Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.4 số liệu một số các khóa học đào tạo

Bảng 2.4 số liệu một số các khóa học đào tạo

Tải bản đầy đủ - 0trang

kế toán

Thể thao

Cơ khí



8

15



601

1404



777

1783



896

1920



170

379



28.2

26.9



119

137



15.3

7.7



điện tử



2.6.1 .BÀI GIÀNG Tìm hiểu loại hình đào tạo tư vẫn giải pháp tin học trong các trung

tâm trong chương trình giảng dạy

• Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức về ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thơng, tin

học hố cơng tác quản lý cho các đối tượng tại Học viện

Nâng cao nhận thức về ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông, tin học hóa công

tác quản lý được các tác giả nghiên cứu đề tài coi là một giải pháp có vị trí then chốt trong

quá trình tin học hóa công tác quản lý tại trung tâm Học viện.

Tin học hóa là một quá trình; là một loại hình ứng dụng kỹ thuật - công nghệ vào hoạt

động thực tiễn, gắn với một mô hình tổ chức nhất định. Tin học hóa về thực chất chỉ là

một giải pháp được áp dụng để nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả lao

động của con người. Vì vậy, trong quá trình tin học hóa công tác quản lý, nhân tố con

người có vai trò và ý nghĩa quan trọng nhất. Nhân tố con người quyết định quá trình tin

học hóa công tác quản lý thành công hay không thành công; mức độ thành công nhiều hay

ít. Chừng nào con người chưa nhận thức được đầy đủ và thấu đáo vai trò, tác dụng, ý

nghĩa của nhiệm vụ tin học hóa thì không chỉ trong quản lý mà trong bất cứ lĩnh vực nào

khác cũng đều không đưa lại kết quả đích thực.

Trong hoạt động quản lý, vấn đề nhân tố con người chủ yếu lại là đội ngũ cán bộ lãnh

đạo, quản lý; những người giữ vai trò chủ thể của hoạt động lãnh đạo, quản lý. Vì vậy,

nâng cao nhận thức về tin học hóa cho đội ngũ này là yêu cầu đầu tiên khi có ý định tiến

hành tin học hóa công tác quản lý. Khi các chủ thể của hoạt động quản lý đã nhất quán

với chủ trương thực hiện tin học hóa công tác quản lý thì không một khách thể, đối tượng

nào của hoạt động quản lý lại tự mình có thể vận động bên ngoài các quy trình tác nghiệp

đã được tin học hóa.

Từ thực trạng vấn đề nhận thức đối với công nghệ thông tin - truyền thông của đội ngũ

cán bộ lãnh đạo, quản lý tại trung tâm Học viện, các tác giả nghiên cứu đề tài cho rằng,



22



cần thực hiện các giải pháp sau để đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có sự thống nhất cao,

kể cả trong nhận thức cũng như trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ tin học hóa công

tác quản lý.

Một là, tin học hóa cơng tác quản lý tại trung tâm Học viện phải được xác định là

một nhiệm vụ của tất cả các cơ quan, đơn vị; của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Học viện cần đổi mới phương thức triển khai ứng dụng công nghệ thông tin - truyền

thông từ thuần túy thực hiện các dự án sang gắn các dự án này với công tác quản lý tại

trung tâm Học viện. Theo đó, dù các dự án này được đầu từ bằng nguồn kinh phí nào, cơ

quan nào là chủ quản đầu tư thì cũng phải coi đó là một hoạt động chung của các đơn vị

tại trung tâm Học viện. Khi đã coi là nhiệm vụ chung thì việc triển khai thực hiện các dự

án đó được thông tin đầy đủ đến các đơn vị; thu hút sự tham gia của các đơn vị bằng cách

tập hợp ý kiến, đề xuất những vấn đề cần giải quyết. Từ phương thức triển khai này thì

các cấp lãnh đạo, quản lý tại trung tâm Học viện mới thấy được sự cần thiết phải ứng

dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong các lĩnh vực hoạt động của Học viện; sự

cần thiết phải tin học hóa trong công tác quản lý; trước hết là quản lý công tác đào tạo và

nghiên cứu khoa học. Khi vẫn tiếp tục duy trì phương thức triển khai các dự án công nghệ

thông tin - truyền thông như hiện nay thì người triển khai cứ triển khai, người sử dụng cứ

không sử dụng. Cuối cùng, tuy các dự án vẫn được thực hiện và kết thúc nhưng không

đem lại hiệu quả thiết thức; lãng phí và không tạo được sự phát triển của lĩnh vực công

nghệ thông tin - truyền thông. Việc đánh giá kết quả của các dự án công nghệ thông tin truyền thông phải là nó đã đem lại hiệu quả gì về kinh tế và xã hội trong hoạt động thực

tiễn của các mô hình tổ chức.

Hai là, tiếp tục tuyên truyền các vấn đề về phương hướng, chủ trương, chính sách

của Đảng và Nhà nước về ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin.

Trong những năm qua, nhiều văn kiện quan trọng chỉ đạo hoạt động ứng dụng công

nghệ thông tin - truyền thông của Đảng và Nhà nước đã được ban hành như Chỉ thị số

58/CT-TƯ của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2000); Luật Công nghệ

thông tin của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006); Nghị định số

64/2007/NĐ-CP của Chính phủ về ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong các

cơ quan của Đảng và Nhà nước. Ngoài ra, nhiều văn kiện khác liên quan đến phương



23



hướng, chủ trương, chính sách của Nhà nước về ứng dụng và phát triển công nghệ thông

tin - truyền thông cũng đã được ban hành. Tuy vậy, đến nay, nhiều cán bộ lãnh đạo, quản

lý chưa biết đến các văn kiện này. Đây là các văn kiện chỉ đạo rất cụ thể quá trình ứng

dụng công nghệ thông tin - truyền thông và tin học hóa các lĩnh vực hoạt động ở nước ta

trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Không tiếp cận các chủ trương

của Đảng và Nhà nước về công nghệ thông tin - truyền thông, nhất định đội ngũ cán bộ

lãnh đạo, quản lý sẽ không có nhận thức đầy đủ và đúng đắn đối với quá trình tin học hóa

công tác quản lý tại trung tâm Học viện. Vì vậy, các cấp ủy đảng, người đứng đầu các đơn

vị có trách nhiệm phải quán triệt, phổ biến, tuyên truyền, giới thiệu cho mọi đối tượng

trong đơn vị. Các văn kiện liên quan đến ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin truyền thông cũng cần được phổ biến trên website của Học viện và các phương tiện

truyền thông khác.

Ba là, để tin học hóa cơng tác quản lý phải bắt đầu từ đổi mới lề lối làm việc của

các cơ quan, đơn vị và đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh là đơn vị có lịch sử, truyền

thống hơn 60 năm. Không thể phủ nhận những thành tựu to lớn của Học viện trong nhiều

thập kỷ qua trên tất cả các phương diện. Tuy vậy, trong hoạt động quản lý thì lề lối làm

việc vẫn chưa thoát ra khỏi những nề nếp, thói quen đã được hình thành từ trong quá khứ.

Đó là lối làm việc thủ công, mang nặng tính hành chính, được hình thành từ các thế hệ

cán bộ trưởng thành trong kháng chiến chống đế quốc; trong nền sản xuất nông nghiệp; ít

nhiều còn mang cả những tàn dư của cơ chế quản lý tập trung, bao cấp. Đặc trưng cơ bản

nhất của lối làm việc thủ công trong hoạt động quản lý là trong quá trình tác nghiệp luôn

chịu sự chi phối của mối liên hệ giữa cá nhân với cá nhân con người. Trong một nền sản

xuất công nghiệp hiện đại, hoạt động quản lý không thể chỉ lệ thuộc con người, lệ thuộc

cá nhân mà quan trọng hơn nó bị chi phối bởi mối liên hệ giữa công việc với công việc;

công đoạn với công đoạn trong các quy trình tác nghiệp.

Đổi mới lề lối làm việc trước hết là làm việc có kế hoạch, làm việc theo kế hoạch;

phải khắc phục bằng được hiện tượng tùy tiện, tắc trách trong quá trình thực hiện nhiệm

vụ của từng đơn vị. Có vậy mới làm cho mọi chủ thể và khách thể trong hoạt động luôn

chủ động thực hiện và hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của mình. Các cuộc họp đột xuất



24



phải thực sự do tình hình thực tiễn có những biến động bất ngờ, cần phải họp bàn để ra

quyết định. Chế độ hội họp của cán bộ các cấp và các hoạt động chung của đơn vị phải

được đưa vào kế hoạch. Như vậy, người quản lý cấp trên mới thực sự tôn trọng cấp dưới

trong chỉ đạo, điều hành hoạt động của đơn vị.

Với các chế độ báo cáo định kỳ, các đơn vị cấp dưới phải tuân thủ nghiêm ngặt việc

báo cáo lên cấp trên. Nội dung báo cáo phải có số liệu cụ thể và chính xác để phản ánh

đúng tình hình thực tiễn. Hiện nay, tại trung tâm Học viện, việc thực hiện chế độ báo cáo

còn tùy tiện và lỏng lẻo. Cấp trên lại không thể trực tiếp kiểm tra, giám sát việc thực hiện

nhiệm vụ của các đơn vị. Đó là những biểu hiện của hiện tượng quan liêu, xa rời thực tế

trong hoạt động quản lý.

Hoạt động quản lý thực chất là xử lý thông tin để ra quyết định. Khi những vấn đề

liên quan đến hoạt động quản lý không được thông tin đầy đủ, công khai, minh bạch với

đối tượng của hoạt động quản lý; khi cấp dưới không chấp hành đầy đủ các chế độ báo

cáo, xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên, tất yếu công tác quản lý chỉ có thể trừu tượng, chung

chung; không có hiệu quả thiết thực; năng lực quản lý không những không nâng lên mà

ngày càng suy giảm.

Đổi mới lề lối làm việc trong hoạt động quản lý còn thể hiện ở khía cạnh đổi mới

công cụ lao động quản lý. Chưa đề cập đến các đơn vị ở ngoài khu vực trung tâm Học

viện, hệ thống mạng nội bộ của Học viện đã được xây dựng hàng chục năm nay, vươn đến

tất cả các đơn vị đầu mối của Giám đốc Học viện. Tuy vậy, đến nay, trong công tác quản

lý vẫn áp dụng cách thức sử dụng văn bản in trên giấy là chủ yếu; rất tốn kém, lãng phí;

thậm chí các tài liệu này nhiều khi không đến đúng địa chỉ. Trước mắt, Giám đốc Học

viện có thể ban hành ngay quy định về việc dứt khoát thay thế các văn bản in trên giấy

bằng văn bản điện tử trên hệ thống mạng Học viện, ngoại trừ những văn bản nhất thiết

phải được in ra giấy. Quy định ấy đòi hỏi, mọi chủ thể, khách thể trong công tác quản lý

tại trung tâm Học viện phải sử dụng máy tính điện tử để cập nhật thông tin, xử lý thông

tin; để biết mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, cá nhân hoặc cơ quan, đơn vị phải tham gia

những hoạt động nào của Học viện và phải thực hiện những nhiệm vụ cụ thể nào.

Bốn là, nâng cao trình độ nhận thức và kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông của đội ngũ cán bộ, công chức đang làm việc tại trung tâm Học viện.



25



Để tin học hóa công tác quản lý, không chỉ các chủ thể quản lý nhận thức đầy đủ về

công nghệ thông tin - truyền thông và tin học hóa mà còn phải tiếp tục nâng cao trình độ

nhận thức về công nghệ thông tin - truyền thông và kỹ năng tác nghiệp bằng máy tính

điện tử của tất cả cán bộ, công chức tham gia công tác quản lý. Bên cạnh những kiến thức

cơ bản về sử dụng máy tính điện tử trong công tác văn phòng, Học viện cần tiếp tục mở

các lớp bồi dưỡng, tập huấn về khai thác dữ liệu trên các hệ thống mạng; kiến thức về bảo

mật dữ liệu; về việc sử dụng các chương trình phần mềm chuyên dụng được sử dụng

trong công tác quản lý v.v. cho đối tượng là cán bộ, chuyên viên tham gia công tác quản

lý. Những cán bộ, công chức không trực tiếp tham gia công tác quản lý (ví dụ: giảng viên,

nghiên cứu viên...) thì ít nhất cũng phải được trang bị kiến thức cơ bản đối với người sử

dụng máy tính điện tử. Các cơ quan trực tiếp liên quan đến việc thực hiện chức năng quản

lý nhà nước về công nghệ thông tin - truyền thông của Học viện cần phải xây dựng các

chương trình đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn... để nâng cao kiến thức cơ bản về công nghệ

thông tin - truyền thông cho các đối tượng. Trong đó, không chỉ thuần túy về kỹ thuật mà

còn phải tuyên truyền, giới thiệu, phổ biến rộng rãi trong các đối tượng các vấn đề về chủ

trương, chính sách của Đảng; pháp luật của Nhà nước liên quan đến lĩnh vực công nghệ

thông tin - truyền thông.

Để thực hiện được các giải pháp nâng cao nhận thức về ứng dụng công nghệ

thông tin - truyền thông và tin học hóa công tác quản lý, các tác giả nghiên cứu đề tài

đều nhấn mạnh rằng, đổi mới và nâng cao nhận thức về một vấn đề nào đó không thể

là một việc làm mang tính hành chính, nghiệp vụ; càng không thể chỉ giao cho một bộ

phận thực hiện chức năng kỹ thuật, nghiệp vụ. Hiện nay, lĩnh vực công nghệ thông tin

- truyền thông tuy không còn mới mẻ nhưng đối với nhiều cán bộ, công chức đang làm

việc tại trung tâm Học viện thì vẫn là một lĩnh vực ít hoặc chưa từng tiếp cận. Mức độ

phổ biến nhất là mọi người chỉ sử dụng máy tính điện tử trong công việc chuyên môn

của chính mình. Vì vậy, vấn đề nâng cao nhận thức về công nghệ thông tin - truyền

thông và tin học hóa công tác quản lý chỉ có thể trông chờ vào lãnh đạo Học viện và

các cơ quan có chức năng xây dựng, phát triển về tổ chức và nguồn nhân lực của Học

viện, trước hết là cơ quan làm công tác Tổ chức - Cán bộ. Nhận thức về công nghệ

thông tin - truyền thông và tin học hóa của đội ngũ cán bộ, công chức tại trung tâm



26



Học viện cũng như trong hệ thống Học viện chỉ có thể được nâng lên, đáp ứng yêu cầu

tin học hóa công tác quản lý khi lãnh đạo Học viện và cơ quan Tổ chức - Cán bộ có kế

hoạch và biện pháp cụ thể để thực hiện nhiệm vụ này.

2.7.Phân tích thời gian sử dụng lao động

Thời gian làm viêc: Mỗi ngày làm việc 8 giờ.

- Đối với khối văn phòng quản lý :

sáng từ 8:00 – 12:00,

nghỉ trưa: 12:00 – 13:00,

Chiều từ 13:00 – 17:00.

Đối với giảng viên giảng dạy

Thời gian được tính vào giờ làm việc:

- Thời gian nghỉ giải lao: theo tính chất công việc

-Thời gian nghỉ cần thiết trong quá trình lao động được tính trong định mức lao động cho

nhu cầu sinh lý tự nhiên của con người.

Thời gian làm thêm: Không quá 4 giờ trong một ngày , 200 giờ trong một năm , trường

hợp đặc biệt không quá 300 giờ một năm.

Nghỉ phép hàng năm: 12 ngày phép/năm đói với nhân viên, 14 ngày phép/năm đối với

trưởng /phó phòng, sau mỗi 5 năm cống hiến được nghỉ thêm 01 ngày phép/năm.

Nghỉ lễ,Tết: Được nghỉ 09 ngày theo quy định của Bộ luật lao động. Tết dương lịch: 01

ngày, Tết nguyên đán: 04 ngày, Ngày chiến thắng: 01 ngày, Ngày Quốc tế lao động: 01

ngày, ngày quốc khánh: 01 ngày và ngày giỗ tổ Hùng Vương: 01 ngày.

Nhận xét : Việc quy đinh thời gian làm việc của công ty là khá hợp lý và đúng so với các

quy định của nhà nước đảm bảo về mặt thời gian ,sức khỏe của nhân viên giảng dạy cũng

như nhân viên quản lý

2.8. Tình hình bảo quản bảo trì dụng cụ học tập và tài sản chung của công ty

* Đội ngũ nhân viên kỹ thuật luôn trong tinh thần có trách nhiệm nhanh nhen với các

sự cố máy móc học tập trong công ty .

- Luôn kiểm tra định kỳ thường xuyên với các thiết bị học tập nhứ máy in, máy chiếu ,

máy điên tử , máy tính …



27



- Phạt cảnh cáo dăn đe với các học viên nhân viên cố ý gây phá hoại ,trộm cắp tài sản

chung của công ty

2.8.1 Cơ cấu và tình hình hao mòn của tài sản cố định

Tài sản cố định tại công ty bao gồm: tài sản cố định hữu hình và tài sản cố

định vô hình.

Tài sản cố định hữu hình bao gồm: Nhà cửa; máy móc thiết bị; phương tiện vận tải

truyền dẫn và các thiết bị dụng cụ quản lý.

Tài sản cố định vô hình: phần mềm bán hàng, phầm mềm kế toán.

Tài sản cố định của công ty được hạch toán theo ba chỉ tiêu: Nguyên giá, hao mòn

luỹ kế và giá trị còn lại.

Nguyên giá của tài sản cố định được xác định là toàn bộ chi phí mà công ty đã bỏ

ra để có được tài sản đó tính đến thời điểm đưa tài sản vào vị trí sẵn sàng sử dụng.

Phương pháp khấu hao tài sản cố định. Tài sản cố định được khấu hao theo thời

gian sử dụng ước tính và theo phương pháp khấu hao đường thẳng

2.8.2 Tình hình sử dụng tài sản cố định

- Là những tư liệu có giá trị lớn hơn một giá trị nào đó (do nhà nước quy định trong

từng thời kì cụ thể) mà có thời hạn sử dụng trên một năm.

- Tài sản cố định trong công ty là tài sản cố định hữu hình bao gồm: Nhà cửa, máy

móc thiết bị; phương tiện vận tải truyền dẫn (dùng trong nhà máy xử lý và tái chế chất

thải) và các thiết bị dụng cụ quản lý.

- Tài sản cố định của công ty được hạch toán theo ba chỉ tiêu: Nguyên giá, hao mòn

luỹ kế và giá trị còn lại.

- Nguyên giá của tài sản cố định được xác định là toàn bộ chi phí mà công ty đã bỏ ra

để có được tài sản đó tính đến thời điểm đưa tài sản vào vị trí sẵn sàng sửa dụng.

- Phương pháp khấu hao tài sản cố định. Tài sản cố định được khấu hao theo thời gian sử

dụng ước tính và theo phương pháp khấu hao đường thẳng. Thời gian khấu

Nhận xét về công tác quản lý tài sản cố định

- Tài sản cố định: Làm nhãn mác gắn trực tiếp máy móc thiết bị, lập hồ sơ tài sản

cố định, bàn giao có các bộ phận sử dụng (có phiếu giao nhận TSCĐ). Nhờ đó các bộ



28



phận, phòng ban, tự quản lý được TSCĐ tại công ty mình, thuận tiện trong việc kiểm kê

và đánh giá TSCĐ hàng năm của cơng ty.

2.9. Phân tích chi phí và giá thành doanh thu

2.5.1.Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Bảng 2.5. Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2014- 2016

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Tớc độ tăng

ST

T



Các chỉ tiêu



Năm



Năm



Năm



2014



2015



2016



Tốc độ tăng



năm 2014/2015 năm 2015/2016

Chênh

%

Chênh

%

lệch



1

2

5



6



7



Tổng doanh

thu

Doanh thu

thuần

Chi phí quản

lý DN

Tổng lợi

nhuận trước

thuế

Lợi nhuận sau

thuế



lệch



3.5



4.1



5.2



0.6



17



1.1



26.8



3.2



3.9



5.0



0.7



21.8



1.1



28.2



0.7



0.8



1.3



0.1



14.2



0.5



62.5



4.3



5.4



7.7



1.1



25.5



2.3



42.5



3.4



3,7



4.9



0.3



8,8



1.2



32.4



Nhìn vào số liệu bảng trên ta có thể thấy được khái quát tình hình chung của Công ty.

Cụ thể tất cả các chỉ tiêu đều tăng dần qua các năm,năm 2015 doanh thu tổng 0.6 tỷ

đồng,năm 2016 tăng 1.1 tỷ so với năm 2015 tương đương tăng 26,8 % .

Lợi nhuận sau thuế qua các năm tăng dần lên theo tỷ lệ thuận với doanh thu .Năm

2016 tăng đột biến so vơi năm 2015 là 1.2 Tỷ tương đương 32.4%

Ngoài ra các doanh thu khác cũng có chỉ số tăng theo từng năm

Như vậy qua phâ n tích tình hình HĐKD của Công ty đã cho ta thấy được khái quát

kết quả hoạt động của 3 năm qua. Mặc dù sự gia tăng chưa thực sự cao nhưng đó đã là

những cố gắng đoàn kết nhất trí của cán bộ , nhân viên Công ty nhằm mang lại hiệu quả

hoạt động HĐKD tốt nhất.



29



2.9.2. Phân loại chi phí của cơng ty

2.4.1



.Phân loại chi phí



Do yêu cầu quản lý của công ty và để phục vụ công tác kiểm tra, đánh giá tình hình

nguồn vốn của cơng ty













Căn cứ vào nợi dung, tính chất của chi phí (phân loại chi phí theo yếu tố) gồm:

Chi phí nhân viên ( giảng viên , quản lý , đoiị ngũ kỹ thuật …)

Chi phí dịch vụ mua ngoài.

Chi phí khác bằng tiền.

Chi phí khấu hao máy móc thiết bị.



Căn cứ vào vào công dụng kinh tế của chi phí (phân loại chi phí theo khoản mục) gồm:

2.9.3.Phương pháp tập hợp chi phí và tính giá thành thực tế.

Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí lương, tiền cơng, đầu tư cơ vật chất ,



-



quảng cáo





Chi phí sản xuất chung: Là các chi phí sử dụng cho hoạt động làm việc ( điên

nước ).

Chi phí quản lý doanh nghiệp : Bao gồm các chi phí cho bộ máy quản lý và điều



-



hành doanh nghiệp, các chi phí có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp như : Chi phí công cụ lao động nhỏ, khấu hao tài sản cố định phục vụ cho

bộ máy quản lý và điều hành doanh nghiệp, tiền lương và các khoản trích nộp theo

quy định của bộ máy quản lý và điều hành doanh nghiệp, chi phí mua ngoài, chi

phí khác bằng tiền phát sinh ở doanh nghiệp như chi phí về tiếp khách .

2.10..Chế độ chả lương của công ty

Trả lương cho các bộ phận và cá nhân

Công ty áp dụng phương pháp chia lương theo thời gian.

Lương thực lĩnh = số giờ giảng dạy x số tiền /1 tiết học + phu cấp, trợ cấp+ lương

cơ bản

Trả lương cho các bộ phận/ phòng ban thông qua quỹ tiền thưởng vào cuối mỗi

năm, tùy vào quá trình giảng dạy và quản lý

Công ty trả lương theo thời gian một cách hợp lý nhất để tạo ra tính công bằng

đối với mọi nhân viên . Mỗi bộ phận thực hiện 1 hoặc 1 phần công việc trong toàn bộ



30



quá trình hoạt động kinh doanh của công ty nên xẽ có mức lương khác nhau theo trình

độ năng lực của từng người

- Nhân viên được thưởng vào các ngày nghỉ lễ theo quy định của nhà nước

Bảng2.6 Quỹ tiền lương kế hoạch 3 năm của công ty ( 2015 – 2017)

ĐVT: Triệu đồng

T

T

1



CHỈ TIÊU

Quỹ lương giảng viên



2

3



Quỹ lương ngoài

Quỹ tiền lương



4



phòng

Tổng



Năm



Năm



Năm



2015

3.833



2016

4.322



2017

5.892



0.450

dự 0.388

5.28



2015/2016

+/%



2016/2017

+/%



0.489



12,7



1.57



3,63



0.039

0.081



8,07

20



1.18



20,6



0.483

0.405



0.522

0.486



0.033

0.017



6

7,33

4,38



5.72



6.9



0.44



8,33



3

(Nguồn: phòng tổ chứ hành chính)

Từ bảng qũy lương kế hoạch trên ta thấy được quỹ lương được hình thành từ 3 quỹ

đó là: quỹ lương theo đơn giá, quỹ lương ngoài đơn giá, quỹ lương dự phòng. Nhận thấy

tổng quỹ lương gia tăng theo các năm, năm 2015 quỹ lương kế hoạch mới chỉ đạt 5,28 tỷ

đồng thì năm 2017 quỹ lương kế hoạch đã tăng lên 6,9 tỷ đồng. Quỹ lương đơn giá chiếm

tỷ trọng cao trong tổng quỹ lương kế hoạch. Quỹ lương theo đơn giá bao gồm qũy lương

cho bộ phận giảng viên và bộ phận lao động nhân viên văn phòng và tổ bảo vệ. Hai quỹ

lương còn lại chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng mang một ý nghĩa kinh tế lớn, nguồn lương này

giúp công ty chi trả cho những khoản lương phát sinh như thuê thêm lao động thời vụ,

tuyển dụng thêm lao động ngắn hạn… Quỹ tiền lương ngoài đơn giá năm 2017 đạt 522

triệu đồng chiếm 7,56% trong tổng quỹ lương, quỹ lương ngoài đơn giá tăng lên qua các

năm cho biết khoản trả ngoài đơn giá ngày càng nhiều và ngày càng cho thấy tầm quan

trọng của quỹ lương này.

NHẬN XÉT :V iệc sử dụng một hình thức trả lương thực sự hợp lý vì nó tạo ra sự

năng xuất trong công việc đối với nhân viên, đánh giá và đo lương được chính xách hiệu

suất làm việc của mỗi nhân viên/ phòng ban. Cách trả lương theo thời gian kiểm soát

được thời gian làm việc, kiểm soát được hiệu suất và chất lượng của cơng việc.



31



2.11. Chính sách khuyến khích về tinh thần và tạo điều kiện làm việc tốt cho người

nhân viên công ty

Tạo động lực về tinh thần trong lao động có ý nghĩa đặc biệt to lớn vì vấn đề sử

dụng lao động không chỉ dừng lại ở chỗ khai thác tối đa năng lực của con người , mà phải

chú ý tới các yếu tố tâm sinh lý chi phối thái độ của người lao động trong quá trình làm

việc , tức là phải tạo ra những điều kiện thuận lợi làm giảm mức độ căng thẳng, mệt mỏi,

tạo không khí phấn khởi tại nơi làm việc . Muốn vậy công ty phải :

- Hoàn thiện công tác tổ chức phục vụ nơi làm việc theo yêu cầu của công việc, tạo

ra môi trường thuận lợi về tâm sinh lý cho nhân viên Cụ thể việc sử dụng chính sách ưu

đãi về tiền lương. Tổ chức các chương trình văn nghệ

* Chính sách tiền lương

- Cơng ty chi trả tiền lương theo đúng với năng lực cá nhân và thực hiên các chế độ

tuyên dương khen thưởng theo các quý đối với các công nhân đạt đươc nhiều thành tích

trong công việc

- Thực hiên đúng theo các quy định của nhà nước về việc chi trả tiền lương

* Chính sách khen thưởng phúc lợi

- Thành lập Quỹ khen thưởng để sử dụng để thưởng trực tiếp cho các cá nhân, tập

thể NLĐ có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua, hoàn thành tốt nhiệm vụ được

giao...

- Quan tâm xây dựng cơ sở hạ tầng phúc lợi cho nhân viên như nhà ăn, nơi làm

việc , ngỉ ngơi...đề nhân viên viên ổn định cuộc sống và công tác lâu dài

- Khích lệ tinh thần ,động viên NLĐ gắn bó, tâm huyết với doanh nghiệp bằng

cách Công ty tổ chức cho NLĐ đi tham quan, nghỉ mát...Công ty thực hiện chính sách từ

thiện, tổ chức phong trào văn hoá, nghệ thuật, thể dục thể thao..



32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.4 số liệu một số các khóa học đào tạo

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x