Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên

Bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tài nguyên không tái tạo là dạng tài nguyên bị biến đổi và mất đi sau quá trính sử

dụng. Tài nguyên không tái tạo thường giảm dần về số lượng sau q trình khai thác và

sử dụng của con người.

Ví dụ: Các loại khống sản, chất khí, dầu mỏ, các mỏ vàng, bạc, sắt… Về mặt lý

thuyết thì những loại tài nguyên này có khả năng tái tạo lại được một cách tự nhiên qua

thời gian dài hàng trăm triệu năm, nhưng xét một cách thực tế theo yêu cầu sử dụng của

đời sống con người hiện tại thì chúng chỉ được xem như là tài nguyên không tái tạo được.

Ngoài ra, người ta phân loại và gọi tên theo bản chất tồn tại tự nhiên của nó. Theo

cách phân loại này có: tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật, tài nguyên

khoáng sản, tài nguyên năng lượng...

3.2. Tài nguyên đất

3.2.1 . Khái niệm chung

Đất là thuật ngữ được hiểu theo hai nghĩa thông dụng là đất đai lãnh thổ và đất

trồng (đất thổ nhưỡng), là lớp tơi xốp trên cùng của thạch quyển có khả năng cho năng

suất cây trồng. Đất được hình thành do tổ hợp tác động của các yếu tố: đá mẹ, sinh vật,

khí hậu, địa hình, thời gian và gần đây là con người.

Theo Docutraiep, 1879 “đất là vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập, lâu đời do kết

quả của quá trình hoạt động tổng hợp 5 yếu tố hình thành đất: đá, sinh vật, khí hậu, địa

hình và thời gian”.

Ngồi ra, biểu diễn theo tốn học thì đất là một hàm số của một số yếu tố hình

thành nên nó theo thời gian:

Đ = f (Đa, Sv, Kh, Đh, Ng) t

Trong đó

: - Đ: đất

- Sv: sinh vật

- Đa: đá

- Ng: hoạt động của con người

- Kh: khí hậu

- t: thời gian

Ta xét qua vai trò của từng yếu tố.

(1) Đá: Là nền móng của đất, chính đá bị phá hủy vỡ ra thành các phần khoáng

chiếm xấp xỉ 95% khối lượng khơ của đất. Vì vậy, thành phần khống vật, hóa học của đá

ảnh hưởng trực tiếp tới thành phần của đất. Đá chứa nhiều cát khi phong hóa, biến đổi

thành đất cát, đá chứa nhiều K, đất sẽ giàu K, đá dễ phá hủy sẽ tạo thành tầng đất dày và

ngược lại…

(2) Sinh vật: Nếu khơng có sinh vật thì đá vỡ vụn ra vẫn được gọi là đất. Các sinh

vật đầu tiên sống trên đá nhờ vào nước và một ít dinh dưỡng, khi chết chúng để lại xác

cho đất và được phân hủy tạo thành mùn. Nhờ vào chất mùn này hệ thực vật sống tiếp

theo lấy đi dinh dưỡng từ đất, khi chết lại cung cấp mùn cho đất tạo thành chu trình kín

giữa đất và cây.

(3) Khí hậu: Có ảnh hưởng gián tiếp và trực tiếp đến q trình hình thành đất. Khi

điều kiện khí hậu thuận lợi (ấm, ẩm) đá phong hóa nhanh, thúc đẩy nhanh q trình hình

64



thành đất, đồng thời khí hậu cũng tác động vào quá trình sống của sinh vật, nhờ có năng

lượng dưới dạng nhiệt và vai trò của nước, sinh vật mới sinh trưởng và phát triển tốt, giúp

cho q trình hình thành đất diễn ra nhanh chóng và thuận lợi.

(4) Địa hình: Yếu tố địa hình đóng vai trò tái phân phối lại năng lượng thiên nhiên

cung cấp cho đất. Cùng một nguồn năng lượng mặt trời như nhau tại một vùng song ở trên

núi cao thì lạnh (có khi có băng), ở dưới thấp thì lại nóng. Cùng lượng mưa như nhau của

một vùng song ở nơi thấp thì úng, nơi cao vẫn hạn.

(5) Thời gian: Là yếu tố đặc biệt, mọi yếu tố ngoại cảnh tác động vào đất, tất cả

quá trình xẩy ra trong đất đều đòi hỏi phải có thời gian nhất định, đồng thời chính đất

cũng biến đổi theo thời gian.

(6) Con người: Vai trò của con người khác hẳn các yếu tố trên. Qua hoạt động

sống, nhờ thành tựu khoa học con người đã tác động vào thiên nhiên nói chung, đất đai

nói riêng một cách mạnh mẽ, có thể là tác động tốt (tưới nước, bón phân, trồng rừng…),

có thể là tác động xấu (phá rừng, gây xói mòn, rửa trơi đất, làm ơ nhiễm và thối hóa

đất…).

3.2.2. Ý nghĩa của đất đối với đời sống con người và sinh vật.

Về ý nghĩa trực tiếp, mặt đất là môi trường sống của con người và hầu hết các sinh

vật ở cạn, là nền móng cho tồn bộ các cơng trình xây dựng, cung cấp cho con người các

nguyên liệu cần thiết cho cuộc sống. Đất là nơi sản xuất lương thực, thực phẩm nuôi sống

con người và gia súc. Trong đất, hàm lượng các chất dinh dưỡng, pH, nồng độ muối

khoáng... là những nhân tố giới hạn đối với sinh vật đất.

Về ý nghĩa gián tiếp, đất là môi trường sống của thực vật. Thực vật (nhất là thực

vật rừng) đóng vai trò rất quan trọng trong việc giữ cân bằng bầu khí qủn, điều hòa khí

hậu, tạo mơi trường sống cho mọi sinh vật trên Trái đất.

Trên quan điểm sinh thái học, đất được xem như một vật “thể sống” vì đất mang

trên mình nhiều loại sinh vật như nấm, tảo, côn trùng... và cả động và thực vật bậc cao.

Cũng chính vì là “thể, sống” nên đất được xem như là nguồn tài nguyên tái tạo vô cùng

quý giá của Trái đất. Thông thường, hệ sinh thái đất có độ đa dạng sinh học cao hơn hệ

sinh thái ở nước, khơng khí và do vậy khả năng tự cân bằng sinh thái của đất cũng cao

hơn các hệ sinh thái khác. Con người tác động vào đất cũng chính là tác động vào các hệ

sinh thái mà đất mang trên mình nó. Do vậy, để có thể bảo vệ và khai thác bền vững một

hệ sinh thái thì trước hết phải bảo vệ và khai thác bền vững những tài nguyên đất ở đó.

Đối với các hệ sinh thái nông nghiệp, giá trị của đất là ở độ phì nhiêu. Đó là khả

năng của đặt cung cấp cho cây các chất như nước, khoáng... giúp cho cây sinh trưởng và

phát triển. Độ phì nhiêu của đất có liên quan chặt chẽ tới các quá trình sinh thái như sự

phân hủy mùn bã hữu cơ của sinh vật đất, lượng rơi cung cấp xác sinh vật từ cây rừng,

hoạt động đào xới làm cho đất thêm tơi xốp của các sinh vật đất.

Các vai trò chủ yếu của tài nguyên đất ta có thể khai quát như sau:

65



- Đất là môi trường (là nơi sống, nơi cung cấp thức ăn) cho con người tồn tại và phát

triển.

- Đất là môi trường cho cây trồng sinh trưởng và phát triển đảm bảo an ninh sinh

thái và an toàn lương thực.

- Đất là địa bàn xây dựng các cơng trình phục vụ cuộc sống của con người.

- Đất là nơi chứa đựng và phân hủy các chất thải

- Đất là nơi cư trú của các loài động vật đất.

- Đất là nơi giữ, lọc và cung cấp nước trên Trái đất.

3.2.3. Hiện trạng sử dụng tài nguyên đất trên thế giới và ở Việt Nam.

Theo đánh giá của FAO, diện tích đất thế giới là 511 triệu km 2, trong đó 148 triệu

km2 là lục địa chiếm 29% và được chia thành các loại sau:

20% diện tích đất lục địa ở vùng có nhiệt độ q lạnh (T0C <-50C);

20% diện tích đất lục địa là hoang mạc + sa mạc;

20% diện tích đất lục địa ở vùng quá dốc;

20% diện tích đất lục địa ở vùng q khơ hạn;

10% diện tích đất lục địa đang canh tác;

10% diện tích đất lục địa là đồng cỏ chăn thả tự nhiên.

Như vậy, theo số liệu phân tích đất của FAO ta thấy, diện tích đất chúng ta khơng

đưa vào sử dụng được (nhiệt độ quá thấp + hoang mạc, sa mạc) chiếm tới 40%. Trong đó

diện tích đất canh tác và đồng cỏ chăn thả mới chỉ có 20%. Phần còn lại 40% thuộc loại

đất có vấn đề mà ta cần quan tâm và dần dần đưa vào sử dụng ở những nơi có thể cho

phép.

Thế giới có khoảng 3.200 triệu ha đất có tiềm năng nơng nghiệp và hiện đang canh

tác trên khoảng gần 1/2, trong đó tỷ lệ đã sử dụng ở các khu vực là: Châu Á 92%, Mỹ La

Tinh 15%, Châu Phi 21%, các nước phát triển 70%, các nước đang phát triển 36%. Đất

có tiềm năng nơng nghiệp chưa được đưa vào sử dụng do có nhiều yếu tố hạn chế như:

khí hậu khắc nghiệt, thiếu nước, đất dốc, đất mặn,…(còn gọi là đất có vấn đề).

Theo kết quả nghiên cứu của Hội Khoa học đất Việt Nam (2000) tài nguyên đất

Việt Nam rất đa dạng về loại hình thổ nhưỡng, bao gồm 19 nhóm đất và 54 đơn vị đất.

Trong đó có 11 nhóm chính sau: Đất cát: 533.434 ha; Đất phù sa: 3.400.059 ha; Đất mặn

thời vụ: 825.255 ha; Đất mặn thường xuyên: 446.991 ha; Đất phèn: 587.771 ha; Đất xám:

2.347.829 ha; Đất thung lũng: 378.914 ha; Đất đen than bùn: 250.773 ha; Đất đỏ bazan:

2.683.931 ha; Đất đỏ vàng: 14.808.319 ha; Đất đỏ vàng trên núi: 3.503.024 ha; Đất xói

mòn trơ sỏi đất: 405.727 ha.

66



3.2.4. Các vấn đề đối với tài nguyên đất

a) Suy thoái tài ngun đất:

Khoảng 2/3 diện tích đất nơng nghiệp trên thế giới đã bị suy thoái nghiêm trọng

trong 50 năm qua do xói mòn, rửa trơi, sa mạc hố, mặn hố, ơ nhiễm mơi trường, khủng

hoảng hệ sinh thái đất.

Xói mòn rửa trơi đất là một q trình phức tạp, gây nên bởi nhiều nguyên nhân khác

nhau như: mất lớp thực vật che phủ bề mặt thuờng xuyên, đặc biệt là mất rừng, tăng các tác

động gây phong hoá bở rời, như nhiệt độ, mưa, hoạt động nhân sinh cày xới đất, canh tác

khơng hợp lý,... Hàng năm xói mòn trên thế giới đã làm bào trôi đất xuống các con sơng

xấp xỉ 15 tỷ tấn. Trong đó nặng nhất là Ấn Độ mỗi năm có 6 tỷ tấn đất mất đi cùng với 6

triệu tấn dinh dưỡng cuốn trôi theo. Trung Quốc xói mòn mất 5 tỷ tấn đất/năm. Mỗi năm

thế giới có khoảng 6 triệu ha đất một thời rất màu mỡ bị biến thành các hoang mạc và 21

triệu ha biến thành đất khơng có năng suất kinh tế, trong khi phải mất một thế kỷ đất mới

được phong hóa cho độ dày là 1cm.

Do xói mòn, đất trôi xuống các con sông làm cho nước sông có độ đục rất cao, ảnh

hưởng lớn đến hoạt động của các sinh vật thủy sinh. Một số con sông (do phù sa, đất

cát…) có độ đục lớn vào mùa mưa như:

+ Sơng Hồng Hà (TQ) 1m3 nước lắng đọng tới 35,5kg đất cát

+ Sông Colorado (Mỹ)

27,5kg

+ Sông Hồng (VN)

15,0kg

Chua đất gây nên bởi rất nhiều nguyên nhân: do thực vật lấy đi chất dinh dưỡng

K+, Ca++, Mg++, Na+ nên trong đất chỉ còn H+; do mưa nhiều ion kiềm và kiềm thổ OH bị

rửa trơi, còn lại Al+++, Fe++, H+; Do có q nhiều Al3+ và Fe2+ trong mơi trường đất; Do các

chất hữu cơ bị phân giải trong mơi trường yếm khí tạo ra nhiều axit hữu cơ. Đất nhiệt đới

nói chung đều chua, pH = 4,5-5,5; đất phèn pH=2-4,5; phù sa sông Hồng pH=7

Khoảng 40% đất nông nghiệp bị suy thoái mạnh hoặc rất mạnh, 10% bị sa mạc

hố do khí hậu bất lợi và khai thác sử dụng khơng hợp lý. Thối hố mơi trường đất có

nguy cơ làm giảm 10-20% sản lượng lương thực trên thế giới trong 25 năm tới.

Tỷ trọng gây thoái hoá đất trên thế giới như sau: mất rừng 30%, khai thác rừng

quá mức (chặt cây cối làm củi,…) 7%, gặm cỏ quá mức 35%, canh tác nông nghiệp

không hợp lý 28%, công nghiệp gây ô nhiễm 1%. Tuy nhiên, vai trò của các ngun nhân

gây thối hố đất ở các châu lục không giống nhau: Châu Âu, Á, Nam Mỹ mất rừng là

nguyên nhân chủ yếu, Châu Đại Dương và Châu Phi gặm cỏ q mức có vai trò chính

yếu nhất, Bắc và Trung Mỹ chủ yếu do hoạt động nơng nghiệp.

Suy thối tài ngun đất Việt Nam bao gồm nhiều vấn đề và do nhiều quá trình tự

nhiên, xã hội khác nhau đồng thời tác động. Nhiều quá trình thối hố đất nghiêm trọng ở

Việt Nam là: Xói mòn rửa trôi bạc màu do mất rừng, mưa lớn, canh tác không hợp lý, chăn

67



thả quá mức. Theo Trần Văn Ý - Nguyễn Quang Mỹ (1999) trên 60% lãnh thổ Việt Nam

chịu ảnh hưởng của xói mòn tiềm năng ở mức > 50 tấn/ha/năm; chua hoá, phèn hoá, hoang

mạc hoá, cát bay, đá lộ đầu, mất cân bằng dinh dưỡng,.. Tỷ lệ bón phân N: P 2O5: K2O trung

bình trên thế giới là 100:33:17 còn ở Việt Nam là 100: 29: 7, thiếu lân và kali trầm trọng.

Các quá trình khác cũng phải kể đến như:

Quá trình úng và ngập: Ở nước ta có 30% diện tích đồng bằng sơng Hồng bị úng

ngập thường xuyên (đồng bằng sông Hồng Việt Nam ≈ 30.000 km 2) làm cho các sinh vật

đất khơng hoạt động được;

Q trình cát bay: Các dòng cát ướt và khơ đưa vào đất làm thối hóa đất. Hiện tượng

này chủ yếu xảy ra ở vùng ven biển miền Trung Thuận Hải, Nghĩa Bình;

Ngồi ra đất còn bị một số lồi cỏ dại phá hủy gây thối hóa mạnh, nhất là cỏ

tranh sinh trưởng mạnh vào 2 thời kỳ (tháng 4,5 và tháng 8,9 hàng năm).

b) Hoang mạc hố: là q trình tự nhiên và xã hội, khoảng 30% diện tích bề mặt trái đất

nằm trong vùng khơ hạn và bán khơ hạn đang bị hoang mạc hố đe doạ và hàng năm có

khoảng 6 triệu ha đất bị hoang mạc hoá, mất khả năng canh tác do những hoạt động của

con người.

Hiện tượng sa mạc hóa làm giảm khả năng sinh học (do lý hóa tính của đất bị thay

đổi), giảm năng suất và sinh khối của sinh vật trên các vùng đất. Khả năng chăn nuôi

động vật giảm dẫn đến giảm khả năng và tiền đồ sinh sống của con người. Thế giới hiện

có 32 quốc gia có nguy cơ sa mạc hóa. Hiện nay sa mạc hóa đang đe dọa 39 triệu ha

chiếm 26,3% diện tích đất tự nhiên, với 850 triệu người. Trung bình hàng năm có 9 triệu

ha đất bị sa mạc hóa, trong đó sa mạc hóa lớn nhất thế giới là sa mạc Xahara dài 5000

km, rộng 1500 km, hiện còn đang lan rộng ra xung quanh hàng trăm km 2 (sa mạc này

nằm ở Bắc Phi thuộc lãnh thổ của 3 nước Tuynidi, Angêri và Marốc). Vùng sa mạc này

có thời tiết rất khắc nghiệt, nắng, nóng và khơ hạn, lượng mưa ở đây chưa bao giờ vượt

quá 50mm/năm. Hàng năm 3,5 tỷ tấn bụi vào khí quyển, thiệt hại 48 tỷ đô la Mỹ trên thế

giới. Ở vùng Đông Nam Á và Thái Bình Dương, sa mạc hóa cũng đang đe dọa Ấn Độ,

trung Quốc và Băng La Đét… Dự báo đến năm 2015 có 1/3 diện tích đất châu Á và 2/3

diện tích đất châu Phi khơng thể sản xuất được. Ở Việt Nam sa mạc hóa diễn ra chủ yếu

tại vùng miền trung từ Quảng Bình đến Bình Thuận, diện tích 7,85 triệu ha chiếm 28%

diện tích cả nước là sa mạc hóa.

c) Ơ nhiễm đất: Nội dung này được nghiên cứu ở phần ô nhiễm môi trường.

3.2.5. Một số phương hướng chính trong bảo vệ, khai thác hợp lý tài nguyên đất Việt

Nam

a) Hoàn thiện và thực hiện tốt luật đất đai

68



Luật Đất đai năm 2013 ra đời đã khắc phục, giải quyết những tồn tại, hạn chế phát

sinh trong quá trình thi hành Luật Đất đai năm 2003... Luật mở rộng thời hạn giao đất

nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sản xuất nơng nghiệp; quy định cụ thể điều kiện

được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư; quy định về cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; thu

hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư;… Tuy nhiên, qua 3 năm thi hành, Luật Đất đai

năm 2013 đã bộc lộ một số vướng mắc, bất cập cần được hoàn thiện theo hướng quy định

chi tiết hơn, đơn giản hơn, dễ áp dụng để tiến tới xóa bỏ “thị trường ngầm” đất đai, minh

bạch căn cứ giao đất và cho thuê đất; quy định thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

khó thực hiện nhất là ở cấp huyện; hạn mức giao đất nông nghiệp và sự mâu thuẫn quy

định về công chứng, chứng thực giao dịch hợp đồng thế chấp, tặng cho quyền sử dụng

đất giữa các văn bản luật trong hệ thống pháp luật;…Đặc biệt, với một số quy định mới

của Bộ luật Dân sự năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2017), như quyền đối với bất

động sản liền kề; quyền bề mặt;…lại càng đặt ra yêu cầu cấp thiết hơn phải sửa đổi Luật

Đất đai năm 2013 cho phù hợp hơn.

b) Hoàn thiện hệ thống quản lý đất nhà nước

Các biện pháp được đưa ra bao gồm:

+ Hệ thống quy hoạch sử dụng đất các cấp phải được hoàn thiện để thực sự trở thành

công cụ của phát triển và cơ sở quan trọng đảm bảo hài hòa mọi quan hệ kinh tế - xã hội và

cân đối mọi hoạt động và lợi ích của các ngành trong nền kinh tế quốc dân.

+ Tăng cường tính chế tài và tính thượng tơn pháp luật trong thi hành quy hoạch. Đặc

biệt là hệ thống chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất các cấp phải trở thành những chỉ tiêu tổng thể

quyết định xu hướng phát triển của mỗi địa phương mà khơng mâu th̃n với lợi ích tồn cục.

+ Đảm bảo bình đẳng trong sử dụng đất thơng qua cơ chế thu hẹp các đối tượng

được giao đất và mở rộng đối tượng được thuê đất. Việc giao đất, cho thuê đất để thực

hiện các dự án phát triển kinh tế, xã hội chủ yếu thực hiện thông qua đấu giá quyền sử

dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất. Đồng thời quy định chặt chẽ về điều kiện giao

đất, cho thuê đất để phát triển kinh tế.

+ Tiếp tục đổi mới cơ chế Nhà nước quy định giá đất theo mục đích sử dụng đất

tại thời điểm định giá, đảm bảo nguyên tắc phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý

của Nhà nước để giải quyết căn bản vướng mắc về chính sách tài chính đất đai.

+ Các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội phải thực hiện

nghiêm túc quy định của pháp luật mà không được chuyển đơn thư để tiếp tục giải quyết,

có trách nhiệm phải trả lời, giải thích cho đương sự biết đối với tranh chấp, khiếu nại, tố

cáo về đất đai đã có bản án, quyết định giải quyết của Tòa án, quyết định giải quyết của

cơ quan hành chính đã có hiệu lực pháp luật.

69



+ Tiếp tục khẳng định cơ chế Nhà nước khơng thừa nhận việc đòi lại đất đã được

Nhà nước giao cho người khác sử dụng trong q trình thực hiện các chính sách, pháp

luật về đất đai.

+ Sử dụng kỹ thuật hiện đại trong điều tra cơ bản về đất đai, lập quy hoạch sử dụng đất

và quan trắc giám sát kết quả thực hiện quy hoạch trên thực địa và từ các tư liệu viễn thám.

c) Bảo vệ và khai thác hợp lý rừng và đất rừng

Chặt phá rừng bừa bãi là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự suy

thoái vùng đất dốc, đe dọa tính bền vững của các vùng đất thấp. Bảo vệ, khoanh nuôi tái

sinh, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên rừng là khâu quan trọng trong phát triển và duy trì

hệ thống tài ngun rừng.

d) Nhanh chóng phủ xanh đất trống đồi trọc để hạn chế sự xói mòn đất, bối lắng lòng sơng,

các hiện tượng suy thối đất. Ngồi ra còn góp phần tạo mơi trường thiên nhiên, tạo bầu

khơng khí trong lành mát mẻ, tạo nơi cư ngụ cho nhiều loại đồng vật.

e) Phát triển nông nghiệp bền vững theo hướng sinh thái

Sử dụng đất nơng nghiệp đã gây ra hiện tượng suy thối đất do sử dụng nhiều hóa

chất tác động đến mơi trường đất. Do đó, muốn bảo vệ và tránh suy thối mơi trường đất,

phải duy trì hàm lượng chất hữu cơ trong đất bằng việc tăng cường bón phân hữu cơ và trả

lại tàn dư thực vật cho đất bằng các biện pháp kĩ thuật khác.

f) Khai thác và sử dụng hợp lý các vùng đất có vấn đề

Các vùng đất mặn, đất phèn, đất cát ven biển, đất lầy thụt là những vùng đất khó

khăn trong phát triển nơng nghiệp. Tuy nhiên nếu chúng ta biết khai thác và sử dụng nó

một cách hợp lý thì cũng trở thành vùng đất có hiệu quả kinh tế cao.

g) Chống xói mòn đất cho các vùng đất dốc

Hướng tiếp cận tốt nhất để cải tạo và giữ gìn chất lượng đất là áp dụng các biện

pháp nông nghiệp sinh thái: tái sử dụng tàn dư cây trồng và phân hữu cơ nguồn gốc động

vật, giảm sử dụng hố học trong nơng nghiệp, tăng cường áp dụng các loại cây che phủ,

nhất là cây họ đậu để vừa bảo vệ vừa cải tạo đất. Cần quan tâm phát triển các kỹ thuật tối

đa hố sinh khối, độ che phủ mặt đất và tính liên tục của lớp phủ để chống xói mòn đất,

tăng cường hoạt tính sinh học, tăng cường các q trình tái tạo dinh dưỡng, tái tạo các

tính chất cơ bản của đất như cấu tượng đất, hàm lượng hữu cơ, độ xốp, hoạt tính sinh học,

độ pH, độc nhơm sắt. Từ việc phân huỷ các chất hữu cơ các cation bazơ sẽ trung hồ pH,

còn các phân tử mùn sẽ liên kết với nhôm và sắt để giảm độ dốc trong đất. Tất cả những

nỗ lực trên nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng.

3.3. Tài nguyên nước

3.3.1. Khái niệm và đặc điểm chung

Tài ngun nước là tồn bộ lượng nước có trong các thuỷ vực trên trái đất mà con

70



người có thể sử dụng cho các hoạt động dân sinh và phát triển kinh tế xã hội của mình.

Nuốc là tài nguyên tái tạo được, sau một thời gian nhất định được dùng lại. Tài

nguyên nước bao gồm nước tổng khí quyển, nước mặt, nước dưới đất, nước biển và đại

dương. Các nguồn nước này hầu hết là tài nguyên tái tạo, nằm trong chu trình t̀n hồn

theo các dạng : mây, mưa, trong các vật thể chứa nước : sông, suối, đầm, ao, hồ… nước

dưới đất có áp và khơng có áp, ở tầng nông hay tầng sâu của đất…

3.3.2. Tài nguyên nước đối với cuộc sống con người

1- Nước trực tiếp duy trì sự sống và sản xuất của con người ; 2- Nước là yếu tố tạo

nên khí hậu: 3- Nước là nguồn cung cấp năng lượng ; 4- Nước là mơi trường sống của

các lồi thuỷ sinh và là tổ sinh thái của nhiều lồi khác; 5- Đóng vai trò là đường giao

thơng; 6- Nước chứa đựng chất thải, xử lý làm sạch môi trường; 7- Tạo ra cảnh quan văn

hoá đặc thù.

3.3.3. Hiện trạng khai thác và sử dụng tài nguyên nước trên thế giới và ở Việt Nam.

Tài nguyên nước trên Trái Đất khá dồi dào, ước tính khoảng 1.386 triệu km3 lượng

nước ngọt thường được dùng chỉ có 0,8%. Nước phân bố khơng đều trong các thuỷ vực

trong tự nhiên: Nước tự nhiên tập trung phần lớn ở biển và đại dương (> 97,61%), sau đó là

các khối băng ở các cực (1,83%), rồi đến nước ngầm (0,54%). Nước ngọt tầng mặt chiếm

một tỉ lệ không đáng kể (0,02%).

Nước trên Trái Đất được phát sinh từ ba nguồn: từ bên trong nguồn đất, từ các

thiên thạch đưa lại và từ lớp trên của khí quyển Trái Đất. Trong ba nguồn trên, nguồn

nước từ bên trong lòng đất là chủ yếu, tạo nên nước mặn, nước ngọt và hơi nước trên mặt

đất. Theo tính tốn thì khối lượng nước ở trạng thái tự do phủ trên mặt đất là trên 1,4 tỷ

km3, khối lượng này chẳng đáng là bao so với trữ lượng nước ước chừng có ở lớp vỏ giữa

của Trái Đất là 200 tỉ km3

Trong khoảng 105.000 km3 nước mưa, nguồn cung cấp nước ngọt của Trái Đất thì

khoảng 1/3 số nước đó đổ xuống sơng, suối và tích tụ trong đất, còn 2/3 quay trở lại bầu

khí quyển do bốc hơi bề mặt và sự thoát hơi nước ở thực vật.

Mức độ dùng nước của con người phụ thuộc và nhu cầu, mức sống, văn hố, khả

năng khai thác của cơng nghệ, tài chính và khả năng đáp ứng của tự nhiên. Tổng mức tiêu

thụ nước của nhân loại hiện đặt khoảng 35.000km 3/năm, trong đó 8% dùng cho sinh hoạt,

23% dùng cho công nghiệp và 63% dùng cho nông nghiệp.

Lượng mưa hàng năm trên lục địa bằng 105.000km3. Mưa phân bố không đều theo

khơng gian và thời gian. Từ xích đạo đến hai cực có xu thế giảm dần, tuy nhiên tại vùng

vĩ độ 600 có một đỉnh mưa thứ hai, nhỏ hơn đỉnh mưa xích đạo. Lượng mưa lớn nhất

quan sát thấy tại Haoai là > 11.000mm/năm, một số nơi trong sa mạc thường khơng có

mưa trong nhiều năm. Theo các vùng khí hậu trên thế giới, ta có lượng mưa trung bình

71



năm như sau: Hoang mạc (< 120mm); khí hậu khô (120-250mm); khô vừa (250-500mm);

ẩm vừa (500-1000mm); ẩm (1000-2000mm); rất ẩm (>2000mm).

Tài nguyên nước mang tính lưu vực và phi hành chính. Trên thế giới hiện có 200

lưu vực sơng đa quốc gia, có nơi là đương biên giới, có nơi dòng sơng chảy qua nhiều

quốc gia khác nhau, việc cùng chia sẻ nguồn nước và các nghĩa vụ bảo vệ lưu vực là vơ

cùng khó khăn trong thời bình và hầu như khơng thể có được trong thời chiến.

Lượng nước bình quân đầu người đạt tới 17.000 m 3/năm. Nếu hệ số bảo đảm nước

trung bình trên thế giới là 20 (tức 700 lít/người/ngày) thì con số này ở Việt Nam là 68, cao

gấp trên 3 lần. So với nhiều nước, Việt Nam có nguồn tài nguyên nước khá dồi dào. Lượng

mưa trung bình gần 2.000mm/năm, gấp 2,6 lần trung bình của lục địa cấp 660 km 3 nước

mưa/năm.

Về chất lượng, nước của sơng ngòi nước ta thoả mãn các nhu cầu kinh tế xã hội,

do độ khoáng hoá thấp (200 mg/1ít), phản ứng trung tính hoặc kiềm yếu, thuộc loại nước

mềm. Do nguồn nước mặt dồi dào làm cho trữ lượng nước ngầm lớn, với nhịp điệu khai

thác khoảng 15 triệu m3/ngày.

Trên tồn lãnh thổ Việt Nam có trên 350 nguồn nước khống, nước nóng, trữ

lượng mạch lộ thiên đạt đến 86,4 triệu lít/ngày. Nước khống có nhiệt độ thay đổi từ 25 1050C. Nước khoáng và nước nóng có khả năng chữa bệnh rất tốt. Theo đặc tính chữa

bệnh có thể chia nước khống, nước nóng Việt Nam thành 8 nhóm chủ yếu bao gồm:

Nhóm nước khống cacbonic, silic, brơm và iốt, sunphua hiđrơ, sắt, phóng xạ, nước nóng

khống hố thấp, và nước giàu khống. Nguồn nước khống của chúng ta có thể khẳng

định là tài ngun giàu có, là nguồn được liệu quý, là nguồn nước giải khát rất có ý nghĩa

nâng cao sức khoẻ của nhân dân.

Cơ cấu dùng nước ở Việt Nam là 60% dùng cho nông nghiệp, công nghiệp 20%,

chăn nuôi 12%, dân sinh 8%. Hiện nay ở Việt Nam mới có 1/3 dân số được dùng nước

đúng tiêu chuẩn nước sạch của Liên Hợp Quốc (gồm 40-70% dân đô thị và khoảng 30%

dân nông thôn).

3.3.4. Hệ quả môi trường đến tài nguyên nước

Hệ quả của việc khai thác, sử dụng nước không hợp lý là: 1- ô nhiễm nước do xả

thải trực tiếp vào các nguồn nước, ô nhiễm các thành tố khác của mơi trường (như đất,

khơng khí,..), hoặc do hoạt động nhân tạo biến đổi các điều kiện hình thành dòng chảy

và điều kiện cần cho q trình tự làm sạch, đặc biệt là hậu quả suy thối, khủng khoảng

mơi trường và biến đổi khí hậu tồn cầu phá vỡ quy luật tự nhiên chi phối các q trình

nước nói chung và dòng chảy sơng ngòi nói riêng ; 2- cạn kiệt nguồn nước và khủng

khoảng hệ sinh thái.

Khan hiếm nguồn nước trên thế giới xẩy ra do các nguyên nhân chính sau: 1Nguồn nước tự nhiên khan hiếm do phân bố không đều theo không gian ; 2- Biến trình

72



nước theo thời gian khơng đồng pha với biến trình nhu cầu sử dụng ; 3- Chất lượng nước

không phù hợp. Khan hiếm nguồn nước tăng cường do áp lực dân số, quản lý yếu kém

các nguồn nước và thay đổi các mơ hình khí hậu.

3.3.5. Các biện pháp bảo vệ tài nguyên nước

Cơ sở khoa học của việc bảo vệ nguồn nước là đảm bảo duy trì chu trình t̀n

hồn nước tự nhiên. Trong đó chú ý tới các biện pháp sau:

* Bảo vệ tài nguyên nước tránh bị cạn kiệt:

Hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước phải tuân thủ quy hoạch tài nguyên

nước đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trường hợp làm suy giảm chức năng của

nguồn nước, gây sụt, lún đất, ô nhiễm, nhiễm mặn nguồn nước phải có trách nhiệm khắc

phục hậu quả; Trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

- Không xây dựng mới các bệnh viện, cơ sở y tế điều trị bệnh truyền nhiễm, nghĩa

trang, bãi chôn lấp chất thải, cơ sở sản xuất hóa chất độc hại, cơ sở sản xuất, chế biến có

nước thải nguy hại trong hành lang bảo vệ nguồn nước.

Đối với cơ sở đang hoạt động phải có biện pháp xử lý, kiểm sốt, giám sát chặt

chẽ chất lượng nước thải, chất thải trước khi thải ra đất, nguồn nước; Cơ sở đang hoạt

động gây ô nhiễm nguồn nước phải có giải pháp khắc phục trong thời hạn do cơ quan

thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên nước có thẩm quyền quy định (nếu

khơng khắc phục được thì bị đình chỉ hoạt động hoặc di dời theo quy định của pháp luật).

- Việc xây dựng các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao,

cụm công nghiệp, khu đô thị, khu dân cư tập trung, khu du lịch, vui chơi, giải trí tập

trung, tuyến giao thơng đường thủy, đường bộ, cơng trình ngầm, cơng trình cấp, thốt

nước, cơng trình khai thác khoáng sản, nhà máy điện, khu chứa nước thải và cơ sở sản

xuất, kinh doanh, dịch vụ, các cơng trình khác có nguy cơ gây ơ nhiễm, suy thối, cạn

kiệt nguồn nước phải có phương án phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn

nước.

- Tổ chức, cá nhân khai thác mỏ hoặc xây dựng cơng trình, nếu tiến hành hoạt động

bơm, hút nước, tháo khô dẫn đến hạ thấp mực nước dưới đất gây cạn kiệt nguồn nước thì

phải dừng ngay việc bơm, hút nước và thực hiện các biện pháp hạn chế, khắc phục theo

chỉ đạo của cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên nước có thẩm

quyền. Nếu gây thiệt hại thì phải thực hiện bồi thường theo quy định của pháp luật.

- Ao, hồ chứa nước thải, khu chứa nước thải phải được chống thấm, chống tràn, bảo

đảm không gây ơ nhiễm nguồn nước.



73



Ngồi ra, để phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, Luật Tài nguyên nước năm

2012 cũng quy định:

- Các tổ chức, cá nhân khai thác rừng có trách nhiệm thực hiện các biện pháp khai

thác, bảo vệ rừng theo quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng, đảm bảo khơng làm

suy thối rừng đầu nguồn.

- Việc khai thác khoáng sản, xây dựng cầu, bến tàu hoặc các cơng trình ngăn, vượt

sơng, suối, kênh, rạch; Hoạt động đặt đường ống hoặc dây cáp bắc qua sông, suối, kênh,

rạch, đặt lồng bè trên sông không được cản trở dòng chảy và phù hợp với tiêu chuẩn

phòng, chống lũ, các yêu cầu kỹ thuật liên quan khác theo quy định của pháp luật.

- Tổ chức, cá nhân thăm dò, khai thác nước dưới đất; Hành nghề khoan nước dưới đất;

Khoan khảo sát địa chất cơng trình, thăm dò địa chất, khai thác khống sản, dầu khí; Xử

lý nền móng cơng trình, tháo khơ mỏ và các hoạt động khoan, đào khác phải thực hiện

các biện pháp bảo vệ nước dưới đất, trám lấp giếng sau khi đã sử dụng xong hoặc bị

hỏng. Tổ chức, cá nhân khai thác khống sản, xây dựng cơng trình ngầm phải tuân thủ

tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước dưới đất.

Ở những vùng nước dưới đất bị khai thác quá mức hoặc bị suy thoái nghiêm trọng, cơ

quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước phải khoanh vùng cấm, vùng hạn chế khai

thác và có các biện pháp kiểm sốt nghiêm ngặt để bảo vệ nguồn nước dưới đất.

* Bảo vệ tài nguyên nước chống ô nhiễm:

Trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền, trong quá trình khai thác sử dụng

cần tiến hành các biện pháp bảo đảm cho nguồn nước không bị giảm về số lượng và chất

lượng, không gây ra các tác động xấu về môi trường sinh thái, những vấn đề cần giải

quyết đó là :

- Phòng chống lũ lụt là nội dung hàng đầu để tránh rủi ro, thiên tai. Cơng việc này

phải thích hợp với từng vùng, kết hợp giữa việc xây dựng các cơng trình chống lũ và

trồng cây xanh, tăng cường trồng rừng phòng hộ.

- Khai thác một cách vừa phải, có kế hoạch các nguồn nước để tránh thiếu nước.

Nhu cầu sử dụng nước ngọt ngày một tăng, nhất là vào mùa khô.

- Bảo vệ và khai thác hợp lý nguồn nước ngầm. Yêu cầu của cấp nước sinh hoạt

cho thành thị và nông thôn là đủ nước sạch và đảm bảo chất lượng nước.

3.4. Tài nguyên sinh vật (Đa dạng sinh học)

3.4.1. Vai trò của đa dạng sinh học

Tại Hội nghị Thượng đỉnh về môi trường tổ chức năm 1992 tại Braxin đã khẳng

định: con người đã đang và sẽ phụ thuộc và đa dạng sinh học (tài nguyên sinh vật), điều

74



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×