì vậy cần phải sử dụng và khai thác hợp lý sao cho nguồn nhân lực thực

sự là động lực to lớn, hữu ích cho sự phát triển.

- Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định thắng lợi sự nghiệp Cơng nghiệp

hóa, hiện đại hóa

5



Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định sự thành cơng của sự

nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, là q trình chuyển đổi căn bản, tồn diện

các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là phổ

biến sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động được đào tạo cùng với công

nghệ tiên tiến, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng

suất lao động cao. Đối với nước ta đó là một q trình tất yếu để phát triển kinh

tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa. Khi đất nước ta đang bước vào giai

đoạn cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn, tiếp cận kinh tế tri thức trong điều

kiện phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, do đó u cầu nâng cao chất lượng

nguồn nhân lực, nhất là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự

nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển bền vững. Đảng ta

đã xác định phải lấy việc phát huy chất lượng nguồn nhân lực làm yếu tố cơ bản

cho sự phát triển nhanh và bền vững.

1.3 Yêu cầu đặt ra đối với phát triển nguồn nhân lực

a. Bối cảnh trong nước

Nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước

và hội nhập quốc tế, từ bối cảnh trong nước, phát triển nguồn nhân lực đang đứng

trước những yêu cầu:

-



Bảo đảm nguồn nhân lực phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu



Bảo đảm nguồn nhân lực là một trong ba khâu đột phá cho cơng nghiệp

hóa, hiện đại hóa, thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã được đề ra trong Chiến

lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020: chuyển đổi mơ hình tăng trưởng từ

chủ yếu theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, tăng

cường ứng dụng khoa học và công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện

tái cấu trúc nền kinh tế, tăng nhanh hàm lượng nội địa hóa, giá trị gia tăng và sức

cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của nền kinh tế, tăng năng suất lao

động, tiết kiệm trong sử dụng mọi nguồn lực.

-



Giải quyết vấn đề việc làm và đào tạo nghề nghiệp



Nhu cầu đào tạo nghề nghiệp của người lao động ngày càng cao hơn cả về

số lượng và chất lượng do mức thu nhập ngày càng cao, do chuyển dịch cơ cấu

kinh tế, do q trình đơ thị hố ngày càng mạnh mẽ, do sự xuất hiện của những

ngành, nghề mới. Hiện nay, Việt Nam có lực lượng lao động khá lớn (khoảng

52.207.000 người; hàng năm trung bình có khoảng 1,5-1,6 triệu thanh niên bước

vào tuổi lao động), một mặt, tạo cơ hội cho nền kinh tế có bước phát triển mạnh

mẽ, mặt khác, tạo sức ép lớn về giải quyết việc làm và đào tạo nghề nghiệp.

-



Phát triển nguồn lực cân bằng giữa các vùng miền



Sự phát triển nguồn nhân lực cần đáp ứng yêu cầu phát triển cân bằng hơn

giữa các vùng miền, xuất phát từ yêu cầu giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an

ninh, quốc phòng để phát triển đất nước. Nếu có sự chênh lệch quá nhiều về số

lượng cũng như chất lượng nguồn lực giữa các vùng miền thì sẽ khơng tận dụng

được triệt để lợi thế cạnh tranh của mỗi địa phương, từ đó dẫn đến sự phát triển,

phân bố ngành nghề không đồng đều, mất cân bằng.

6



b. Bối cảnh quốc tế



Từ bối cảnh quốc tế, phát triển nguồn nhân lực đang đứng trước những

yêu cầu:

-



Phải đủ nhân lực tham gia vận hành các chuỗi giá trị tồn cầu



Việt Nam phải có đủ nhân lực để có khả năng tham gia vào q trình vận

hành của các chuỗi giá trị toàn cầu trong xu thế các tập đồn xun quốc gia có

ảnh hưởng ngày càng lớn. Nhân lực phải được trang bị đủ những kiến thức, kĩ

năng cần thiết để cạnh tranh với lao động nước ngồi trong xu thế hội nhập hóa

kinh tế quốc tế.

- Phải có năng lực thích ứng với sự thay đổi công nghệ, tương quan kinh

tế giữa các khu vực

Nguồn nhân lực phải có năng lực thích ứng với tình trạng nguồn tài nguyên

thiên nhiên ngày càng khan hiếm và sự sụt giảm các nguồn đầu tư tài chính (do

tác động và hậu quả của khủng hoảng kinh tế thế giới), có khả năng đề ra các giải

pháp gia tăng cơ hội phát triển trong điều kiện thay đổi nhanh chóng của các thế

hệ cơng nghệ, tương quan sức mạnh kinh tế giữa các khu vực

-



Đào tạo nhân lực có thể cạnh tranh với cộng đồng quốc tế



Nhân lực nước ta phải được đào tạo để có khả năng tham gia lao động ở

nước ngồi do tình trạng thiếu lao động ở nhiều quốc gia phát triển để phát huy

lợi thế của thời kỳ dân số vàng; đồng thời có đủ năng lực để tham gia với cộng

đồng quốc tế giải quyết những vấn đề mang tính tồn cầu và khu vực .

2. Mối quan hệ giữa nguồn nhân lực và hội nhập Kinh tế quốc tế

ii. Nguồn nhân lực tác động đến hội nhập kinh tế

Theo tổ chức diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), nhóm yếu tố lao động là một

yếu tố quan trọng bậc nhất quyết định năng lực cạnh tranh của một quốc gia,

động lực của sự tăng trưởng kinh tế bền vững. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập

kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực lại khẳng định mạnh mẽ hơn vai trò của mình

đến sự thịnh vượng của một quốc gia. Điều này được thể hiện rõ nét hơn qua hai

phương diện:

a. Nhân lực quyết định tính chủ động, tích cực, từ đó tạo ưu thế trong hội nhập

Theo chủ trương của Đảng, “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” là một

nội dung trọng tâm trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, với mục tiêu

thúc đẩy và tăng cường hiệu quả hội nhập quốc tế, góp phần xây dựng nền kinh

tế độc lập, tự chủ và phát triển bền vững, đổi mới mơ hình tăng trưởng, thúc đẩy

chuyển dịch và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao khả năng cạnh tranh,

tích cực tham gia sâu và rộng vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Chắc chắn

rằng, để thực hiện được điều đó, nguồn nhân lực là yếu tố then chốt. Bởi trong

tiến trình hội nhập, sẽ có rất nhiều hiệp định mới được kí kết và điều khoản mới

với yêu cầu cao hoặc có một số điểm khác biệt với phong tục, tập quán riêng của

Việt Nam. Nếu nguồn nhân lực chủ động tìm hiểu, tích cực tham gia và nhanh

nhạy trong việc đón đầu những xu hướng mới, chúng ta sẽ đáp ứng những yêu

7



cầu đó trong thời gian ngắn, từ đó tận dụng được những điểm tích cực của hội

nhập cũng như giành được ưu thế cạnh tranh trên trường quốc tế.

b. Nguồn nhân lực quyết định tính hiệu quả khi hội nhập

Khi đã chủ động tích cực tham gia vào tiến trình hội nhập, nguồn nhân lực

lại một lần nữa là yếu tố quyết định tính hiệu quả của xu thế chung này. Bởi trong

bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần thắng sẽ

thuộc về những quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao, có mơi trường pháp

lý thuận lợi cho đầu tư, có mơi trường chính trị- xã hội ổn định. Cụ thể, khi tham

gia vào Cộng đồng Kinh tế chung AEC, khơng chỉ dòng hàng hóa, dịch vụ, đầu

tư, vốn di chuyển tự do mà đồng thời còn có sự di chuyển tự do lao động có kỹ

năng giữa 10 quốc gia thành viên ASEAN. Thị trường lao động khu vực tác động

tích cực đến sự vận hành thị trường và mạng lưới sản xuất của các nền kinh tế

thành viên. Việc di chuyển lao động tạo khả năng mang lại lợi ích cho lực lượng

lao động như tiền lương, việc làm và sự ổn định cuộc sống. Từ đó có thể thấy rõ,

nguồn nhân lực quyết định tính hiệu quả khi tham gia hội nhập kinh tế, việc phân

bổ, phát triển nguồn nhân lực phản ánh một cách rõ nét trình độ mở cửa thị

trường lao động cũng như năng lực quản lý lao động của các quốc gia thành viên.

1.2 Hội nhập kinh tế tác động đến nguồn nhân lực

a. Hội nhập kinh tế đặt ra yêu cầu, động lực để phát triển nguồn nhân lực

mang tính cạnh tranh

Thời kỳ hội nhập sẽ mở ra nhiều cơ hội việc làm với nhiều yêu cầu cao

hơn đối với người lao động, với tiêu chí tuyển dụng cao hơn đòi hỏi nguồn nhân

lực phải có nhiều kỹ năng khác ngồi kiến thức chuyên môn như: khả năng giao

tiếp, sử dụng vi tính, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng báo cáo, kỹ năng tìm

hiểu và xử lý thơng tin. Việc tích cực tham gia hội nhập kinh tế quốc tế là điều

kiện thuận lợi phát triển thị trường lao động Việt Nam hồn thiện q trình đào

tạo và nâng cao nguồn lực lao động. Vấn đề chuẩn bị nguồn nhân lực gia nhập

kinh tế quốc tế đã được các cơ quan Nhà nước, các cơ quan nghiên cứu xã hội nhân lực phân tích nhiều, Đảng và Nhà nước cũng đã xác định các chủ trương,

chỉ đạo cụ thể để phát huy ưu thế khắc phục hạn chế hướng đến nguồn nhân lực

chất lượng cao, nhân lực trình độ cao đáp ứng yêu cầu hội nhập. Chúng ta có

thể nhận thấy rõ trong quá trình hội nhập, hiện nay và những năm tới, thị

trường lao động tiếp tục phát triển theo chiều hướng đổi mới công nghệ, nâng

cao quản lý, phát triển quy mô sản xuất kinh doanh, quy mô doanh nghiệp tạo

nhiều chỗ làm mới thu hút lao động với nhiều ngành nghề đa dạng, đặc biệt nhu

cầu việc làm chất lượng cao.

b. Hội nhập kinh tế tạo điều kiện cho chuyển giao cơng nghệ, góp phần

thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Hội nhập kinh tế tạo ra cơ hội gia tăng các giá trị tài sản vơ hình cho bản

thân người lao động và các doanh nghiệp thông qua các hoạt động hợp tác,

chuyển giao công nghệ với các nước có nền cơng nghiệp tiên tiến trên thế giới.

Ngồi ra, hội nhập kinh tế còn tạo thêm cơ hội việc làm cho người lao động và

nâng cao chất lượng nhân lực cho lao động của Việt Nam, đặc biệt là lao động kỹ

thuật trình độ cao, thúc đẩy q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mặt khác,

8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Lý luận chung về nguồn nhân lực

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×