Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



4. SATYRIDAE – Họ Bƣớm mắt rắn (Satyrs/Browns): Họ Satyridae gồm

những loài bƣớm nhỏ (sải cánh 25-73 mm) màu nâu và xám, mép sau cánh có

kiểu trang trí hình vỏ sò hoặc răng cƣa, cánh thƣờng có nhiều vân ở phía trên

hoặc phía dƣới dạng mắt (eyespots) nên đƣợc gọi là bƣớm mắt rắn. Họ có

khoảng 3000 lồi.

5. AMATHUSIIDAE – Họ Bƣớm rừng (Amathusiids ): Kích thƣớc lớn

đến rất lớn, thƣờng có màu sắc đẹp, thƣờng sống dƣới tán rừng, ít khi xuất

hiện ở khoảng trống. Việt Nam có khoảng 30 loài.

6. NYMPHALIDAE - Họ Bƣớm giáp (Nymphalids): Nymphalidae là

một họ bƣớm rất lớn, bao gồm 3000 loài rất đa dạng về màu sắc, hình dạng.

Kích thƣớc sải cánh từ 38-76 mm. Chân trƣớc thối hóa. Việt Nam đã ghi

nhận đƣợc trên 200 loài.

7. ACRAEIDAE - Họ Bƣớm ngọc (Acraeids): Kích thƣớc nhỏ đến trung

bình. Đây là một họ bƣớm nhỏ, có thể chỉ có hai lồi ở Việt Nam. Cánh dài và

trong, màu vàng cam và màu đen, chân trƣớc thối hóa.

8. LIBYTHEIDAE – Họ Bƣớm mỏ dài (Beaks, Snout Butterfly): Họ

Libytheidae có cấu tạo đặc biệt, bƣớm trơng nhƣ có vòi, bởi chúng có đơi râu

miệng dài, thò ra ở phía trƣớc đầu tạo thành một cái “vòi” vì thế chúng có tên

tiếng anh là Snout Butterfly. Cánh trƣớc với đỉnh cụt, cánh sau có một điểm

trang trí kiểu vỏ sò. Họ có khoảng trên 10 lồi.

9. RIODINIDAE – Họ Bƣớm ngao (Riodinids, Metalmarks): Có khoảng

1000 lồi, sải cánh 16-51mm. Đa số có màu nâu, xám hoặc gỉ sắt, cánh

thƣờng có vân màu óng ánh kim.

10.LYCAENIDAE – Họ Bƣớm xanh (Blues & coppers): Là một họ lớn

(5000-7000 loài), kích thƣớc nhỏ (sải cánh 22-51mm), nhiều lồi trong số

chúng có đi ở cánh sau, rất phong phú về số lồi và hình dạng, màu sắc. Họ

đƣợc chia thành bốn nhóm gồm nhóm màu xanh (blues), màu nâu đồng



5



(coppers), màu nâu xám (hairstreaks), và nhóm Harvester (sống cộng sinh với

kiến hoặc sống theo kiểu ăn thịt). Việt Nam có trên 220 loài thuộc họ này.

11.HESPERIIDAE – Họ Bƣớm nhảy (Skippers): Thân ngắn và rộng, cánh

ngắn, hầu hết có màu nâu hoặc màu xám với những vệt sáng hơn. Hesperiids

đƣợc tìm thấy ở mọi môi trƣờng sống, thƣờng hoạt động mạnh vào lúc sáng

sớm, buổi tối hoặc lúc hồng hơn. Khoảng gần 3000 lồi đã đƣợc mơ tả. Kích

thƣớc nhỏ đến trung bình (sải cánh 13-64mm). Bƣớm nhảy có đầu to nên còn

đƣợc gọi là họ Bƣớm đầu to, thân có nhiều lơng, cánh dạng tam giác.

1.2. Tình hình nghiên cứu bƣớm ngày trên thế giới

Trên thế giới có khoảng 14000 loài bƣớm ngày tập trung nhiều ở khu vực

nhiệt đới châu Á, Châu Mỹ, châu Phi. Nghiên cứu của Warren (1985) đã chỉ ra

rằng, những khu rừng có tán rậm thƣờng ít các lồi bƣớm phân bố hơn những

khu rừng thƣa. Sự đa dạng của các loài bƣớm tăng lên với sự tăng thêm về quy

mô sinh cảnh và sự đa dạng của thực vật (Price, 1975), hầu hết trong số chúng

phụ thuộc vào sự khép tán của rừng (Collins & Morris, 1985; Sutton & Collins,

1991). Bƣớm ngày tồn tại trong những sinh cảnh rất cụ thể, và sinh cảnh này bị

ảnh hƣởng bởi nhiều nhân tố phi sinh vật và sinh vật (Ramos, 2000; Spitzer et

al., 1993 & 1997; Leps & Spitzer, 1990). Sinh cảnh bị tác động cũng ảnh hƣởng

rất lớn đến thành phần và số lƣợng quần thể các loài Bƣớm. Sự đa dạng loài và

sự phong phú của các loài trong quần xã bƣớm cao nhất ở nơi rừng bị tác động

vừa phải và giảm rất mạnh ở khu vực rừng bị đơ thị hố, đặc biệt các loài đặc

hữu bị biến mất khi sinh cảnh của chúng bị đơ thị hố (Blair & Launer, 1997;

Brown, 1996). Nghiên cứu của Schulze et al. (2004a, b) cho thấy, sinh cảnh rừng

thứ sinh có sự đa dạng quần xã Bƣớm cao hơn rất nhiều so với ở khu đất canh

tác nông lâm nghiệp. Tuy nhiên, ở những sinh cảnh rừng nguyên sinh và rừng

thứ sinh có thảm thực vật gần giống nhau thì sự khác biệt về thành phần lồi

Bƣớm là khơng đáng kể.



Các lồi Bƣớm có phạm vi phân bố rộng thƣờng đƣợc bắt gặp ở những



6



khu vực rừng thấp, thƣờng bị tác động của con ngƣời. Trong khi đó, các lồi

Bƣớm đặc hữu thƣờng giới hạn ở các sinh cảnh rừng trên đai cao lớn hơn

500m (Lewis et al., 1998).

Ngoài biến động theo sinh cảnh và độ cao, các lồi Bƣớm còn là nhóm

động vật dễ bị tác động bởi những thay đổi của thời tiết. Sự phong phú của

các loài Bƣớm thƣờng tăng lên trong những ngày có thời tiết ấm áp (Roy et

al., 2001; Pollard, 1988). Thời tiết thuận lợi làm tăng số lƣợng cá thể của các

loài bƣớm trong những năm sau (Brunzel & Elligsen, 1999). Theo nghiên cứu

của Pollard (1988) ở Anh, vào những năm mùa hè ấm áp và khô ráo, quần thể

của các loài bƣớm tăng, trong khi Janzen & Schoener (1968) lại nhận thấy,

vào mùa khô ở rừng nhiệt đới, khu vực ẩm có sự phong phú cũng nhƣ đa dạng

côn trùng cao hơn so với khu vực khô.

1.3. Tình hình nghiên cứu bƣớm ngày ở Châu Á

Với điều kiện phát triển về khoa học, một số nƣớc Châu Á đã nhận thức

sớm hơn các nƣớc khác về tầm quan trọng của Bƣớm ngày. Do đó các nghiên

cứu cơ bản về Bƣớm ngày tại những quốc gia này đƣợc thực hiện sớm hơn.

Nhờ vậy các nghiên cứu về Bƣớm ngày cũng có điều kiện thuận lợi so với các

nƣớc có hệ thống thơng tin còn yếu.

Khi các nghiên cứu Bƣớm ngày trên quy mô lớn nhƣ theo dõi tập tính di

cƣ tránh đơng của nhóm Danaide tại Đài Loan (Wang và Emmel 1990) tìm

hiểu đƣợc nguyên nhân và cách thức cơn trùng di trú, trong đó có lồi bƣớm

Monarch (Danaus plexippus) là loài di cƣ nổi tiếng do màu sắc đẹp và số

lƣợng cá thể đông đúc. Trong khi đó, Kitahara (2008) với những khảo sát chú

trọng vào mối liên hệ giữa Bƣớm ngày và thảm thực vật, đã khẳng định sự

phong phú của Bƣớm ngày trong một khu vực tỉ lệ thuận với sự phong phú

của các thực vật có hoa. Ngồi ra, để cung cấp thêm thơng tin về ảnh hƣởng

của con ngƣời nhằm nỗ lực bảo tồn Bƣớm ngày, Lian Pin Koh (2007) đã tìm



7



hiểu ảnh hƣởng của việc chuyển đổi sử dụng đất rừng khu vực Đông Nam Á.

Mặt khác, Danielsen và Treadaway (2004) xem xét, chỉ ra những bất cập

trong công tác bảo tồn Bƣớm ngày ở quần đảo Philippine và từ đó đề xuất

thêm những vùng cần đƣợc ƣu tiên bảo vệ.

Do vậy việc nhân ni các lồi bƣớm, nhất là các lồi bƣớm quý hiếm là

việc cần làm nhằm bảo tồn các loài quý hiếm và tạo thu nhập cho ngƣời dân

trong vùng thông qua việc xuất khẩu bƣớm cũng nhƣ các loại cơn trùng có giá

trị thƣơng mại khác.

1.4. Tình hình nghiên cứu bƣớm ngày ở khu vực Đông Dƣơng

Nghiên cứu về côn trùng đầu tiên ở Việt Nam đƣợc biết đến là cơng

trình nghiên cứu của Đồn nghiên cứu tổng hợp của Pháp mang tên (Mission

Pavie) đã tiến hành khảo sát ở Đông Dƣơng trong 16 năm (1979 – 1895) đã

xác định đƣợc 8 bộ, 85 họ và 1040 loài cơn trùng. Phần lớn mẫu thu thập ở

Lào, Campuchia, còn ở Việt Nam thì rất ít. Hầu hết các mẫu vật đƣợc lƣu trữ

ở các Viện bảo tàng Paris, London, Geneve và Stockholm.

Giai đoạn những năm đầu thế kỷ 20, cơng trình nghiên cứu về Bộ cánh

vảy (Lepidoptera) có cơng trình nghiên cứu của J.de Joannis mang tên

“Lepidopteres du Tonkin” xuất bản ở Paris năm 1930. Tác giả đã thống kê

đƣợc 1798 loài thuộc 746 giống và 45 họ.

Danh sách khu hệ bƣớm của Việt Nam đƣợc công bố vào năm 1957,

trong danh sách này có 454 lồi. Trong những năm gần đây có nhiều cơng

trình khảo sát về bƣớm do trung tâm Việt – Nga tiến hành tại các Vƣờn quốc

gia và Khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam nhƣ: Vƣờn quốc gia Ba Bể

(1996 – 1997), Ba vì (1996), Hồng Liên (1998 – 2000), Phong Nha – Kẻ

Bàng (1999), Tam Đảo (2000 – 2001)… Đề tài “ Nghiên cứu thành phần các

loài bướm ngày (Rhopalocera) của rừng Việt Nam làm cơ sở đề xuất biện

pháp quản lý và sử dụng” của Viện điều tra quy hoạch rừng – Bộ nông



8



nghiệp và phát triển nông thôn (Đặng Ngọc Anh, 1998 – 2000) đã thống kê

đƣợc nhiều loài cánh vẩy hoạt động vào ban ngày. Phát hiện thêm nhiều loài

mới cho khoa học cũng nhƣ Việt Nam. Bên cạnh những nghiên cứu trên

Đặng Thị Đáp (2009) đã có những ghi nhận về cây chủ ấu trùng Bƣớm ngày,

cho thấy những bằng chứng vững chắc về tính phụ thuộc của Bƣớm ngày đối

với môi trƣờng sống của chúng. Dựa trên mối liên hệ đặc biệt của Bƣớm ngày

Vũ Văn Liên (2005) đề nghị tính chỉ thị của một số họ Bƣớm, và

Monastyrskii (2009) đề xuất một số phân bố Bƣớm ngày dựa trên quan điểm

về phân vùng địa sinh học ở Việt Nam.

Kết quả khảo sát sự phân bố của các loài bƣớm theo sinh cảnh của hai tác

giả Lê Anh Tuấn và Lê Trọng Sơn (2008) tại khu vực nhà máy thủy điện A

Vƣơng, Quảng Nam cho thấy, sinh cảnh thảm thực vật ven suối có số lƣợng

lồi Bƣớm ngày phân bố nhiều nhất.

Vũ Văn Liên và Vũ Quang Côn (2011) nghiên cứu về tổng họ Bƣớm phƣợng tại

Vƣờn quốc gia Bù Gia Mập đã nhận thấy: các loài hiếm gặp có xu hƣớng giảm dần

từ rừng tự nhiên đến rừng ven suối hoặc từ rừng có tầng tán dày hơn đến rừng có tầng

tán mỏng hơn; các lồi phổ biến lại tăng từ rừng tự nhiên đến rừng ven suối và ở hai

sinh cảnh rừng ven suối và rừng tre nứa thì các lồi này cũng khá tƣơng đồng; các

lồi khơng phổ biến ở các sinh cảnh khác nhau thì sai khác khơng có ý nghĩa.

Việc sử dụng các chỉ số về đa dạng và phong phú của sinh vật nói chung,

bƣớm nói riêng ở Việt Nam còn hạn chế (Đặng Thị Đáp và nnk, 2008). Các

nghiên cứu chủ yếu mang tính chất định tính. Các chỉ số gắn liền với nghiên

cứu về bƣớm ở Việt Nam mới đƣợc sử dụng gần đây, trong đó có cơng trình

của Leps và Spitzer (1990), Spitzer et al. (1987, 1993, 1997). Các chỉ số đƣợc

sử dụng là chỉ số đa dạng (chỉ số Shannon-Weaver H’), chỉ số phong phú và

chỉ số về mối quan hệ giữa bƣớm với môi trƣờng sống (ở phạm vi sinh cảnh)

nhƣ chỉ số CCA (Canonical Correspondence Analysis) và RDA (Redundancy

Analysis) (dẫn trong Đặng Thị Đáp và nnk, 2008).



9



1.5. Tình hình nghiên cứu bƣớm ngày tại Vƣờn Quốc Gia Nam Ka Đinh

Vƣờn Quốc Gia Nam Ka Đinh đƣợc thành lập vào ngày 29/10/1993, có

diện tích 169,000 ha, nằm ở vi trí 18 độ 11'00" - 18 độ 39'00" N và 103 độ

54'00" - 104 độ 44'00"E, có diện tích chiếm 4 huyện nhƣ:

- Huyện Pak Ka Đinh chiếm 83,900 ha

- Huyện Khăm Cơt chiếm 18,900 ha

- Huyện Bo Ly Khăn chiếm 25,000 ha

- Huyện Viêng Thong chiếm 41, ha

Hiện tại tại nƣớc Lào mới chỉ có một số nghiên cứu về bƣớm ngày.

Trong các năm 1921 từ 1924, E. Dubois R. Vitalis de Salvaza công bố kết quả

nghiên cứu về khu hệ bƣớm Đông Dƣơng. Trong ấn phẩm này đã ghi nhận

đƣợc 261 lồi bƣớm có trên lãnh thổ Lào. Năm 1989, A. Motono và N.

Negishi biên soạn và xuất bản cuốn sách minh họa đầu tiên, ghi nhận đƣợc

512 loài, thu thập trong các năm của thập kỷ 1970 tại vùng đồng bằng đất

thấp và rừng. Năm 1999 Shilo Osada et all đã xuất bản công trình về “Danh

lục ảnh các lồi bƣớm ngày của nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào”.

Trong cơng trình này các tác giả đã trình bày hình ảnh của 876 loài bƣớm

thuộc 10 họ, bao gồm: họ Bƣớm phƣợng 58 loài, họ Bƣớm phấn 48 loài, họ

Bƣớm đốm 24 loài, họ Bƣớm giáp 168 loài, họ Bƣớm mắt rắn 83 loài, họ

Bƣớm rừng 15 loài, họ Bƣớm mỏ dài 4 loài, họ Bƣớm ngao 20 loài, họ Bƣớm

xanh 246 loài và họ Bƣớm nhảy 210 loài. Năm 2006 Cottonvà Racheli đã có

cơng trình nghiên cứu về họ Bƣớm phƣợng. Kết quả cho thấy ở Lào đã ghi

nhận đƣợc 63 loài.

Tuy đã có một số nghiên cứu về bƣớm ngày trên lãnh thổ nƣớc Cộng

hòa dân chủ nhân dân Lào nhƣng tại VQG Nam Ka Đinh chƣa có nghiên cứu

nào về tài ngun cơn trùng nói chung và các lồi bƣớm ngày nói riêng. Vì

vậy nghiên cứu về khu hệ bƣớm ngày ở đây là rất cần thiết.



10



Chƣơng 2

MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1. Mục tiêu chung.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu khu hệ Bƣớm ngày của Vƣờn Quốc Gia

Nam Ka – Đinh – Tỉnh Bolikhamxay, nhằm góp phần quản lý có hiệu quả tài

nguyên côn trùng rừng.

2.1.2. Mục tiêu cụ thể

1. Xác định đƣợc thành phần, phân bố của Bƣớm ngày tại Vƣờn Quốc

Gia Nam Ka Đinh.

2. Xác định đƣợc đặc điểm sinh học, sinh thái học của một số loài

bƣớm ngày chủ yếu để có các giải pháp quản lý.

3. Đề xuất đƣợc giải pháp quản lý các loài bƣớm ngày phù hợp với điều

kiện của khu vực nghiên cứu.

2.2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tƣợng nghiên cứu: Pha trƣởng thành loài bƣớm ngày

(Rhopalocera) thuộc bộ Cánh vảy (Lepidoptera).

- Các dạng sinh cảnh, các dạng trạng thái rừng điển hình của Vƣờn

Quốc Gia Nam Ka Đinh.

- Thời gian thực hiện: Từ tháng 05/2016 đến 11/2016

2.3. Nội dung nghiên cứu

Với những mục tiêu mà đề tài đặt ra, các nội dung nghiên cứu bao gồm

1. Xác định thành phần loài bƣớm ngày tại Vƣờn Quốc Gia Nam Ka

Đinh và xác định các loài cần ƣu tiên bảo tồn.

2. Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài cần ƣu tiên bảo tồn.

 Đặc điểm nhận biết

- Đặc điểm sinh học cơ bản



11



 Đặc điểm phân bố và sinh thái học cơ bản

3. Nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo tồn các loài bƣớm ngày

 Xác định hiện trạng công tác bảo tồn côn trùng và bƣớm ngày

 Các yếu tố ảnh hƣởng tới công tác bảo tồn bƣớm ngày

 Một số giải pháp bảo tồn chính

2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu

Các phƣơng pháp nghiên cứu bao gồm: Phƣơng pháp điều tra thực địa,

phƣơng pháp xác định loài cần ƣu tiên trong bảo tồn, phƣơng pháp nghiên cứu

đặc điểm sinh học, sinh thái loài, phƣơng pháp xác định các yếu tố ảnh hƣởng

đến cơng tác bảo tồn nói chung, bảo tồn bƣớm ngày nói riêng và phƣơng pháp

xử lý thơng tin để có quyết định quản lý hợp lý.

2.4.1. Phương pháp xác định thành phần loài bướm ngày

Thành phần loài bƣớm ngày, các loài cần ƣu tiên bảo tồn đƣợc xác định

thông qua phƣơng pháp điều tra thực địa. Phƣơng pháp điều tra thực địa đƣợc

thực hiện dựa theo các tác giả: Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh, Trần Văn

Mão (2001) và các tác giả khác. Điều tra thành phần loài bƣớm ngày bao gồm

các bƣớc:

1. Thu mẫu

2. Xử lý, bảo quản mẫu

3. Phân tích và định loại mẫu

2.4.1.1. Cơng tác chuẩn bị

Thu thập các tài liệu có liên quan: Bản đồ hiện địa hình, điều tra sơ

thám khu vực nghiên cứu.

Chuẩn bị dụng cụ cần thiết:

- Vợt bắt bƣớm: Làm bằng vải màn, miệng có đƣờng kính 30cm làm

bằng sắt đƣợc gắn vào một cán gỗ dài 1-3m.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×