Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN 2. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

PHẦN 2. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thơng qua GCN Nhà nước từng bước hiện đại hóa trong công tác quản lý

đất đai. Trên cơ sở nhiều loại giấy tờ, do nhiều cơ quan cấp trong từng thời kỳ

khác nhau, tiến tới Nhà nước chỉ quản lý bằng một hệ thống hồ sơ thống nhất để

thuận tiện cho công tác quản lý đất.

GCN là cơ sở pháp lý để phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất

đai giữa Tòa án nhân dân và UBND. Nếu người sử dụng đất có GCN hoặc một

trong các giấy tờ hợp lệ về đất đai quy định tại khoản 1 và 2 Điều 203 Luật Đất

đai năm 2013 thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp sẽ thuộc về Tòa án nhân dân.

Còn nếu họ khơng có các giấy tờ đó thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp sẽ

thuộc về cơ quan hành chính là UBND. Phân định thẩm quyền như trên đã tránh

được hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm giữa UBND và Tòa án, đồng thời cũng

tránh được sự chồng chéo về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước cùng có

thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai.

GCN giúp minh bạch, cơng khai hóa thị trường bất động sản; nhằm thúc

đẩy thị trường quyền sử dụng đất nói riêng và thị trường bất động sản nói chung

phát triển chính quy và lành mạnh. Nếu khơng thì việc mua bán giấy tờ truyền

tay, thị trường ngầm sẽ khiến Nhà nước không quản lý được giá, không thu thuế

được và không điều chỉnh được.

- Đối với người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất:

Thứ nhất, GCN là chứng thư pháp lý xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa

nhà nước và người sử dụng đất; là cơ sở để Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp của người sử dụng đất trong quá trình sử dụng đất như: Nhà nước bảo

vệ khi có tranh chấp đất xảy ra cũng như khi người khác xâm hại đến quyền và

lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là

cơ sở để Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất. Đây cũng là căn cứ để Nhà nước

phân biệt phân biệt diện tích sử dụng đất hợp pháp và bất hợp pháp. Nhờ đó mà

khắc phục được tình trạng bồi thường khơng thỏa đáng, cũng như đảm bảo

quyền lợi chính đáng cho người dân, giảm thất thốt lãng phí cho ngân sách Nhà

nước.

Thứ hai, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cơ sở, điều kiện để người

sử dụng đất được hưởng đầy đủ các quyền mà pháp luật ghi nhận, đặc biệt là các



quyền về chuyển quyền sử dụng đất. Theo quy định tại khoản 1 Điều 188 Luật

Đất đai năm 2013, một trong những điều kiện quan trọng để người sử dụng đất

được thực hiện các giao dịch chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế,

tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất là phải

có Giấy chứng nhận.

2.1.2. Đối tượng sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận

Theo quy định tại Điều 99 của Luật Đất đai 2013. Nhà nước cấp Giấy chứng nhận



quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho

những trường hợp sau đây:

a) Người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại

các điều 100, 101 và 102 của Luật này;

b) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ sau ngày Luật này có

hiệu lực thi hành;

c) Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng

cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người nhận

quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu

hồi nợ;

d) Người được sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành đối với tranh chấp

đất đai; theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành

án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố

cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;

đ) Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất;

e) Người sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế

xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;

g) Người mua nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;

h) Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; người

mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;



i) Người sử dụng đất tách thửa, hợp thửa; nhóm người sử dụng đất hoặc các

thành viên hộ gia đình, hai vợ chồng, tổ chức sử dụng đất chia tách, hợp nhất

quyền sử dụng đất hiện có;

k) Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất.

2.1.3. Những trường hợp không được cấp giấy chứng nhận

Tại điều 19 Nghị định 43/2014/CP quy định chi tiết bảy trường hợp

không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài

sản khác gắn liền với đất:

- Người đang quản lý, sử dụng đất nơng nghiệp thuộc quỹ đất cơng ích của

xã, phường, thị trấn.

- Người thuê, thuê lại đất của người sử dụng đất, trừ trường hợp thuê, thuê

lại đất của nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng trong khu công

nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

- Người nhận khốn đất trong các nơng trường, lâm trường, doanh nghiệp

nơng, lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng.

- Người đang sử dụng đất không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

- Người sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng đã có thơng báo

hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Tổ chức, UBND xã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất

để sử dụng vào mục đích xây dựng cơng trình cơng cộng gồm đường giao thơng,

cơng trình dẫn nước, dẫn xăng, dầu, khí; đường dây truyền tải điện, truyền dẫn

thơng tin; khu vui chơi giải trí ngồi trời; nghĩa trang, nghĩa địa khơng nhằm

mục đích kinh doanh.

- Và cuối cùng là các tổ chức, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất để

quản lý thuộc các trường hợp quy định tại điều 8 của Luật Đất đai cũng không

được cấp Giấy chứng nhận.



2.1.4. Nguyên tắc cấp giấy chứng nhận

Điều 98, Luật Đất đai năm 2013 quy định về nguyên tắc cấp giấy chứng

nhận:

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác

gắn liền với đất được cấp theo từng thửa đất. Trường hợp người sử dụng đất

đang sử dụng nhiều thửa đất nông nghiệp tại cùng một xã, phường, thị trấn mà

có u cầu thì được cấp một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu

nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất chung cho các thửa đất đó.

- Thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất, nhiều người sở hữu

chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải ghi đầy đủ tên của

những người có chung quyền sử dụng đất, người sở hữu chung nhà ở, tài sản

khác gắn liền với đất và cấp cho mỗi người 01 Giấy chứng nhận; trường hợp các

chủ sử dụng, chủ sở hữu có yêu cầu thì cấp chung một Giấy chứng nhận và trao

cho người đại diện.

- Người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất được

nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác

gắn liền với đất sau khi đã hồn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp

luật.

Trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với

đất không thuộc đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được miễn,

được ghi nợ nghĩa vụ tài chính và trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm

thì được nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài

sản khác gắn liền với đất ngay sau khi cơ quan có thẩm quyền cấp.

- Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà

ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn

liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên

chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản

khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một

người.



Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở

và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền

với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ,

tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,

quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên

chồng nếu có yêu cầu.

- Trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số

liệu ghi trên giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013 hoặc Giấy

chứng nhận đã cấp mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với

ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, khơng có tranh

chấp với những người sử dụng đất liền kề thì khi cấp hoặc cấp đổi Giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế. Người sử dụng đất không

phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch nhiều hơn nếu có.

Trường hợp đo đạc lại mà ranh giới thửa đất có thay đổi so với ranh giới

thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất và diện tích đất đo đạc thực

tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì phần diện tích

chênh lệch nhiều hơn (nếu có) được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Điều 99

của Luật Đất đai 2013.

2.1.5. Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận

Luật Đất đai quy định cấp nào có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích

sử dụng đất, thu hồi đất thì cấp đó có thẩm quyền cấp GCN. Thẩm quyền cấp GCN theo quy

định tại Điều 105 của Luật Đất đai 2013 và Điều 37 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP như

sau:



- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền

sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo; người

Việt Nam định cư ở nước ngồi, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi thực

hiện dự án đầu tư; tổ chức nước ngồi có chức năng ngoại giao.



Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ủy quyền cho cơ quan tài nguyên và môi

trường cùng cấp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở

và tài sản khác gắn liền với đất.

- Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,

quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân,

cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn

liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

- Đối với những trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận, Giấy chứng

nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu cơng trình xây dựng

mà thực hiện các quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với

đất hoặc cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà

ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu cơng trình xây dựng thì do cơ quan tài nguyên

và môi trường thực hiện theo quy định tại Đ iều 37 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP

của Chính phủ:

+ Đối với địa phương đã thành lập Văn phòng đăng ký đất đai theo quy

định tại Khoản 1 Điều 5 của Nghị định này thì Sở Tài nguyên và Môi trường cấp

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn

liền với đất cho người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đã được

cấp Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận

quyền sở hữu cơng trình xây dựng, trong các trường hợp sau:

Khi người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản thực hiện các quyền của người

sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

Cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở,

Giấy chứng nhận quyền sở hữu cơng trình xây dựng.

+ Đối với địa phương chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất đai theo quy

định tại Khoản 1 Điều 5 của Nghị định này thì việc cấp Giấy chứng nhận cho

các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này thực hiện như sau:

Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,

quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo;



người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư; tổ chức, cá nhân

nước ngoài; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi;

Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,

quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân,

cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn

liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

+ Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về các trường hợp cấp Giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với

đất khi thực hiện đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất và việc xác

nhận thay đổi vào Giấy chứng nhận đã cấp.

2.1.6. Mẫu Giấy chứng nhận

Thực hiện theo Nghị quyết số 02/2008/NQ-CP ngày 09/01/2008, Bộ Tài

ngun và Mơi trường chủ trì phối hợp với Bộ Tư pháp và các Bộ, Ngành liên

quan trình phương án sửa đổi Luật Đất đai và các Luật có liên quan đến cấp

Giấy chứng nhận theo hướng thống nhất cấp một loại Giấy chứng nhận là Giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với

đất. Đến nay việc cấp GCN đã thực hiện theo quy định của Thông tư

23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,

quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Mẫu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản

khác gắn liền với đất được ban hành kèm theo Thông tư 23/2014/TT-BTNMT

ngày 19/05/2014 quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu

nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất không thay đổi so với mẫu quy định tại

Thơng tư số 17/2009/TT-BTNMT, tuy nhiên có bổ sung thêm quy định về trang

bổ sung giấy chứng nhận.

GCN do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành theo một mẫu thống nhất

và được áp dụng trong phạm vi cả nước đối với mọi loại đất, nhà ở và tài sản

khác gắn liền với đất. Giấy chứng nhận là một tờ có bốn trang, mỗi trang có kích

thước 190mm x 265mm, có nền hoa văn trống đồng màu hồng cánh sen, gồm

các nội dung sau đây:



+ Trang 1: gồm Quốc hiệu, Quốc huy và dòng chữ "Giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất" in màu

đỏ; mục "I. Tên người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với

đất" và số phát hành Giấy chứng nhận gồm 2 chữ cái tiếng Việt và 6 chữ số, bắt

đầu từ BA 000001, được in màu đen; dấu nổi của Bộ Tài nguyên và Môi trường;

+ Trang 2: in chữ màu đen gồm mục "II. Thửa đất, nhà ở và tài sản khác

gắn liền với đất", trong đó, có các thơng tin về thửa đất, nhà ở, cơng trình xây

dựng khác, rừng sản xuất là rừng trồng, cây lâu năm và ghi chú; ngày tháng năm

ký Giấy chứng nhận và cơ quan ký cấp Giấy chứng nhận; số vào sổ cấp Giấy

chứng nhận;

+ Trang 3: in chữ màu đen gồm mục "III. Sơ đồ thửa đất, nhà ở và tài sản

khác gắn liền với đất" và mục "IV. Những thay đổi sau khi cấp Giấy chứng

nhận";

+ Trang 4: in chữ màu đen gồm nội dung tiếp theo của mục "IV. Những

thay đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận"; những vấn đề cần lưu ý đối với người

được cấp Giấy chứng nhận; mã vạch.

Trang bổ sung Giấy chứng nhận in chữ màu đen gồm dòng chữ "Trang bổ

sung Giấy chứng nhận"; số hiệu thửa đất; số phát hành Giấy chứng nhận; số vào

sổ cấp Giấy chứng nhận và mục "IV. Những thay đổi sau khi cấp Giấy chứng

nhận" như trang 4 của Giấy chứng nhận.

2.2. HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ CẤP GCN

Luật Đất đai 2013 ngày 29/11/2013 có hiệu lực thi hành ngày 01/07/2014.

Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ về sửa đổi,

bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành luật đất đai.

Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định chi

tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai

Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định về

giá đất.

Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định về

thu tiền sử dụng đất.



Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định về

thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.

Thông tư 30/2013/TT-BTNMT ngày 14/10/2013 quy định thực hiện lồng

ghép việc đo đạc lập hoặc chỉnh lý bản đồ địa chính và đăng ký, cấp Giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất,

xây dựng hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu địa chính do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên

và Môi trường ban hành.

Thông tư 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/05/2014 quy định về Giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do

Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành.

Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/05/2014 quy định về hồ sơ địa

chính.

Thơng tư 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/05/2014 quy định về bản đồ địa

chính do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành.

Thông tư 28/2014/TT-BTNMT ngày 19/05/2014 quy định về thống kê,

kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất do Bộ Tài nguyên và Môi

trường ban hành.

Thông tư 02/2015/TT-BTNMT ngày 27/01/2015 hướng dẫn Nghị định

43/2014/NĐ-CP và Nghị định 44/2014/NĐ-CP do Bộ Tài nguyên và Môi trường

ban hành.

Thông tư 07/2015/TT-BTNMT ngày 26/02/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi

trường quy định việc lập phương án sử dụng đất; lập hồ sơ ranh giới sử dụng

đất; đo đạc, lập bản đồ địa chính; xác định giá thuê đất; giao đất, cho thuê đất và

cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn

liền với đất đối với công ty nông, lâm nghiệp.

Thông tư liên tịch 14/2015/TTLT-BTNMT-BTP ngày 04/04/2015: Quy

định việc tổ chức thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử

dụng đất hoặc cho thuê đất do Bộ Tài nguyên và Mơi trường - Bộ Tư pháp ban

hành.



2.3. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC CẤP GCN QUYỀN SỬ DỤNG

ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI

ĐẤT

2.3.1. Kết quả cấp GCN trên địa bàn cả nước

a. Kết quả cấp GCN trước khi có luật đất đai 2013

Tại báo cáo 3140/BTNMT-PC: Tính đến ngày 30/6/2013, cả nước đã cấp

được 36,000 triệu GCN với tổng diện tích 20,12 triệu ha, đạt 83,2% diện tích

cần cấp GCN của cả nước, tăng 2,0% so với năm 2012. Đến nay, cả nước có 11

tỉnh cơ bản hồn thành cấp Giấy chứng nhận lần đầu cho các loại đất chính (đạt

từ 85-100 % diện tích) gồm Bình Dương, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, An

Giang, Vĩnh Long, Bạc Liêu, Đồng Nai, Quảng Trị, Hậu Giang, Cần Thơ; ngồi

ra còn có 10 tỉnh khác cơ bản hoàn thành ở hầu hết các loại đất chính gồm Lạng

Sơn, Hải Dương, Hà Nam, Hưng Yên, Quảng Bình, Đà Nẵng, Trà Vinh, Kiên

Giang, Sóc Trăng, Bà Rịa - Vũng Tàu. Song cũng còn nhiều tỉnh, thành phố có

kết quả cấp GCN ở nhiều loại đất chính còn đạt thấp (dưới 70% diện tích cần

cấp), đặc biệt là các tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thừa

Thiên Huế, Phú Yên, Gia Lai, Đăk Nông. Về tình hình cấp GCN các loại đất

chính như sau:

- Về đất ở đô thị: Cả nước đã cấp được 4.211.800 giấy với diện tích

106.200 ha, đạt 80,3%. Đã có 34 tỉnh đạt trên 85%; còn 29 tỉnh đạt dưới 85%,

trong đó 10 tỉnh đạt thấp dưới 70%.

- Về đất ở nông thôn: Cả nước đã cấp được 11.510.000 giấy với diện tích

465.900 ha, đạt 85,0%. Có 35 tỉnh đạt trên 85%, còn 28 tỉnh đạt dưới 85%; trong

đó có 9 tỉnh đạt thấp dưới 70%.

- Về đất chuyên dùng: Cả nước đã cấp được 182.131 giấy với diện tích

483.730 ha, đạt 64,0%. Có 19 tỉnh đạt trên 85%; còn 44 tỉnh đạt dưới 85%; trong

đó có 16 tỉnh đạt dưới 50%.

- Về đất sản xuất nông nghiệp: Cả nước đã cấp được 17.367.400 giấy với

diện tích 8.147.100 ha, đạt 82,9%. Còn 33 tỉnh đạt trên 85%, có 30 tỉnh đạt dưới

85%; trong đó có 12 tỉnh đạt dưới 70%.



- Về đất lâm nghiệp: Cả nước đã cấp được 1.709.900 giấy với diện tích

10.357.400 ha, đạt 86,1%. Có 20 tỉnh đạt trên 85%, có 41 tỉnh cấp đạt dưới

85%; trong đó có 25 tỉnh đạt dưới 70%.

b. Kết quả cấp GCN sau khi có luật đất đai 2013

Theo báo cáo mới nhất của Tổng cục Quản lý đất đai về tiến độ cấp GCN :

đến 30/12/2014 cả nước cấp được trên 41,6 triệu GCN với tổng diện tích 22,9

triệu ha, đạt 94,8% diện tích các loại đất đang sử dụng phải cấp GCN; 63/63

tỉnh, thành phố đã cơ bản hoàn thành cấp GCN (đạt trên 85% tổng diện tích các

loại đất cần cấp).

Kết quả cấp GGN các loại đất chính của cả nước như sau:

- Đất đô thị: Đã cấp được 5.34 triệu giấy với diện tích 0.13 triệu ha, đạt

96,7% diện tích cần cấp; trong đó có 48 tỉnh đạt trên 85%; còn 15 tỉnh đạt dưới

85% (tỉnh Bình Định đạt thấp dưới 70%).

- Đất ở nông thôn: Đã cấp được 12,92 triệu giấy với diện tích 0.52 triệu

ha, đạt 94,4% diện tích cần cấp; trong đó có 51 tỉnh đạt trên 85%, còn 12 tỉnh

đạt dưới 85% (tỉnh Ninh Thuận đạt thấp dưới 70%).

- Đất chuyện dùng: Đã cấp được 0,28 triệu giấy với diện tích 0,61 triệu

ha, đạt 84,8% diện tích cần cấp; trong đó có 34 tỉnh đạt trên 85%; còn 29 tỉnh

đạt dưới 85% (có 6 tỉnh đạt dưới 70%, gồm: lạng Sơn, Hà Nội, Bình Định,

KomTum, TP. Hồ Chí Minh, Kiên Giang).

- Đất sản xuất nông nghiệp: đã cấp được 20,178 triệu giấy với diện tích

8,84 triệu ha, đạt 90,1% diện tích cần cấp; trong đó có 52 tỉnh đạt trên 85%, còn

11 tỉnh đạt dưới 85% (khơng có tỉnh nào đạt thấp dưới 70%).

- Đất lâm nghiệp cả nước đã cấp được 1,972 triệu giấy với diện tích 12,27

triệu ha, đạt 98,1% diện tích cần cấp; trong đó có 44 tỉnh đạt trên 85%; còn 12

tỉnh đạt dưới 85% (tỉnh Hải Dương đạt dưới 70%).

Mặc dù kết quả cấp GCN chung các loại đất của cả nước đã hoàn thành

chỉ tiêu theo yêu cầu của Quốc hội và Chính phủ đề ra. Tuy nhiên, hiện nay một

số tỉnh còn một số loại đất chưa hồn thành cơ bản; một số tỉnh còn nhiều loại



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN 2. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×